|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Hồng Diễm Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Đặng;
2. Bà Phạm Minh Thuận.
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Nam - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 21 và 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 424/2023/TLST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 199/2025/QĐXXST-DS ngày 8 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Kim P, sinh năm 1957; địa chỉ thường trú: Tổ C, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương, có mặt.
- Bị đơn:
- Ông Trương Văn Đ, sinh năm 1952; địa chỉ: Tổ E, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1954; địa chỉ: Tổ E, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương, có mặt.
- Ông Lê Kim N, sinh năm 1959; địa chỉ: Khu phố D, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1960; địa chỉ: Tổ C, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương (đã chết).
Ngưởi kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H:
- - Bà Nguyễn Thị Kim H1, sinh năm 1985; địa chỉ: Số G, đường H, khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
- - Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ C, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
-
Theo đơn khởi kiện ngày 28/9/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lê Kim P trình bày:
Về quan hệ huyết thống: Ông H3 (sinh năm 1926, chết năm 2006) và bà N1 (sinh năm 1925, chết 1994) có 05 người con gồm: Lê Kim M (sinh năm 1951, chết năm 1998, không có chồng, con), Nguyễn Thị S (1954); Lê Kim P (1957); Lê Kim N (1959); Lê Kim C (sinh năm 1962, chết năm 2004). Bà Lê Kim C có chồng là ông Nguyễn Văn H (1960) có 02 con tên Nguyễn Thị Kim H1 (1985) và Nguyễn Văn H2 (1990). Ngoài những người con nêu trên, ông H3 và bà N1 không có con nuôi, con ngoài giá thú nào khác. Ông H3 và bà N1 chết không để lại di chúc. Ông H3 và bà N1 không có tặng cho người con nào quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 37.
Nguồn gốc của quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 37, tờ bản đồ số 46 có diện tích đo đạc thực tế là 2874,4m² tọa lạc khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương do ông P một mình tự khai phá từ năm 1980, không liên quan gì đến ông H3 và bà N1. Từ năm 1980 đến nay ông P không trực tiếp sinh sống trên đất, cũng không có xây dựng bất kỳ công trình kiến trúc, nhà ở nào trên đất, ông P có trồng khoai mì khoai lang nhưng qua thời gian đã lâu nên các cây trồng đó cũng không còn tồn tại. Ông P nộp thuế hàng năm cho nhà nước đối với thửa đất số 37 từ năm 1980 đến năm 2000, tuy nhiên ông P chỉ còn lưu giữ biên lai nộp thuế từ ngày 14/01/1990 đến ngày 20/6/1999. Ngày 13/01/2023 ông P có nộp hồ sơ đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất đối thửa đất 37 nhưng Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã B không tiếp nhận giải quyết hồ sơ đăng ký kê khai của ông P, ông P cũng không có đơn khiếu nại về vấn đề này đến cơ quan có thẩm quyền.
Ngày 23/4/2024 ông P có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với diện tích phần đất thuộc thửa đất số 10, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông P xác định thửa đất số 37 do ông trực tiếp khai phá nhưng cá bị đơn ông Đ, bà S, ông N, ông H đã chiếm đất của ông P nên khởi kiện yêu cầu như sau:
Yêu cầu Tòa án công nhận cho ông P được quyền sử dụng, quản lý diện tích phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 2874,4m² thuộc thửa số 37 tọa lạc khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Ông P yêu cầu ông Trương Văn Đ, bà Nguyễn Thị S, bà Lê Kim N và ông Nguyễn Văn H (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H là bà Nguyễn Thị Kim H1 và ông Nguyễn Văn H2) trả trả lại quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 37, thuộc tờ bản đồ số 46 tọa lạc khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương cho ông P. Cụ thể: Yêu cầu ông N trả lại diện tích phần đất diện tích đo đạc thực tế là 913,6m² thuộc thửa đất số 37, thuộc tờ bản đồ số 46 tọa lạc khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương; Yêu cầu bà S và ông Đ trả lại diện tích phần đất diện tích đo đạc thực tế là 391,5m² thuộc thửa đất số 37, thuộc tờ bản đồ số 46 tọa lạc khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương; Yêu cầu ông H (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H là bà Nguyễn Thị Kim H1 và ông Nguyễn Văn H2) trả lại diện tích phần đất diện tích đo đạc thực tế là 458,1m² thuộc thửa đất số 37, thuộc tờ bản đồ số 46 tọa lạc khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương;
-
Tại Văn bản ý kiến ngày 9/11/2023, ngày 8/5/2025, bị đơn ông Trương Văn Đ trình bày:
Ông Trương Văn Đ thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về quan hệ huyết thống. Nguồn gốc phần đất đang tranh chấp là của cha mẹ là ông Lê Văn H3, bà Nguyễn Thị N1 khai phá và quản lý sử dụng từ năm 1977. Ông H3 và bà N1 chết không để lại di chúc. Năm 1990 ông H3 và bà N1 cho các con gồm bà S (vợ ông Đ), ông N, bà C (cùng chồng là ông Nguyễn Văn H) mỗi người một phần đất, bà S được tặng cho phần đất diện tích khoảng 300m². Sau khi được tặng cho ông Đ và bà S quản lý, sử dụng đất và có trồng cây chôm chôm, cây măng cụt, cây Sầu Riêng trên đất. Việc tặng cho không có lập văn bản. Do không đủ diện tích tách thửa nên đến nay bà S, ông Đ vẫn chưa thực hiện được việc đăng ký kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nêu trên. Do đó, bị đơn ông Trương Văn Đ không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
-
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị S trình bày:
Bà S thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về quan hệ huyết thống. Nguồn gốc phần đất đang tranh chấp là của cha mẹ là ông Lê Văn H3, bà Nguyễn Thị N1 khai phá và quản lý sử dụng từ năm 1977. Ông H3 và bà N1 chết không để lại di chúc.
Năm 1990 ông H3 và bà N1 có kêu ông P, ông N, bà S, ông H, bà C ra để tặng cho như sau: ông H3 và bà N1 tặng cho ông N phần đất thuộc thửa đất số 10 (khoảng 1686m² ) và một phần đất thuộc thửa đất số 37 đo đạc thực tế là 913,6m² (nay là thửa 245, tờ bản đồ số 46). Ông H3 và bà N1 tặng cho bà S một phần diện tích đo đạc thực tế là 391,5m² thuộc một phần của thửa đất số 37. Ông H3 và bà N1 tặng cho bà C và ông H một phần diện tích đo đạc thực tế là 458,1m² thuộc một phần của thửa đất số 37. Việc tặng cho không có lập văn bản. Sau khi được cha mẹ tặng cho bà S cùng chồng là ông Trương Văn Đ trực tiếp quản lý sử dụng đất liên tục, ổn định từ năm 1990 cho đến nay và trồng cây chôm chôm, cây măng cụt, cây Sầu Riêng trên đất. Việc tặng cho không có lập văn bản. Do không đủ diện tích tách thửa nên đến nay bà S, ông Đ vẫn chưa thực hiện được việc đăng ký kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nêu trên. Do đó, bị đơn bà Nguyễn Thị S không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
-
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Lê Kim N trình bày:
Ông N thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về quan hệ huyết thống. Nguồn gốc phần đất đang tranh chấp là của cha mẹ là ông Lê Văn H3, bà Nguyễn Thị N1 khai phá và quản lý sử dụng từ năm 1977. Ông H3 và bà N1 chết không để lại di chúc.
Năm 1990 ông H3 và bà N1 cho các con gồm bà S, ông N, bà C mỗi người một phần đất, bà S được tặng cho phần đất diện tích đo đạc thực tế là 391,5m² (thuộc thửa đất số 37); bà C và ông H một phần diện tích đo đạc thực tế là 458,1m² (thuộc thửa đất số 37); ông N được tặng cho phần đất thuộc thửa đất số 10 (khoảng 1686m² ) và một phần đất thuộc thửa số 37 đo đạc thực tế là 913,6m² thuộc thửa đất số 37, thuộc tờ bản đồ số 46 tọa lạc khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Việc tặng cho chỉ thỏa thuận bằng miệng, không có lập văn bản. Sau đó ông N thực hiện đăng ký kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ số 00157 QSDĐ/1234/QĐ-UB(H) do UBND huyện B cấp ngày 7/10/1999 đứng tên hộ ông Lê Kim N đối với phần đất diện tích đo đạc thực tế là 913,6m² (nay tách thửa thành thửa 245, tờ bản đồ số 46). Từ năm 1990 đến nay là ông N trồng cây măng cụt, cây chôm chôm, cây sầu riêng, không có nộp thuế nông nghiệp. Do đó, bị đơn ông Lê Kim N không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
-
Quá trình giải quyết vụ án và tại Văn bản ý kiến ngày 6/1/2025, bị đơn ông Nguyễn Văn H và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Nguyễn Văn H – ông Nguyễn Văn H2 trình bày:
Ông H2 thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về quan hệ huyết thống. Nguồn gốc phần đất đang tranh chấp là của ông bà ngoại là ông Lê Văn H3, bà Nguyễn Thị N1 khai phá và quản lý sử dụng từ năm 1977. Ông H3 và bà N1 chết không để lại di chúc.
Năm 1990 ông H3 và bà N1 cho ba mẹ của ông H2 là bà Lê Kim C và ông Nguyễn Văn H phần đất diện tích 458,1m² (thuộc thửa đất số 37). Sau khi được tặng cho ông H và bà C quản lý, sử dụng đất và có trồng cây chôm chôm, cây măng cụt, cây Sầu Riêng trên đất, không nộp tiền thuế sử dụng đất hàng năm. Do không đủ diện tích tách thửa nên đến nay bà C và ông H vẫn chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử đất đối với diện tích nêu trên. Do đó, bị đơn ông Nguyễn Văn H và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Nguyễn Văn H – ông Nguyễn Văn H2 không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
-
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Văn H và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Nguyễn Văn H – bà Nguyễn Thị Kim H1 trình bày:
Bà H1 thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về quan hệ huyết thống. Nguồn gốc phần đất đang tranh chấp là của ông bà ngoại là ông Lê Văn H3, bà Nguyễn Thị N1 khai phá và quản lý sử dụng từ năm 1977. Ông H3 và bà N1 chết không để lại di chúc.
Năm 1990 ông H3 và bà N1 có kêu ông P, ông N, bà S, ông H, bà C ra để tặng cho như sau: ông H3 và bà N1 tặng cho ông N phần đất thuộc thửa đất số 10 (khoảng 1686m² ) và một phần đất thuộc thửa đất số 37 đo đạc thực tế là 913,6m² (nay là thửa 245, tờ bản đồ số 46). Ông H3 và bà N1 tặng cho bà S một phần diện tích đo đạc thực tế là 391,5m² thuộc một phần của thửa đất số 37. Ông H3 và bà N1 tặng cho bà C và ông H một phần diện tích đo đạc thực tế là 458,1m² thuộc một phần của thửa đất số 37. Việc tặng cho không có lập văn bản. Sau khi được tặng cho ông H và bà C, gia đình bà trực tiếp quản lý sử dụng đất liên tục, ổn định từ năm 1990 cho đến nay và trồng cây chôm chôm, cây măng cụt, cây Sầu Riêng trên đất, không nộp tiền thuế sử dụng đất hàng năm. Do không đủ diện tích tách thửa nên đến nay bà C và ông H vẫn chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử đất đối với diện tích nêu trên. Ông P khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất nhưng không có bất kỳ giấy tờ chứng cứ nào chứng minh thửa đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông P theo quy định của luật đất đai; không một văn bản nào chứng minh ông P được hưởng thừa kế hợp pháp đối với thửa đất để có quyền khởi kiện tranh chấp. Do vậy, bị đơn ông Nguyễn Văn H và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Nguyễn Văn H- bà H1 không đồng ý đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P.
Tại phiên tòa,
- - Ý kiến của nguyên đơn trình bày: Ông P thừa nhận các thông báo nộp thuế, các biên lai nộp thuế từ ngày 14/01/1990 đến ngày 20/6/1999 không thể hiện nội dung số tiền nộp thuế là nộp tiền thuế sử dụng đất cho thửa đất số 37. Ông P khai có trồng cây măng cụt, cây chôm chôm không nhớ số lượng là bao nhiêu, nhưng qua thời gian các cây đã chết rất lâu rồi nên không còn chứng cứ chứng minh. Năm 2003 ông P có đến thửa đất số 37 thấy các bị đơn bà S, ông Đ, ông N, gia đình ông H tự ý trồng cây ăn trái như chôm chôm, mặng cụt, sầu riêng và đã cắm mốc tứ cận xác định ranh, mốc giới giữa các phần diện tích mà các bị đơn đang quản lý sử dụng đối với thửa đất số 37 thì ông P có ý kiến không đồng ý. Tuy nhiên ông P không có khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai đối với việc quản lý sử dụng, canh tác trên thửa đất số 37 của các bị đơn bà S, ông Đ, ông N, gia đình ông H. Ông P đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với thửa đất số 37.
- - Ý kiến của bị đơn bà S trình bày: Bà S thống nhất nội dung trình bày của ông P về việc năm 2003 ông P có đến thửa đất số 37, có nhìn thấy bà S và ông N, gia đình ông H đã trồng cây ăn trái như chôm chôm, mặng cụt, sầu riêng... và đã cắm mốc tứ cận xác định ranh, mốc giới giữa các phần diện tích đang quản lý sử dụng thì ông P có ý kiến không đồng ý, tuy nhiên đây là tài sản ông H3 và bà N1 đã tặng cho các bị đơn nên các bị đơn được quyền quản lý sử dụng và canh tác. Bà S không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- - Ý kiến của bị đơn ông N trình bày: Phần đất thuộc thửa đất số 37 là cha mẹ tặng cho các con gồm bà S, ông N, bà C cùng chồng là ông H. Từ khi được tặng cho thì các bị đơn đã quản lý sử dụng ổn định đến nay, canh tác trồng các loại cây ăn quả, đã cắm mốc tứ cận xác định ranh, mốc giới giữa các phần diện tích đang quản lý sử dụng. Ông N không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- - Ý kiến của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Nguyễn Văn H – bà Nguyễn Thị Kim H1 trình bày: Phần đất thuộc thửa đất số 37 là ông bà ngoại tặng cho cậu, dì và cha mẹ của bà H1. Từ khi được tặng cho thì các bị đơn đã quản lý sử dụng ổn định đến nay, canh tác trồng các loại cây ăn quả, đã cắm mốc tứ cận xác định ranh, mốc giới giữa các phần diện tích đang quản lý sử dụng. Bà H1 thống nhất với toàn bộ ý kiến trình bày của ông H trong quá trình tố tụng, bà H1 không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
-
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương:
Về tố tụng: Việc thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ là đúng theo quy định, những người tham gia tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa nhận thấy: Theo Công văn số 254/TNMT-TTĐĐ ngày 17/02/2025 của Phòng Tài nguyên và môi trường thành phố B thì đối với thửa đất số thửa đất số 37, tờ bản đồ số 46 hiện chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Về nguồn gốc: Thửa đất số 37, tờ bản đồ số 46 có diện tích 2874.4m² do ông Lê Văn H3 và bà Nguyễn Thị N1 khai phá sử dụng. Sau khi, ông H3 và bà N1 chết thì các con của ông H3 và bà N1 là các ông bà Nguyễn Thị S, Lê Kim P, Lê Kim N, Lê Kim C và ông Nguyễn Văn H sử dụng. Căn cứ các Điều 207, 208, 212, 213 Bộ luật dân sự năm 2015 yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không cơ sở để chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Kim P đối với các bị đơn ông Trương Văn Đ, bà Nguyễn Thị S, ông Lê Kim N, ông Nguyễn Văn H ( người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là bà Nguyễn Thị Kim H1, ông Nguyễn Văn H2) về việc yêu cầu các bị đơn ông Trương Văn Đ, bà Nguyễn Thị S, ông Lê Kim N, ông Nguyễn Văn H ( người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là bà Nguyễn Thị Kim H1, ông Nguyễn Văn H2) trả lại quyền sử dụng đất đối với phần đất thuộc thửa số 10, tờ bản đồ số 43, đất tọa lạc tại phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
-
Về tố tụng:
- [1.1] Bị đơn ông Trương Văn Đ, người kề thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Nguyễn Văn H- ông Nguyễn Văn H2 tất cả đều có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do vậy, căn cứ quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự có tên trên.
-
[1.2] Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện:
Quá trình tham gia tố tụng, ngày 23/4/2024 nguyên đơn ông Lê Kim P có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với diện tích phần đất thuộc thửa đất số 10 (khoảng 1686m² ). Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận. Căn cứ vào khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với các yêu cầu đã rút của nguyên đơn.
-
Về nội dung:
- [2.1] Nguyên đơn ông Lê Kim P cho rằng đất tranh chấp có diện tích đo đạc thực tế là 2874,4m², tọa lạc tại khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương có nguồn gốc do ông P một mình khai phá từ năm 1980, ông P thực hiện nộp thuế quyền sử dụng đất từ năm 1980 đến năm 2000. Từ năm 1980 đến nay ông P không trực tiếp sinh sống trên đất, cũng không có xây dựng bất kỳ công trình kiến trúc, nhà ở nào trên đất, ông P có trồng khoai mì khoai lang nhưng qua thời gian đã lâu nên các cây trồng đó cũng không còn tồn tại. Đến năm 2023 ông P đi kê khai đăng ký đất nhưng không được chấp nhận, các bị đơn ông Đ, bà S, ông N, ông H chiếm đất của ông khai phá đối với thửa đất số 37 nên ông P khởi kiện yêu cầu ông Đ, bà S, ông N, ông H (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H là bà Nguyễn Thị Kim H1 và ông Nguyễn Văn H2) trả lại đất có diện tích 2874,4m² (bà S trả lại diện tích đo đạc thực tế là 391,5m², ông N trả lại diện tích đo đạc thực tế là 913,6m², ông H- người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H là bà Nguyễn Thị Kim H1 và ông Nguyễn Văn H2 trả lại diện tích phần đất diện tích đo đạc thực tế là 458,1m² ) tọa lạc tại khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương cho ông P; yêu cầu công nhận cho ông P được quyền sử dụng, quản lý diện tích phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 2874,4m² thuộc thửa số 37 tọa lạc khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
-
[2.2] Bị đơn bà Nguyễn Thị S, ông Trương Văn Đ, ông Lê Kim N, ông Nguyễn Văn H- người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H là bà Nguyễn Thị Kim H1 và ông Nguyễn Văn H2 xác định nguồn gốc phần đất thửa đất số 37 là của cha mẹ là ông Lê Văn H3, bà Nguyễn Thị N1 khai phá và quản lý sử dụng từ năm 1977. Ông H3 và bà N1 chết không để lại di chúc. Năm 1990 ông H3 và bà N1 cho các con mỗi người một phần đất diện tích đo đạc thực tế như sau: Ông N phần đất thuộc thửa đất số 10 (khoảng 1686m² ) và một phần đất thuộc thửa đất số 37 đo đạc thực tế là 913,6m² (nay là thửa 245, tờ bản đồ số 46); bà S một phần diện tích đo đạc thực tế là 391,5m² thuộc một phần của thửa đất số 37; bà C và ông H một phần diện tích đo đạc thực tế là 458,1m² thuộc một phần của thửa đất số 37. Việc tặng cho không có lập văn bản. Do không đủ diện tích tách thửa nên đến nay bà S, ông H vẫn chưa thực hiện đăng ký kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi được ông H3 và bà N1 tặng cho đất thì bà S cùng chồng là ông Trương Văn Đ, bà C cùng chồng là ông Nguyễn Văn H quản lý, sử dụng đất ổn định, cắm cột xi măng phân ranh, mốc giới rõ ràng, trồng cây chôm chôm, cây măng cụt, cây Sầu Riêng trên thửa đất số 37. Do đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không ai nộp tiền thuế sử dụng đất cho nhà nước từ năm 1990 đến nay.
Sau khi được ông H3 và bà N1 tặng cho đất thì ông N tiến hành làm thủ tục sang tên trước bạ, quản lý, sử dụng đất ổn định, cắm cột xi măng phân ranh, mốc giới rõ ràng, trồng cây chôm chôm, cây măng cụt, cây sầu riêng trên đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 37 đo đạc thực tế là 913,6m² (nay là thửa 245, tờ bản đồ số 46) tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ số 00157 QSDĐ/1234/QĐ-UB(H) do UBND huyện B cấp ngày 7/10/1999 đứng tên hộ ông Lê Kim N (tách thửa thành thửa 245, tờ bản đồ số 46). Do đó ông Đ, bà S, ông N, ông Nguyễn Văn H- người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H là bà Nguyễn Thị Kim H1 và ông Nguyễn Văn H2 không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
-
[2.3] Hội đồng xét xử xét thấy: Theo công văn số 254/TNMT-TTĐĐ ngày 17/2/2025 của Phòng Tài nguyên và Môi trường, nguồn gốc thửa đất số 37, tờ bản đồ số 46, đất tọa lạc phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương do ông Lê Văn H3 và bà Nguyễn Thị N1 khai phá năm 1977, sau khi ông H3 và bà N1 chết các con của ông H3 (chết năm 1994) và bà N1 (chết năm 2006) là các ông bà đang quản lý sử dụng trên đất gồm những ông, bà: ông Lê Kim P, ông Lê Kim N, bà Nguyễn Thị S, bà Lê Kim C cùng chồng là ông Nguyễn Văn H.
Tại công văn số 146/ĐT- QLTK ngày 11/4/2025 của Đội thuế liên tỉnh huyện Bến Cát, cơ quan thuế đã kiểm tra, rà soát hồ sơ lưu trữ cơ quan chưa tìm thấy thông tin nộp tiền thuế sử dụng đất nông nghiệp của ông Lê Kim P đối với thửa đất số 37, tờ bản đồ số 46, đất tọa lạc phường A, thửa đất số 37, tờ bản đồ số 46, đất tọa lạc phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương do chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, từ trước đến nay không có ai đóng thuế sử dụng đất nông nghiệp.
Tại biên bản xác minh ngày 20/5/2025, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố B cung cấp thông tin như sau: Qua kiểm tra, rà soát cơ sở dữ liệu hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố B không tìm thấy thông tin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 37, tờ bản đồ số 46, đất tọa lạc phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Tại Biên bản xác minh ngày 26/5/2025, Ủy ban nhân dân phường A cung cấp thông tin như sau: Trên thửa đất tranh chấp có các loại cây trồng gắn liền trên đất là các cây trồng do ông Lê Kim N, bà Nguyễn Thị S, bà Lê Kim C cùng chồng là ông Nguyễn Văn H trồng trên đất. Ông Lê Kim P không có trồng cây trồng gì gắn liền trên đất tranh chấp. Các bị đơn ông Lê Kim N, bà Nguyễn Thị S, bà Lê Kim C cùng chồng là ông Nguyễn Văn H có dùng cọc xi măng tự xác định ranh giới, mốc giới rõ ràng.
Lời khai của các đương sự không thống nhất với nhau: Nguyên đơn khai thửa đất số 37 do nguyên đơn tự khai phá một mình không liên quan gì đến cha mẹ, quản lý sử dụng từ năm 1980 đến nay, quá trình quản lý đất tranh chấp có nộp tiền thuế sử dụng đất cho nhà nước, có trồng cây nhưng qua thời gian đã chết nhưng không có tài liệu chứng cứ gì chứng minh. Các bị đơn thống nhất nguồn gốc đất tranh chấp do cha mẹ khai phá, quản lý sử dụng từ năm 1977 đến khi chết, không để lại di chúc đối với phần đất tranh chấp. Năm 1990 cha mẹ đã tặng cho miệng bà S, ông N, ông H cùng vợ là bà Lê Kim C phần đất theo diện tích đo đạc thực tế. Từ năm 1990 đến nay các bị đơn quản lý sử dụng canh tác trồng cây ăn trái trên đất, có cắm cọc xi măng xác lập ranh giới, mốc giới rõ ràng.
Từ những tài liệu, chứng cứ đã trích dẫn trên, có căn cứ xác định phần đất có diện tích 2874,4m², thuộc thửa đất số 37, tờ bản đồ số 46, đất tọa lạc phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương chưa được cấp chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định và có nguồn gốc của ông Lê Văn H3 và bà Nguyễn Thị N1 khai phá năm 1977, sau khi ông H3 và bà N1 chết các con của ông H3 và bà N1 là các ông bà đang quản lý sử dụng trên đất gồm những ông, bà: ông Lê Kim P, ông Lê Kim N, bà Nguyễn Thị S, bà Lê Kim C cùng chồng là ông Nguyễn Văn H. Phần đất tranh chấp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có ai nộp tiền thuế sử dụng đất đối với thửa đất số 37
-
[2.4] Quá trình giải quyết vụ án, ông P cho rằng phần đất có diện tích 2874,4m², thuộc thửa đất số 37, tờ bản đồ số 46, đất tọa lạc phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương là do ông P tự khai phá từ năm 1980 và đã nộp thuế từ ngày 14/01/1990 đến ngày 20/6/1999 đối với phần đất có diện tích 2874,4m², thuộc thửa đất số 37, tờ bản đồ số 46, đất tọa lạc phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương
Xét thấy, nguyên đơn ông P cho rằng đất có nguồn gốc do ông P tự khai phá từ năm 1980 nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh, ông P không tiến hành đăng ký kê khai tại thời điểm khai phá, đến năm 2023 xảy ra tranh chấp mới nộp hồ sơ kê khai và cũng không được cơ quan có thẩm quyền cấp một trong các loại giấy tờ theo quy định của pháp luật về đất đai qua các thời kỳ. Mặt khác, biên lai nộp tiền sử dụng đất từ ngày 14/01/1990 đến ngày 20/6/1999 không chứng minh được nội dung số tiền nộp là tiền thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với thửa đất số 37, tờ bản đồ số 46, đất tọa lạc phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Do vậy, ông P khởi kiện cầu ông Đ, bà S, ông N, ông Nguyễn Văn H- người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H là bà Nguyễn Thị Kim H1 và ông Nguyễn Văn H2
trả lại phần đất có diện tích 2874,4m², thuộc thửa đất số 37, tờ bản đồ số 46, đất tọa lạc phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương (yêu cầu ông Đ bà S trả lại phần đất có diện tích 391,5m², ông N trả lại phần đất có diện tích 913,6m², ông H trả lại phần đất có diện tích 458,1m² ); Yêu cầu Tòa án công nhận cho ông P được quyền sử dụng, quản lý diện tích phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 2874,4m² thuộc thửa số 37 tọa lạc khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương là không phù hợp với quy định tại các Điều 166, 236 của Bộ luật Dân sự nên không có căn cứ chấp nhận.
Từ những phân tích trên, không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- [3] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tại phiên tòa là phù hợp.
- [4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá nguyên đơn phải chịu theo quy định tại Điều 157 và 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được Tòa án chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định tại 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, do nguyên đơn đã trên 60 tuổi nên nguyên đơn được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Điều 26, 34, 35, 37, 147, 157, 165, 201, 227, 228, 266 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ các 202, 203 của Luật Đất đai; các Điều 166, 236 của Bộ luật Dân sự;
- - Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Kim P đối với các bị đơn ông Trương Văn Đ, bà Nguyễn Thị S, ông Lê Kim N, ông Nguyễn Văn H (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là bà Nguyễn Thị Kim H1, ông Nguyễn Văn H2) về việc yêu cầu các bị đơn ông Trương Văn Đ, bà Nguyễn Thị S, ông Lê Kim N, ông Nguyễn Văn H ( người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là bà Nguyễn Thị Kim H1, ông Nguyễn Văn H2) trả lại quyền sử dụng đất đối với phần đất thuộc thửa số 10, tờ bản đồ số 43, đất tọa lạc tại phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Kim P đối với các bị đơn ông Trương Văn Đ, bà Nguyễn Thị S, ông Lê Kim N, ông Nguyễn Văn H (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là bà Nguyễn Thị Kim H1, ông Nguyễn Văn H2) về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá: Ông Lê Kim P phải chịu số tiền 4.290.986 đồng (bốn triệu hai trăm chín mươi chín trăm tám mươi sáu đồng), được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp tại Tòa án (đã thực hiện xong).
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Kim P được miễn án phí.
Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hồng Diễm Phúc |
Bản án số 424/2023/TLST-DS ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 424/2023/TLST-DS
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Lê Kim P khởi kiện ông Trương Văn Đ, bà Nguyễn Thị S, ông Lê Kim N, ông Nguyễn Văn H về việc: "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
