Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN PHÚ NHUẬN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 424/2024/DS-ST

Ngày: 27/5/2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Minh Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nghiêm Xuân Hoàng

2/ Bà Lê Thị Thanh Dung

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Mai Như Trang – Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa: Bà Võ Nam Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án Dân sự sơ thẩm thụ lý 666/2023/TLST-DS ngày 02/10/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-DS ngày 12/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2024/QĐST-DS ngày 06/5/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S

Trụ sở: 2 N, phường V, Quận C, TP .

Đại diện ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và Khai thác tài sản Ngân hàng S – Giấy ủy quyền số 385A/2022/GUQ-PL ngày 01/3/2022.

Người đại diện ủy quyền: Ông Nguyễn Minh T – Giấy ủy quyền số 1028/2023/UQ-TGĐ ngày 14/4/2023.

Bị đơn: Ông Cao Hoài A, sinh năm: 1966

HKTT: 91 phố G, phường Đ, quận B, Tp ..

Tạm trú: Căn hộ GG- 05.40, chung cư H H, Phường I, quận P, TP .. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai của ông Nguyễn Minh T, là người đại diện ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S trình bày:

Ngày 15/10/2008, ông Cao Hoài A ký với Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng) và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng. Căn cứ vào thu nhập của ông A, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, với mục đích sử dụng cá nhân.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông A đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 151.518.397 (một trăm năm mươi mốt triệu năm trăm mười tám ngàn ba trăm chín mươi bảy) đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông A đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 128.918.545 (một trăm hai mươi tám triệu chín trăm mười tám ngàn năm trăm bốn mươi lăm) đồng. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Phần nợ còn lại ông A chưa thanh toán. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông A vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông A vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 01/5/2011 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ số dư nợ còn thiếu tại thời điểm này là 54.406.228 (năm mươi tư triệu bốn trăm lẻ sáu ngàn hai trăm hai mươi tám) đồng sang nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 3.075%/tháng (bằng với mức lãi suất trong hạn 2.05%/tháng x 150%) (Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hàng và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở việc thanh toán nhưng ông A vẫn không có thiện chí trả nợ. Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, Ngân hàng TMCP S khởi kiện bị đơn ông Cao Hoài A với yêu cầu: Buộc ông Cao Hoài A phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 27/5/2024 là 320.744.644 (ba trăm hai mươi triệu bảy trăm bốn mươi bốn ngàn sáu trăm bốn mươi bốn) đồng, trong đó nợ gốc là 54.406.228 (năm mươi tư triệu bốn trăm lẻ sáu ngàn hai trăm hai mươi tám) đồng và lãi quá hạn là 266.338.416 (hai trăm sáu mươi sáu triệu ba trăm ba mươi tám ngàn bốn trăm mười sáu) đồng. Ngoài ra ông A có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 28/5/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập cho ông Cao Hoài A để tự khai; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông A đều vắng mặt, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không tiến hành hòa giải giữa các bên đương sự được.

Tại phiên tòa:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Nguyễn Minh T trình bày: Nguyên đơn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện như đã khai trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án.

Bị đơn ông Cao Hoài A vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã làm đúng và đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn cung cấp thì nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông Cao Hoài A phải thanh toán số tiền tính đến ngày 27/5/2024 là 320.744.644 (ba trăm hai mươi triệu bảy trăm bốn mươi bốn ngàn sáu trăm bốn mươi bốn) đồng, trong đó nợ gốc là 54.406.228 (năm mươi tư triệu bốn trăm lẻ sáu ngàn hai trăm hai mươi tám) đồng và lãi quá hạn là 266.338.416 (hai trăm sáu mươi sáu triệu ba trăm ba mươi tám ngàn bốn trăm mười sáu) đồng. Ngoài ra ông A có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 27/5/2024 cho đến khi bị đơn trả hết nợ cho nguyên đơn theo mức lãi suất quá hạn hai bên thỏa thuận trong Hợp đồng thẻ tín dụng hai bên đã ký là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S có đơn yêu cầu bị đơn ông Cao Hoài A trả tiền vay từ hợp đồng dùng thẻ tín dụng còn thiếu, đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thẩm quyền: Căn cứ đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP S, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 15/10/2008 giữa Ngân hàng với ông Cao Hoài A, căn cứ kết quả xác minh của Công an P, quận P, thể hiện ông Cao Hoài A có đăng ký tạm trú tại Căn hộ GG- 05.40, chung cư H H, Phường I, quận P, TP ., hiện thực tế cư trú tại địa phương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về người tham gia tố tụng: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn về số nợ gốc 54.406.228 (năm mươi tư triệu bốn trăm lẻ sáu ngàn hai trăm hai mươi tám) đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ lời trình bày của đại diện nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: nguyên đơn và bị đơn có ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 15/10/2008 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng đính kèm. Theo đó nguyên đơn đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức là 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng cho bị đơn với mục đích tiêu dùng cá nhân. Do bị đơn ông A vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền nợ gốc 54.406.228 (năm mươi tư triệu bốn trăm lẻ sáu ngàn hai trăm hai mươi tám) đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Xét yêu cầu bị đơn trả tiền lãi quá hạn:

Ngày 01/5/2011 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn căn cứ theo quy định Điều 23 của Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng đính kèm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại). Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 luật các tổ chức tín dụng quy định “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” và Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N quy định: “Tổ chức tín dụng thực hiện cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận đối với khách hàng”. Ngoài ra tại khoản 2 Điều 22 của quyết định số 04/VBHN-NHNN của Ngân hàng N ban hành ngày 24/4/2014 đã quy định nghĩa vụ của chủ thẻ như sau: “Thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho Tổ chức phát hành thẻ các khoản phí, tiền vay và lãi phát sinh từ việc sử dụng thẻ theo đúng thỏa thuận tại hợp đồng sử dụng thẻ”.

Từ những quy định nêu trên thì việc thỏa thuận lãi quá hạn giữa nguyên đơn và bị đơn là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật. Do đó nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lãi quá hạn tính đến ngày 27/5/2024 là 266.338.416 (hai trăm sáu mươi sáu triệu ba trăm ba mươi tám ngàn bốn trăm mười sáu) đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 28/5/2024 cho đến khi trả hết nợ là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về thời hạn thanh toán: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán ngay một lần số nợ trên. Hội đồng xét xử xét thấy: Từ ngày 01/5/2011 bị đơn đã không tiếp tục thanh toán cho nguyên đơn như thỏa thuận trong Hợp đồng hai bên đã ký, việc này làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán ngay một lần khoản nợ trên là không trái quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận là 319.406.260 (ba trăm mười chín triệu bốn trăm lẻ sáu ngàn hai trăm sáu mươi) đồng. Nguyên đơn không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 1 Điều 227; khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 471, Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005;

Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S.

    Ông Cao Hoài A có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ tính đến ngày 27/5/2024 là 320.744.644 (ba trăm hai mươi triệu bảy trăm bốn mươi bốn ngàn sáu trăm bốn mươi bốn) đồng, trong đó nợ gốc là 54.406.228 (năm mươi tư triệu bốn trăm lẻ sáu ngàn hai trăm hai mươi tám) đồng và lãi quá hạn là 266.338.416 (hai trăm sáu mươi sáu triệu ba trăm ba mươi tám ngàn bốn trăm mười sáu) đồng.

    Buộc ông Cao Hoài A tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh kể từ ngày 04/5/2024 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP S theo mức lãi suất quá hạn hai bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 15/10/2008 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng đính kèm giữa Ngân hàng với ông Cao Hoài A.

    Thanh toán một lần sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  2. Về án phí:

    Ông Cao Hoài A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 16.037.232 (mười sáu triệu không trăm ba mươi bảy ngàn hai trăm ba mươi hai) đồng.

    H lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.026.000 (bảy triệu không trăm hai mươi sáu ngàn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0018635 ngày 17/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
  4. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

    Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Q.Phú Nhuận;
  • - CCTHADS Q.Phú Nhuận;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Minh Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 424/2024/DS-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 424/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger