TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 4233/2024/DS-ST
Ngày: 06 – 9 – 2024
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Cao quốc Hưng.
- Bà Nguyễn Hương Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 386/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5360/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 6598/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng N1.
Địa chỉ: Số B đường L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp ông Lê Văn N là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền 23/4/2024).
Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Hoàng O và ông Võ Hoàng V.
Cùng địa chỉ: Số C Tổ C, Ấp B, xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị V1
Địa chỉ: Số A, Tổ B, Ấp B, xã H, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 29/01/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng N1 có ông Lê Văn N là người đại diện theo ủy quyền trình bày như sau:
Ngày 08/09/2022 ông Võ Hoàng V, bà Huỳnh Thị Hoàng O và Ngân hàng N1 có ký kết Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202201003để vay số tiền 1.830.000.000đồng. Tài sản bảo đảm cho khoản vay là quyền sử dụng đất tại xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh tích 1.000, theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đấtphát hành CL 671054số vào sổ cấp GCN CH 00686UBND huyện C, Thành phố H ngày 25/05/2018Chủ tài sản là bà Phạm Thị V1. Từ ngày 08/09/2022nay, ông V bà O không thanh toán nợ cho Ngân Hàng theo cam kết trong hợp đồng tín dụng. Ngân hàng đã cử cán bộ làm việc, đôn đốc nhiều lần nhưng ông V bà O vẫn cố tình chây ỳ không trả nợ. Tổng nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 06/9/2024 là: 2.229.669.430 đồng, gồm nợ gốc 1.830.000.000, nợ lãi trong hạn 392.863.397 đồng, nợ lãi quá hạn 6.806.033 đồng.
Nay, Ngân hàng N1 yêu cầu ông Võ Hoàng V và bà Huỳnh Thị Hoàng O trả ngay toàn bộ tiền vốn gốc và tiền lãi cho Ngân hàng.
Ông V và bà O chịu tiền lãi phát sinh kể từ ngày 07/09/2024 cho đến khi trả dứt nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202201003 ngày 08/09/2022.
Nếu ông V, bà O không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất tại xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, diện tích 1.000 m², theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CL 671054, số vào sổ cấp GCN CH 00686 do UBND huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 25/05/2018 cập nhật sang tên cho bà Phạm Thị V1 ngày 25/10/2019 đã được thế chấp Theo Hợp đồng thế chấp số 6280- LCP201901949 được Phòng C chứng nhận ngày 31/10/2019, hợp đồng thế chấp đã đăng ký và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất Đai huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận đăng ký ngày 01/11/2019 để thu hồi nợ theo quy định của Pháp luật.
Trường hợp sau khi phát mãi tài sản đảm bảo vẫn không đủ thanh toán hết khoản nợ thì khách hàng ông V, bà O vẫn phải chịu trách nhiệm đối với khoản nợ còn lại.
Bị đơn bà Huỳnh Thị Hoàng O và ông Võ Hoàng V trình bày: Ông bà xác nhận có ký hợp đồng vay Ngân hàng khoản tiền như Ngân hàng trình bày, tính đến ngày 06/9/2024 còn nợ Ngân hàng số tiền: 2.229.669.430 đồng, gồm nợ gốc 1.830.000.000, nợ lãi trong hạn 392.863.397 đồng, nợ lãi quá hạn 6.806.033 đồng.
Hiện nay ông bà mất khả năng trả nợ nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị V1 vắng mặt trong quá trình tiến hành tố tụng nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức không thu thập được ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm:
- - Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã tuân thủ trình tự, thủ tục luật định nhưng đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức lưu ý về thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn Ngân hàng N1 khởi kiện bị đơn ông Võ Hoàng V và bà Huỳnh Thị Hoàng O về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, nguyên đơn Ngân hàng N1 lựa chọn Tòa án nơi Ngân hàng có chi nhánh để giải quyết vụ án. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng N1 ông Lê Văn N, bị đơn ông Võ Hoàng V và bà Huỳnh Thị Hoàng O vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị V1 vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã thực hiện thủ tục niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[3] Về yêu cầu của đương sự: Nguyên đơn Ngân hàng N1 yêu cầu bị đơn ông Võ Hoàng V và bà Huỳnh Thị Hoàng O trả tiền nợ gốc và tiền lãi tính đến ngày 06/9/2024 là 2.229.669.430 đồng, gồm nợ gốc : 1.830.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 392.863.397 đồng, nợ lãi quá hạn 6.806.033 đồng, Hội đồng xét xử nhận định:
[3.1] Về hiệu lực của Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202201003 ngày 08/9/2022: Căn cứ ý kiến trình bày của các bên đương sự, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, có đầy đủ cơ sở để xác định ngày 08/9/2022, Ngân hàng N1 có ký kết Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-201900654 với ông Võ Hoàng V và bà Huỳnh Thị Hoàng O để cho ông V, bà O vay số tiền 1.830.000.000 đồng. Xét về mặt hình thực, hợp đồng được xác lập băng văn bản, do người có thẩm quyền của Ngân hàng N1 và ông Võ Hoàng V và bà Huỳnh Thị Hoàng O tự nguyện ký kết. Về nội dung, hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, thể hiện ý chí tự nguyện của các bên khi tham gia giao dịch, phù hợp với quy định tại Điều 117, Điều 118, Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202201003 ngày 08/09/2022 có hiệu lực pháp luật.
[3.2] Xét Nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông Võ Hoàng V và bà Huỳnh Thị Hoàng O trả tiền nợ gốc 1.830.000.000 đồng, Theo Bảng kê tính lãi đến ngày 06/9/2024, bản tự khai của Ngân hàng N1 thì số tiền nợ gốc mà ông V và bà O còn phải trả cho Ngân hàng N1 là 1.830.000.000 đồng. ông V, bà O có bản khai trình bày xác nhận còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc nêu trên. Tuy nhiên do đang gặp khó khăn nên ông bà mất khả năng trả khoản nợ này. Vì vậy, yêu cầu của nguyên đơn là hoàn toàn có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc ông Võ Hoàng V và bà Huỳnh Thị Hoàng O trả số tiền nợ gốc là 1.830.000.000 đồng cho Ngân hàng N1.
[3.3]Xét Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền nợ lãi trong hạn 392.863.397 đồng, nợ lãi quá hạn 6.806.033 đồng, Hội đồng xét xử nhận định: Trong quá trình thực hiện hợp đồng, từ khi vay vốn cho đến nay ông V, bà O không thanh toán cho Ngân hàng bất kỳ khoản nợ gốc và lãi nào. Nay Ngân hàng N1 yêu cầu ông ông V, bà O trả tiền lãi là phù hợp quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.
[3.5] Ngân hàng N1 yêu cầu ông Võ Hoàng V và bà Huỳnh Thị Hoàng O thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 07/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ. Hội đồng xét xử nhận định: Xét yêu cầu của Ngân hàng N1 là đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của Ngân hàng N1 và phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.6] Xét yêu cầu của Ngân hàng N1 về việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Hội đồng xét xử nhận định: Về hiệu lực Hợp đồng thế chấp số 6280- LCP201901949 được Phòng C chứng nhận ngày 31/10/2019, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất. Xét thấy về hình thức, hợp đồng được xác lập bằng văn bản, thể hiện ý chí của các bên khi tham gia giao dịch. Nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên có hiệu lực pháp luật. Do đó có cơ sở để chấp nhận yêu cầu này của Ngân hàng.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp quy định của pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5] Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm 1 khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 117, Điều 118, Điều 119 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Luật Thi hành án dân sự;
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng N1:
Buộc ông Võ Hoàng V và bà Huỳnh Thị Hoàng O hoàn trả cho Ngân hàng N1 số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 06/9/2024 là 2.229.669.430 đồng, gồm nợ gốc 1.830.000.000đồng, nợ lãi trong hạn 392.863.397 đồng, nợ lãi quá hạn 6.806.033 đồng. Thực hiện ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngay sau khi bản án có hiệu lực thi hành, nếu ông Võ Hoàng V và bà Huỳnh Thị Hoàng O không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả tiền thì Ngân hàng N1 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất diện tích 1.000 m² và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đấtphát hành CL 671054số vào sổ cấp GCN CH 00686UBND huyện C, Thành phố H sang tên cho bà Phạm Thị V1 ngày 25/10/2019, chủ tài sản là bà Phạm Thị V1.
Trường hợp số tiền thu được từ xử lý tài sản thế chấp không đủ trả nợ thì ông Võ Hoàng V và bà Huỳnh Thị Hoàng O phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ số tiền nợ còn lại. Nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất sau khi trả nợ còn thừa thì thuộc về bà Phạm Thị V1. Nếu tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất bị quy hoạch giải tỏa thì Ngân hàng N1 được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền nhận tiền bồi thường, hỗ trợ thiệt hại (nếu có) theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ. Trường hợp số tiền bồi thường, hỗ trợ thiệt hại không đủ trả nợ thì ông Võ Hoàng V và bà Huỳnh Thị Hoàng O phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả số tiền nợ còn lại. Nếu số tiền bồi thường, hỗ trợ thiệt hại sau khi trả nợ còn thừa thì thuộc về bà Phạm Thị V1.
Kể từ ngày 07/9/2024, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trong trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Các bên thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 76.593.389 (Bảy mươi sáu triệu năm trăm chín mươi ba nghìn ba trăm tám mươi chín) đồng, ông Võ Hoàng V và bà Huỳnh Thị Hoàng O phải chịu. Hoàn trả cho Ngân hàng N1 số tiền tạm ứng án phí 36.907.375 (ba mươi sáu triệu, chín trăm linh bảy nghìn, ba trăm bảy mươi lăm) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0025281 ngày 27/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về chi phí tố tụng: Ông Võ Hoàng V và bà Huỳnh Thị Hoàng O có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng N1 số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng là chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng N1 đã nộp.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Ngọc |
Bản án số 4233/2024/DS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 4233/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
