Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 424/2023/DS-PT

Ngày: 20-11-2023.

V/v Tranh chấp hợp đồng đặt cọc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Đồng;

Các Thẩm phán: Ông Trần Quốc Vũ; bà Dương Thúy Hằng.

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Kiều Trang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thủy T, Kiểm sát viên.

Vào ngày 20 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 283/2023/TLPT-DS ngày 04 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.

Do Bản án Dân sự sơ thẩm số: 19/2023/DS-ST ngày 27 tháng 7 năm 2023, của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 345/2023/QĐ-PT ngày 20 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1983, cư trú tại: Tổ E, ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt, có ủy quyền)
  • Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị T1: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1975, cư trú tại: Khu phố F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, theo văn bản ủy quyền ngày 02-12-2022. (có mặt)
  • - Bị đơn: Bà Trần Thị K, sinh năm 1963; ông Lê Hồng T2, sinh năm 1956. Cùng cư trú tại: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt, có ủy quyền)
  • Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị K, ông Lê Hồng T2: Anh Trần Quốc T3, sinh năm 1987, cư trú tại: Số A, đường N, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, theo văn bản ủy quyền ngày 08-02-2023. (có mặt)
  • - Người kháng cáo:
    • + Chị Nguyễn Thị T1, là nguyên đơn.
    • + Bà Trần Thị K, là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T1 và người đại diện theo ủy quyền của chị T1 là ông Nguyễn Văn D trình bày:

Vào ngày 08-09-2019 (nhằm ngày 10-8-2019 âm lịch), chị Nguyễn Thị T1 đặt cọc cho vợ chồng bà Trần Thị K, ông Lê Hồng T2 số tiền 390.000.000 đồng để bà K, ông T2 chuyển nhượng cho chị T1 phần đất ngang 50 m, dài 50 m, tọa lạc tại: Tổ D, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, với giá 650.000.000 đồng (13.000.000 đồng/mét ngang), thỏa thuận trong thời hạn 06 tháng bà K, ông T2 phải làm thủ tục chuyển nhượng, có lập “Giấy đặt cọc” do chị Ngô Thị Hồng D1 viết hộ.

Đất chuyển nhượng là thửa 498, tờ bản đồ 16A, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 01201-QSDĐ405205 ngày 27-01-1997, ông Lê Hồng T2 đứng tên, nay là thửa 58, tờ bản đồ 61, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Lê Hồng T2, bà Trần Thị K cùng đứng tên, bà K nói bản chính giấy đất đang thế chấp ngân hàng nên chỉ giao cho chị T1 bản phô tô.

Khi giao nhận tiền cọc, ông T2 có mặt nhưng không ký tên vào giấy đặt cọc.

Ngày 02-4-2020, bà K đến gặp chị T1 lấy thêm 80.000.000 đồng để trả nợ ngân hàng, lấy giấy đất về sang tên, bà K có viết thêm nội dung nhận tiền vào giấy đặt cọc.

Từ khi hết hạn 06 tháng đến nay, bà K và ông T2 né tránh không làm thủ tục sang tên đất nên chị T1 khởi kiện, yêu cầu bà K, ông T2 trả lại 470.000.000 đồng tiền đặt cọc và phạt cọc 470.000.000 đồng, tổng cộng 940.000.000 đồng.

- Bị đơn bà Trần Thị K, ông Lê Hồng T2, do anh Trần Quốc T3 đại diện theo ủy quyền trình bày:

Không có việc đặt cọc mua bán đất, số tiền 390.000.000 đồng ghi trong Giấy đặt cọc là do các con của bà K vay tiền của chị T1 không trả được nên bà K ký giấy đặt cọc để nhận nợ trả thay cho các con, giấy do bên chị T1 viết sẳng nội dung.

Số tiền 80.000.000 đồng bà K nhận vào ngày 02-4-2020 là tiền lãi của số nợ 390.000.000 đồng. Bà K không đồng ý số tiền lãi đó nên sau khi viết nội dung nhận 80.000.000 đồng bà K chỉ ghi họ tên, không ký tên.

Chị T1 cho rằng thửa đất chuyển nhượng là thửa 498 nhưng qua thẩm định vào ngày 13-4-2023, cán bộ địa chính xã T xác nhận là không phải; chị T1 cho là đặt cọc mua đất nhưng giấy đặt cọc không có thông tin về thửa đất.

Vì vậy, bà K chỉ chấp nhận trả 390.000.000 đồng ghi là tiền đặt cọc, các yêu cầu khác của chị T1, bà K không chấp nhận.

Việc giao nhận tiền và lập giấy đặt cọc chỉ có bà K giao dịch với chị T1, ông T2 hoàn toàn không biết, ông T2 và bà K đã ly thân nhau trên 15 năm, số tiền bà K nhận của chị T1 không liên quan đến ông T2, ông T2 không chấp nhận liên đới trả tiền.

- Bản án Dân sự sơ thẩm số: 19/2023/DS-ST ngày 27 tháng 7 năm 2023, của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T1 đối với bà Trần Thị K, ông Lê Hồng T2.

Buộc bà Trần Thị K trả cho chị Nguyễn Thị T1 470.000.000 (bốn trăm bảy mươi triệu) đồng.

Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T1 đối với bà Trần Thị K, ông Lê Hồng T2 về yêu cầu phạt cọc số tiền 470.000.000 (bốn trăm bảy mươi triệu) đồng.

Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T1 về việc yêu cầu ông Lê Hồng T2 có trách nhiệm trả nợ.

Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bà K có trách nhiệm trả cho chị T1 số tiền 250.000 (hai trăm năm mươi nghìn) đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chậm trả; án phí; quyền kháng cáo; quyền, nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.

- Yêu cầu kháng cáo:

Ngày 11-8-2023, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T1 kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm buộc bà K, ông Tư phạt cọc 470.000.000 đồng; yêu cầu buộc ông T2 liên đới trả tiền; bản án sơ thẩm tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị T1 nên chị T1 chỉ phải chịu ½ của số tiền án phí 23.100.000 đồng.

Cùng ngày 11-8-2023, bị đơn bà Trần Thị K kháng cáo, chỉ chấp nhận trả 390.000.000 đồng đã nhận vào ngày 08-09-2019, không chấp nhận trả 80.000.000 đồng nhận vào ngày 02-4-2020 vì là tiền lãi của số tiền 390.000.000 đồng.

- Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông Nguyễn Văn D là người đại diện theo ủy quyền của chị T1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của chị T1.

Anh Trần Quốc T3 là người đại diện theo ủy quyền của bà K, ông T2, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của bà K.

- Ý kiến của Vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

  • + Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • + Về nội dung: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Thị T1 và bị đơn Trần Thị K, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy:

[1] Đơn kháng cáo của chị Nguyễn Thị T1, của bà Trần Thị K là hợp lệ, đúng theo quy định tại các Điều: 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét kháng cáo của bà Trần Thị K, không chấp nhận trả số tiền 80.000.000 đồng nhận vào ngày 02-4-2020 được ghi phía dưới Giấy đặt cọc ngày 08-09-2019, giữa chị Nguyễn Thị T1 và bà Trần Thị K, thấy rằng:

Bà K cho rằng số tiền 390.000.000 đồng nhận vào ngày 08-09-2019 không phải là tiền đặt cọc mà là tiền vay nhưng không có chứng cứ chứng minh, chị T1 không thừa nhận, trong giấy tay ghi rõ là tiền đặt cọc mua đất, khi nhận số tiền 80.000.000 đồng vào ngày 02-4-2020 bà K không ghi là tiền gì nhưng ghi phía dưới Giấy đặt cọc ngày 08-09-2019, không có nội dung nào ghi là tiền lãi và bà K cũng không có chứng cứ chứng minh là tiền lãi. Như vậy, tổng số tiền cọc bà K đã nhận là 470.000.000 đồng, Tòa án cấp sơ thẩm buộc trả 470.000.000 đồng là có căn cứ, bà K kháng cáo nhưng không có chứng cứ chứng minh.

[3] Xét kháng cáo của chị Nguyễn Thị T1, thấy rằng:

Giấy đặt cọc ngày 08-09-2019 có nội dung: “Hôm nay.........tôi tên Nguyễn Thị T1 có mua 50 m đất của bà Trần Thị K, giá tiền 13.000.000 đồng/ 01 m, đã đưa 390.000.000 đồng, thời hạn 06 tháng” không ghi thông tin thửa đất chuyển nhượng, khi xem xét thẩm định tại chỗ, chị T1 cũng không xác định được thửa đất chuyển nhượng, hai bên không thỏa thuận về việc phạt cọc; việc chuyển nhượng đất không rõ ràng, không thực hiện được là do lỗi của cả hai bên. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà K trả lại tiền chị T1 đã đặt cọc, không chấp nhận yêu cầu của chị T1 về việc phạt cọc là đúng theo quy định tại Điều 328 của Bộ luật Dân sự. Chị T1 kháng cáo yêu cầu phạt cọc là không có căn cứ.

Đối với kháng cáo của chị T1 yêu cầu buộc ông Lê Hồng T2 phải liên đới cùng bà K thực hiện nghĩa vụ trả tiền là không có căn cứ, bởi vì: Chị T1 cho rằng khi thỏa thuận đặt cọc, bà K chỉ giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản phô tô, do ông T2 đứng tên nhưng lại không yêu cầu ông T2 ký tên vào giấy đặt cọc; theo lời khai của người viết hộ giấy đặt cọc cho chị T1 là chị Ngô Thị Hồng D1 (bút lục số 54) thể hiện: Khi viết hộ giấy đặt cọc thì chị D1, chị T1, bà K ngồi tại bàn bên trong khu nhà mát, ông T2 ngồi ở phía trước khu nhà mát, ông T2 có nghe nội dung trao đổi giữa các bên hay không chị D1 không biết, quá trình thỏa thuận giữa chị T1 và bà K thì ông T2 không tham gia, không ký tên, không nhận tiền và cũng không bên nào yêu cầu ông T2 tham gia, ông T2 xác định không liên quan gì đến số tiền bà K nhận từ chị T1 là có căn cứ. Cả bà K và chị T1 không có chứng cứ chứng minh số tiền 470.000.000 đồng bà K sử dụng chung trong gia đình bà K và ông T2. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của chị T1 về việc buộc ông T2 liên đới trả tiền là có căn cứ.

Xét kháng cáo của chị T1 về án phí sơ thẩm, thấy rằng:

Theo bản án sơ thẩm nhận định, chị T1 phải chịu 23.100.000 đồng tiền án phí đối với yêu cầu không được Tòa án chấp nhận gồm án phí phần phạt cọc và án phí phần yêu cầu ông T2 liên đới trả tiền. Xét thấy, theo quy định tại khoản 4

Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì chị T1 phải chịu án phí của yêu cầu phạt cọc số tiền 470.000.000 đồng không được Tòa án chấp nhận, cụ thể 20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng, tức là 20.000.000 đồng + 4% của 70.000.000 đồng = 22.800.000 đồng.

Riêng án phí đối với yêu cầu của chị T1 về việc buộc ông T2 liên đới trả tiền, không được Tòa án chấp nhận thì pháp luật không quy định rõ nhưng yêu cầu khởi kiện của chị T1 về việc đòi số tiền đặt cọc 470.000.000 đồng đã được Tòa án chấp nhận, buộc bà K trả và buộc bà K chịu án phí nên không cần thiết phải buộc chị T1 chịu tiền án phí đối với yêu cầu liên đới, Tòa án cấp sơ thẩm buộc chị T1 chịu 300.000 đồng là không đúng. Tuy chị T1 không kháng cáo phần này nhưng yêu cầu kháng cáo chỉ chấp nhận trả ½ án phí là cao hơn nên có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của chị T1, trừ ra 300.000 đồng trong số tiền án phí sơ thẩm mà Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc chị T1 phải chịu. Vì vậy, số tiền án phí sơ thẩm chị T1 phải chịu là 22.800.000 đồng.

[4] Vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của chị T1 và bà K về số tiền đặt cọc, tiền phạt cọc và về việc không buộc ông T2 liên đới trả tiền là có căn cứ.

[5] Về nghĩa vụ chịu án phí của bà K:

Lẻ ra bà K phải chịu án phí đối với số tiền 80.000.000 đồng không chấp nhận trả cho chị T1 mà Tòa án đã buộc trả, bà K là người cao tuổi nhưng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm không nộp đơn xin miễn án phí, Tòa án cấp sơ thẩm không buộc chịu là không đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuy nhiên, trong giai đoạn xét xử phúc thẩm bà K có đơn xin miễn án phí, thuộc trường hợp được miễn theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 13 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14.

[6] Về án phí phúc thẩm:

Do yêu cầu kháng cáo của chị T1 được chấp nhận một phần nên căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, chị T1 không phải chịu.

Bà K là người cao tuổi nên được miễn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 328 của Bộ luật Dân sự; Điều 12, 13, 26, 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận phần kháng cáo của chị Nguyễn Thị T1 về yêu cầu phạt cọc; không chấp nhận phần kháng cáo của chị T1 về việc yêu cầu ông Lê Hồng T2 liên đới trả tiền.
  2. Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị K về việc không chấp nhận trả cho chị T1 số tiền 80.000.000 đồng nhận vào ngày 02-4-2020.
  3. Giữ nguyên Bản án Dân sự sơ thẩm số: 19/2023/DS-ST ngày 27 tháng 7 năm 2023, của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên phần nội dung quyết định về tranh chấp tiền đặt cọc và tiền phạt cọc như sau:
    • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T1 đối với bà Trần Thị K về việc đòi lại tiền đặt cọc. Buộc bà K phải trả cho chị T1 470.000.000 (bốn trăm bảy chục triệu) đồng theo giấy đặt cọc ghi ngày 10-8-2019 và phần bà K ghi thêm vào ngày 02-4-2020.
    • - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T1 đối với bà K về việc đòi phạt cọc số tiền 470.000.000 (bốn trăm bảy chục triệu) đồng.
    • - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T1 đối với ông Lê Hồng T2 về việc yêu cầu ông T2 liên đới với bà K trả tiền.
    • - Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
      • + Chị Nguyễn Thị T1 phải chịu 250.000 (hai trăm năm chục nghìn) đồng, ghi nhận đã nộp xong.
      • + Bà Trần Thị K phải chịu 250.000 (hai trăm năm chục nghìn) đồng, nộp trả cho chị T1.
    • Kể từ ngày chị T1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà K chưa giao trả đủ số tiền như đã nêu trên thì hàng tháng bà K còn phải trả cho chị T1 tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
  4. Chấp nhận một phần kháng cáo của chị Nguyễn Thị T1 về án phí dân sự sơ thẩm.

    Sửa Bản án Dân sự sơ thẩm số: 19/2023/DS-ST ngày 27 tháng 7 năm 2023, của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm như sau:

    • + Chị Nguyễn Thị T1 phải chịu 22.800.000 (hai mươi hai triệu tám trăm nghìn) đồng án phí đối với yêu cầu phạt cọc không được Tòa án chấp nhận, được trừ vào 20.100.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số: 0004209 ngày 13-12-2022 và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số: 0004554 ngày 11-8-2023, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Số tiền còn lại chị T1 phải nộp là 2.400.000 (hai triệu bốn trăm nghìn) đồng.
    • + Bà Trần Thị K được miễn.
  5. Về án phí phúc thẩm:
    • - Chị Nguyễn Thị T1 không phải chịu.
    • - Bà Trần Thị K được miễn.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND huyện Tân Biên;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Biên;
  • - Phòng KTNV&THA. TATTN;
  • - Các đương sự trong vụ án;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Đồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 424/2023/DS-PT ngày 20/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 424/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T- K tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger