Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 423/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30/9/2024

V/v ly hôn, tranh chấp

về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Trúc Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Vũ Quyền Lương.
  2. Ông Lê Lương Thiện.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1905/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 323/2024/QÐST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 446/2024/QÐST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

  • • Nguyên đơn: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1973.
  • Địa chỉ: H khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • • Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1966.
  • Địa chỉ: H QL51, tổ E, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • (Bà N có đơn xin vắng mặt, ông T vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 20 tháng 11 năm 1990. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng nhiều lần hòa giải với nhau nhưng không thành. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm với ông T, mâu thuẫn không thể hòa giải hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.

Về con chung: Quá trình chung sống bà và ông T có 02 con chung là Phạm Quang L, sinh năm 1993 và Phạm Quang Đ, sinh năm 1991. Ly hôn, các con chung đều đã trưởng thành trên 18 tuổi và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bà N xin xét xử vắng mặt do bận công việc.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Phạm Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến, không đến Toà án để tham gia tô tụng.

* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N, cho bà N ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà N, ông T có 02 con chung là Phạm Quang L, sinh năm 1993 và Phạm Quang Đ, sinh năm 1991. Các con chung đều đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Tòa án không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Bà N khai tự thỏa thuận, chưa lấy được ý kiến của ông T nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Bà N khai không có, chưa lấy được ý kiến của ông T nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà N phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Phạm Thị N xin ly hôn với ông Phạm Văn T. Tại văn bản xác minh ngày 30 tháng 7 năm 2024 do Công an phường L, thành phố B cung cấp thông tin thể hiện ông T hiện nay có nơi cư trú tại: 85 QL51, tổ E, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T nhưng ông T không đến Toà án để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, các phiên toà xét xử mà không có lý do. Nguyên đơn bà N có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 207, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà N, ông T.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Bà N và ông T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn và được UBND xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 20/11/1990 nên được xem là hôn nhân hợp pháp theo Điều 5, Điều 6, Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986.

Theo trình bày của bà N thì sau khi kết hôn vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu, nhưng sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau. Vợ chồng đã nhiều lần cố gắng hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng đều không có kết quả. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn đoàn tụ, bà N xin được ly hôn với ông T. Toà án đã tiến hành xác minh mâu thuẫn vợ chồng giữa bà N, ông T. Tại biên bản xác minh ngày 30 tháng 7 năm 2024, địa phương không cung cấp được thông tin mâu thuẫn vợ chồng do bà N, ông T không trình báo với địa phương.

Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T nhưng ông T vẫn không có ý kiến chứng tỏ ông T bỏ mặc, không mong muốn bảo vệ và duy trì hôn nhân với bà N. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà N, ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng. Ông T không có thiện chí hoặc biện pháp để hàn gắn gia đình, mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy, nay bà N xin ly hôn với ông T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56, Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.

[2.2] Về con chung:

Quá trình chung sống, bà N, ông T có 02 con chung là Phạm Quang L, sinh năm 1993 và Phạm Quang Đ, sinh năm 1991. Các con chung đều đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung:

Bà N trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết, chưa lấy được ý kiến của ông T nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2.4] Về nợ chung:

Bà N trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết, chưa lấy được ý kiến của ông T nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[3] Về án phí:

Bà Phạm Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà:

phù hợp với chứng cứ đã thu thập, quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Các Điều 5, Điều 6, Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986;
  • Các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Thị N, cho bà Phạm Thị N được ly hôn với ông Phạm Văn T.
  2. Về con chung: Anh Phạm Quang L, sinh năm 1993 và anh Phạm Quang Đ, sinh năm 1991 đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
  4. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
  5. Về án phí sơ thẩm: Bà Phạm Thị N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà N đã nộp theo biên lai thu số 0000452 ngày 16/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa (Bà N đã nộp xong).
  6. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Biên Hòa;
  • - THADS thành phố Biên Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Khánh Thủy,
  • huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Trần Trúc Thuỷ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 423/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 423/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Nụ ly hôn với Phạm Văn Túc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger