|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 423/2024/DS-PT Ngày: 07-8-2024 “V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và Bồi thường thiệt hại về tài sản; |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phạm Minh Tùng; |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Ngọc Thông; |
| Bà Nguyễn Thị Vĩnh. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Nguyễn Thị Được-Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 24/7 và ngày 07/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 243/2024/ TLPT-DS ngày 07 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và Bồi thường thiệt hại về tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 214/2024/DS-ST ngày 16 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 385/2024/QĐ-PT ngày 07/6/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Văn C, sinh năm 1950. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khóm A, thị trấn M, huyện T, Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1994. (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp E, xã Đ, huyện T, Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Võ Văn C: Luật sư Lê Ngọc T - Văn phòng Luật sư Lê Ngọc T Thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đ. (Có mặt)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1963. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khóm A, thị trấn M, huyện T, Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn bà Nguyễn Thị T1: Luật sư Võ Thị T2 – Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ. (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Văn T3, sinh năm 1954. (Vắng mặt)
- Nguyễn Huỳnh U, sinh năm 1989. (Vắng mặt)
- Nguyễn Thành Q, sinh năm 1991. (Vắng mặt)
- Nguyễn Thị Mỹ T4, sinh năm 2003. (Vắng mặt)
- Nguyễn Văn H, sinh năm 1954. (Vắng mặt)
- Âu Thị Kim K, sinh năm 1953. (Vắng mặt)
- Võ Thanh S, sinh năm 1980. (Vắng mặt)
- Võ Hoàng Anh M1, sinh năm 1996. (Vắng mặt)
- Võ Thị N, sinh năm 1957. (Vắng mặt)
- Đặng Công X (chết).
- Đặng Công Duy Đ, sinh năm 1981. (Vắng mặt)
- Đặng Công Quang V1, sinh năm 1983. (Vắng mặt)
- Đặng Kim Trinh N1, sinh năm 1985. (Vắng mặt)
- Đặng Thị Mai T5, sinh năm 1987. (Vắng mặt)
- Ủy ban nhân dân huyện T. (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Khóm A, thị trấn M, huyện T, Đồng Tháp.
Ông T3, anh U, Q, chị T4 ủy quyền cho bà Nguyễn Thị T1.
Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện T, Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn H: Luật sư Nguyễn Văn V – Văn phòng Luật sư Nguyễn Văn V thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ. (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện T, Đồng Tháp.
Cùng địa chỉ: Khóm A, thị trấn M, huyện T, Đồng Tháp.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tổ trụng của ông X:
Cùng địa chỉ: Khóm A, thị trấn M, huyện T, Đồng Tháp.
Đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Thanh B, chức vụ: Chủ tịch.
Địa chỉ trụ sở: Khóm C, thị trấn M, huyện T, Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Ông Võ Văn C có anh Nguyễn Văn M đại diện trình bày:
Nguồn gốc đất đang tranh chấp giữa ông C và bà T1 là do ông C nhận chuyển nhượng của ông Đặng Công X và bà Võ Thị N vào ngày 01/10/1988 (có làm Tờ giao kèo viết tay trên giấy tập học sinh) chiều ngang giáp lộ 12m, chiều ngang giáp mương lộ 18m. Cuối năm 1988, ông C cất nhà để ở chiều ngang 6,8m, chiều dài gần 20m, còn dư lại chiều ngang 4,89m, chiều dài 18m, ông C cho người cháu tên Nguyễn Thị T1 ở đậu từ năm 1989 đến nay. Phần đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Còn phần đất ông C cất nhà ở ông C đi đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 01/6/2018. Năm 2013, phát sinh tranh chấp và được Ban N2, thị trấn M hòa giải hai bên thống nhất như sau: Bà T1 thừa nhận đất bà T1 đang ở là đất của ông C, bà T1 ở đậu trên phần đất của ông C. Nếu khu vực đất bà T1 đang ở có bồi thường quy hoạch thì bà T1 trả lại cho ông C 40% giá trị đất, nếu ông C được hưởng tái định cư thì ông C sẽ trả lại cho bà T1 60% giá trị đất. Đến ngày 23/5/2019, được Ủy ban nhân dân thị trấn M hòa giải, ông C và bà T1 thống nhất: Từ ngày 23/5/2019 đến hết ngày 28/8/2020 nếu Nhà nước có quy hoạch giải tỏa, đền bù thì bà T1 có trách nhiệm trả lại cho ông C 40% giá trị tiền sử dụng đất Nhà nước đền bù theo quy định. Nếu hết ngày 28/8/2020, Nhà nước không có chủ trương quy hoạch thì ông C và bà T1 tự kêu sang nhượng phần đất trên để thực hiện theo thỏa thuận là bà T1 nhận 60% số tiền sang nhượng còn lại 40% thì ông C hưởng. Nhưng đến nay, bà T1 có những hành động và lời lẻ xúc phạm ông C, nên ông C yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T1 phải di dời nhà trả lại phần đất diện tích 88,02m² (đo đạc thực tế 114,3m²) vì phần đất này ông cho bà T1 ở nhờ theo hợp đồng dân sự về cho mượn đất ở. Ông C đồng ý hỗ trợ tiền di dời nhà cho bà T1 100.000.000 đồng. Trường hợp, Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông H buộc ông C di dời nhà trả đất, ông C yêu cầu ông H bồi thường phần tiền căn nhà cất trên đất theo giá Hội đồng định giá là 22.213.000 đồng.
Ông C có trình bày bổ sung: Nguồn gốc đất này ông H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông X vào năm 1987. Năm 1988, ông H chuyển nhượng lại cho ông C với giá 01 chỉ vàng 24kra, do chỗ cậu cháu nên ông H không làm giấy, nhiều lần ông C yêu cầu ông H làm giấy, ông H kêu ông C nói ông X làm giấy cho ông C vì nguồn gốc đất này là của ông X. Ông X viết giấy giao kèo cho ông C vào ngày 14/10/1988.
- Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ý kiến: thống nhất lời trình bày của ông C, không có ý kiến gì khác.
- Bà Nguyễn Thị T1 có anh Hồ Đăng K1 đại diện trình bày:
Nguồn gốc đất đang tranh chấp giữa bà T1 với ông C là do ông Nguyễn Văn H nhận chuyển nhượng của ông Đặng Công X và bà Võ Thị N vào năm 1987 (có làm Tờ giao kèo vào ngày 17/4/1987), diện tích ông H nhận chuyển nhượng chiều ngang 12m, chiều dài 18m. Sau khi nhận đất, ông H đào ao sâu khoảng 3m, ngang 6m để nuôi cá, phần còn lại đất thịt ông H cho ông C xây dựng nhà ở chiều ngang 6m, chiều dài 18m để ông C nuôi bà ngoại của bà T1. Năm 1988, ông H cho bà T1 luôn phần diện tích đào ao chiều ngang 6m, chiều dài 18m để bà T1 xây nhà ở. Sau đó, bà T1 thuê người san lấp ao và xây bó nền đến năm 1990, bà T1 xây dựng nhà ở kết cấu vách ván, khung gỗ, nền gạch tàu, mái tole. Nay, ông C yêu cầu bà T1 di dời nhà giao trả phần đất diện tích 88,02m², bà T1 không đồng ý, với lý do: Đất này ông H cho bà T1, không phải ông C cho bà T1 mượn ở. Đất này bà T1 ở ổn định từ năm 1990 đến nay, không ai tranh chấp. Ngoài phần đất này, gia đình bà T1 không còn phần đất nào khác để ở. Tại các lần hòa giải trước ở khóm, cũng như ở thị trấn bà T1 thừa nhận ở đậu là do bà T1 nghĩ đất của ông C, nay biết đất này của ông H nên bà T1 không đồng ý. Ngày 22/5/2023, bà T1 yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất gắn với căn nhà của bà diện tích 114,3m², thửa số 02, tờ bản đồ số 31 nằm trong phạm vi các mốc M1, M2, M3 và M4 trở về mốc M1 theo Mảnh trích đo địa chính số 08-2022 ngày 05/01/2022 của Công ty TNHH D. Đất tọa lạc tại khóm A, thị trấn M, huyện T, Đồng Tháp.
- Ông Nguyễn Văn H trình bày:
Nguồn gốc đất là do ông nhận chuyển nhượng của ông Đặng Công X vào năm 1987. Năm 1988, ông cho ông C mượn ở, việc cho mượn không làm giấy tờ chỉ thỏa thuận bằng lời nói. Năm 1989, ông cho bà T1 mượn ở. Từ khi nhận chuyển nhượng đất ông không quản lý sử dụng vì cho ông C và bà T1 ở đậu. Ông không đi đăng ký quyền sử dụng đất là do gia đình ông chưa có nhu cầu sử dụng, nay ông biết được việc ông C tranh chấp buộc bà T1 di dời nhà trả đất nên ông yêu cầu ông C phải di dời nhà trả đất cho ông vì đất này ông nhận chuyển nhượng của ông Đặng Công X và Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông C thửa số 02, tờ bản đồ số 31, diện tích 82,2m² cấp lại cho ông theo quy định. Đối với phần đất bà T1 mượn ở, ông H không yêu cầu bà T1 di dời nhà trả đất, khi nào ông H có nhu cầu sử dụng giải quyết sau.
Ngày 18/8/2023, ông H sửa đổi bổ sung nội dung yêu cầu, ông H yêu cầu ông C trả giá trị cho ông H diện tích 135,8m² theo giá đã định là 5.000.000 đồng/m² thuộc 2 thửa, thửa số 2 và thừa số 47, cùng tờ bản đồ số 31 theo Mảnh trích đo địa chính số 09 – 2023 của Công ty TNHH D ngày 11/8/2023 diện tích 135,4 x 5.000.000 đồng là 679.000.000 đồng.
- Bà Âu Thị Kim K (vợ ông H): Thống nhất lời trình bày của ông H không có ý kiến gì khác.
- Bà Võ Thị N trình bày: Bà là vợ của ông Đặng Công X. Năm 1987, bà có bán cho ông H phần đất diện tích bao nhiêu không nhớ vì do chồng bà và ông H tự đo với giá 01 chỉ vàng 24kra. Bà đã giao đất cho ông H, ông H giao đủ vàng cho bà. Ông H bán lại cho ông C diện tích bao nhiêu bà không biết, năm nào không biết, sau đó ông C cho bà T1 ở, còn ở đậu hay cho ở luôn bà không biết. Trong vụ kiện này không còn liên quan đến bà vì đất này bà đã bán rồi, bà không tranh chấp với bất kỳ ai.
- Ủy ban nhân dân huyện T có đơn xin vắng mặt, sẽ thực hiện kết quả giải quyết vụ kiện của Tòa án khi có quyết định hoặc bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn C. Công nhận phần đất diện tích 115,2m² trong phạm vi các mốc mốc M1, M2, M11, F5, M10, M9, M12, M13, F2, M1 là của ông Võ Văn C.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông C về việc yêu cầu hộ bà T1 di dời nhà trả đất diện tích 115,2m².
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà T1 về việc yêu cầu công nhận phần đất diện tích 115,2m² thuộc sở hữu hợp pháp của bà.
- Đình chỉ yêu cầu của bà T1 về việc yêu cầu ông C trả chi phí tôn tạo đất là 1,5 lượng vàng 24kra và 250.000.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn H về việc yêu cầu ông C trả giá trị đấ diện tích 135,4m² do ông C đang quản lý sử dụng.
Giao phần đất diện tích 115,2m² trong phạm vi các mốc mốc M1, M2, M11, F5, M10, M9, M12, M13, F2, M1 cho hộ bà T1 đi đăng ý quyền sử dụng đất theo quy định. Buộc hộ bà T1 gồm: bà T1, ông T1, chị U, anh Q và chị T4 trả cho ông C giá trị quyền sử dụng đất số tiền 1.109.952.000 đồng (Một tỷ một trăm lẻ chín triệu chín trăm năm mươi hai nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông C mà bà hộ bà T1 chưa thi hành xong số tiền trên, thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi chậm trả bằng 50% mức lãi suất theo quy định tại Khoản 1, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian chưa thi hành án đến khi thi hành án xong.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí và tuyên về thời hạn kháng cáo.
4. Sau khi xét xử sơ thẩm:
- Ông Võ Văn C kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng, trường hợp bà T1 không có đất ở thì ông C đồng ý cho bà T1 ở với phần đất có chiều ngang 4,5m, chiều dài hết đất nhưng bà T1 phải trả lại tiền giá trị đất theo như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và đồng thời phải trả lại phần diện tích đất còn lại cho ông C, lý do là ông C có phần đất liền kề với phần đất bà T1 đang tranh chấp.
- Bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn T3, chị Nguyễn Huỳnh U, anh Nguyễn Thành Q, chị Nguyễn Thị Mỹ T4 kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu của bà T3, ông T3 để gia đình bà T3, ông T3 được tiếp tục sử dụng phần đất tranh chấp và được đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật và không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông C.
- Ông Nguyễn Văn H, bà Âu Thị Kim K kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H, bà T3, yêu cầu ông C phải trả lại cho ông H, bà K phần giá trị đất mà ông C đang đứng tên theo giá đất cây lâu năm của Chứng thư thẩm định giá là 1.007.376.000 đồng.
5. Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện theo ủy quyền của ông Võ Văn C rút lại toàn bộ kháng cáo.
- Hộ bà Nguyễn Thị T1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đồng thời bà T1 cho rằng phần đất tranh chấp chỉ có 88 m² chứ không phải 115,2 m² vì trong đó phần 27,2 m² là phần bà cơi nới làm sàn bơm cát vô thêm không nằm trong diện tích đất tranh chấp. Về phần xác định loại đất tranh chấp thì bà cho rằng đất tranh chấp là loại đất trồng cây lâu năm chứ không phải đất thổ như án sơ thẩm đã tuyên. Bà không thống nhất với giá đất mà cấp sơ thẩm đã tuyên. Đề nghị Hội đồng xét xử thẩm định lại đất và định giá lại đất tranh chấp.
- Hộ ông Nguyễn Văn H vẫn giữ nguyên kháng cáo, yêu cầu hộ ông Võ Văn C phải trả lại cho ông H, bà K phần giá trị đất mà ông C đang đứng tên theo giá đất cây lâu năm của Chứng thư thẩm định giá là 1.007.376.000 đồng.
- Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ông Võ Văn C phát biểu quan điểm:
- Việc mua bán đất giữa ông Võ Văn C với ông Nguyễn Văn H là có thật. Việc này khi hai bên mua bán thì do nguồn gốc đất này là của ông Đặng Công X và bà Võ Thị N nên có làm hợp đồng mua bán giấy tay với ông X, bà N. Giấy tay này được ông X và bà N thừa nhận.
- Quá trình sử dụng đất phía ông C đã đăng ký kê khai đất và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đang tranh chấp với ông Nguyễn Văn H. Phía ông H đã biết cũng không có khiếu nại hay tranh chấp.
- Về phần đất đang tranh chấp với bà Nguyễn Thị T1 thì quá trình giải quyết vụ án bà T1 thừa nhận phần đất này là phần bà T1 mượn để ở, thể hiện qua các biên bản giải quyết vụ việc từ năm 2013 đến năm 2020. Ông H cũng không có ý kiến gì về phần tranh chấp này.
Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị T1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H, giữ y theo bản án sơ thẩm đã tuyên.
- Luật sư bảo vệ quyền lợi ích cho bà Nguyễn Thị T1 trình bày:
- Phần đất tranh chấp chỉ có 88 m² chứ không phải 115,2 m² vì trong đó phần 27,2 m² là phần bà cơi nới làm sàn bơm cát vô thêm không nằm trong diện tích đất tranh chấp.
- Về phần xác định loại đất tranh chấp thì bà cho rằng đất tranh chấp là loại đất trồng cây lâu năm chứ không phải đất thổ như án sơ thẩm đã tuyên.
- Về nguồn gốc đất tranh chấp thì phần đất này là của ông Nguyễn Văn H mua của ông X và bà N chứ không phải của ông C. Việc tranh chấp trước đây do bà không biết đất trên anh của bà là ông H mua của ông X nên có thỏa thuận với ông C.
- Trường hợp Tòa án xác định đất của ông C thì bà chỉ đồng ý trả giá trị đất với diện tích 88 m² và trả theo giá đất là cây lâu năm chứ không phải đất thổ.
- Về tố tụng: Đề nghị Hội đồng xét xử dừng phiên tòa để thực hiện lại việc đo đạc và định giá lại đất, đồng thời tại phiên tòa ngày 07/8/2024 do bà T1 bị bệnh không đến phiên tòa nên đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa.
- Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông H ý kiến: Nguồn gốc đất là do ông H nhận chuyển nhượng đất của ông Đặng Công X vào năm 1987 chiều ngang 12m, chiều dài 18m giá 20.000 đồng có làm giấy tay, đã thanh toán tiền xong. Năm 1988, ông H cho ông C cất nhà ở nhờ trên diện tích như hiện nay để nuôi bà ngoại. Năm 1989, ông H cho bà T1 ở tạm. Năm 1992, bà ngoại mất ông C không trả đất, năm 1999 ông H ra nhà yêu cầu ông C trả đất, ông C không đồng ý cho rằng ông C ở trên 10 năm, thì thuộc quyền sử dụng của ông C nên xảy ra cự cải thách thức đi thưa. Năm 2021, ông C thưa bà T1 phát hiện ông H có giấy mua bán đất với ông X nên đưa ông H vô tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Ông H yêu cầu ông C di dời nhà trả đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông C đứng tên. Tuy nhiên, do ông C ở trên phần đất này đã lâu nên đồng ý cho ông C tiếp tục ở nhưng phải trả giá trị cho ông H giá 5.000.000đ/1m², tổng cộng với số tiền 1.007.376.000 đồng. Còn việc ông C cho rằng nhận chuyển nhượng đất của ông H vào ngày 01/10/1988 với giá 01 chỉ vàng 24kra là hoàn toàn không có. Đối với bà T1 thì ông H không yêu cầu trong vụ kiện này mà thỏa thuận riêng.
- Về tố tụng: Đề nghị Hội đồng xét xử dừng phiên tòa để thực hiện lại việc đo đạc và định giá lại đất, đồng thời tại phiên tòa ngày 07/8/2024 do bà K vợ ông H bị bệnh ông H phải đi chăm không đến phiên tòa nên đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Tỉnh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm.
Đối với ông Võ Văn C đã rút kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu kháng cáo của ông Võ Văn C.
Về nội dung: Đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của hộ bà Nguyễn Thị T1 và hộ ông Nguyễn Văn H. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 214/2024/DSST ngày 16-11-2023 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu bị đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nên việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp quyền sử dụng đất; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và Bồi thường thiệt hại về tài sản” là phù hợp với quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm nên có kháng cáo. Tòa án T6 thụ lý giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với người tham gia tố tụng là bà Nguyễn Thị T1 và ông Nguyễn Văn H, bà Âu Thị Kim K tham gia đầy đủ tại phiên tòa ngày 24/7/2024. Tại phiên tòa ngày 24/7/2024, Hội đồng xét xử đã nghe lời trình bày kháng cáo của các đương sự đầy đủ, người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã hỏi, thẩm định chứng cứ đầy đủ các vấn đề liên quan đến vụ án cũng như kháng cáo của đương sự, do hết thời gian làm việc nên Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa và ấn định thời gian mở phiên tòa vào ngày 07/8/2024. Tại phiên tòa ngày 07/8/2024, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án không phát sinh thêm tình tiết hay tài liệu chứng cứ mới. Bà T1 và bà K không đến dự phiên tòa nhưng không làm đơn xin hoãn gởi trước ngày 07/8 mà có luật sư bảo vệ quyển và lợi ích hợp pháp của bà T1, bà K đến dự phiên nói hai bà bị bệnh không dự phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Đối với nguyên đơn Võ Văn C có yêu cầu kháng cáo, tuy nhiên tại cấp phúc thẩm đã rút lại toàn bộ kháng cáo nên Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu kháng cáo của ông Võ Văn C.
[2] Về nội dung:
2.1. Nguồn gốc đất tranh chấp các bên đương sự đều thống nhất là của ông Đặng Công X và bà Võ Thị N. Ông C cho rằng, năm 1987, ông H nhận chuyển nhượng đất của ông Đặng Công X, năm 1988, ông H chuyển nhượng lại cho cho C, việc chuyển nhượng giữa ông C và ông H không làm giấy tờ, ông H kêu ông C liên hệ ông X làm giấy cho ông C vì nguồn gốc đất này là của ông X. Còn ông H không thừa nhận, ông H cho rằng đất này là ông nhận chuyển nhượng của ông X, ông cho ông C và bà T1 mượn ở.
2.2. Về quá trình sử dụng:
Phần đất tranh chấp giữa ông C với bà T1 diện tích 115,2m² trong phạm vi các mốc M1, M2, M11, F5, M10, M9, M12, M13, F2, M1 do hộ bà T1 gồm: ông T1, chị U, anh Q và chị T4 đang quản lý sử dụng. Gắn liền với phần đất tranh chấp có một căn nhà của bà T1: Hiện trạng nhà chính: Nhà gỗ nhóm 3, mái lợp fibrociment, nền lót gạch tàu (năm XD 1990). Mái hiên trước: Mái tôn kẽm sóng vuông, đòn tay thép. Mái hiên hông: Mái tôn kẽm sóng vuông + tol giả ngói, đòn tay thép. Phòng ở phía sau: Nhà liền kề cấp 4, sàn bê tông trên cọc BTCT, cửa nhôm, mái tôn sóng vuông (năm XD 2000).
Phần đất tranh chấp giữa ông H và ông C diện tích 135,4m² trong phạm vi các mốc M3, M4, M5, M6, F10, M7, M8, M9, M10, F5, M11, M2 về M3 do ông C đang quản lý sử dụng. Căn nhà của ông C: Hiện trạng nhà chính: Nhà dưới cấp 4, mái lợp tol, valcj tole, nền lót bông, cửa sắt, la phông thạch cao (xây dựng năm 1989, sửa năm 2016). Hiện trạng nhà sau: Nhà sàn dưới cấp 4, sàn gỗ, mái tole.
2.3. Quá trình kê khai đăng ký quyền sử dụng đất:
Ngày 02/02/2017, ông C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 4024, diện tích 97,8m², tờ bản đồ số 2. Nguồn gốc kê khai nhận chuyển nhượng đất của ông Đặng Công X năm 1988. Khi xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có đo đạc khảo sát thực tế có bà T1 và ông H1 xác định ranh. Do con ông C thiếu nợ của bà Nguyễn Thanh H2, nên Ngày 16/02/2017, ông C chuyển nhượng đất cho bà Nguyễn Thanh H2 diện tích 97,8m² thửa 4024, bà H2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 13/3/2017. Ngày 24/8/2017, ông C có tiền chuộc đất nên bà Nguyễn Thanh H2 chuyển nhượng lại cho ông Võ Văn C thửa 4024, diện tích 97,8m². Ngày 19/11/2019, ông C được cấp đổi chính quy thửa số 02, tờ bản đồ số 31, diện tích 82,2m² loại đất trồng cây lâu năm. Do đó, ông C là người được Nhà nước công nhận có quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất số 02, diện tích 82,2m², tờ bản đồ 31. Đất tọa lạc khóm A, thị trấn M, huyện T, Đồng Tháp.
2.4. Căn cứ vào Mảnh trích đo địa chính số 09 – 2023 của Công ty TNHH D ngày 11/8/2023, tại buổi xem xét thẩm định tại chỗ có mặt đầy đủ các đương sự, người chủ sử dụng đất liền kề với thửa đất tranh chấp, xác định ranh và diện tích đất tranh chấp thực tế. Quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự không có khiếu nại về kết quả thẩm định, đoa đạc. Do đó, Tòa án căn cứ vào kết quả đo đạc này để làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại Điều 101 của BLTTDS.
2.5. Về phần định giá đất tranh chấp: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có định giá đất tranh chấp và các bên cũng có cung cấp giá tài sản tranh chấp. Đến ngày 09/10/2023 các bên đương sự có biên bản thỏa thuận giá đất và tài sản tranh chấp. Biên bản này dựa trên sự tự thỏa thuận của đương sự và phù hợp pháp luật. Do đó, Tòa án căn cứ thỏa thuận giá này để xác định giá tài sản tranh chấp là phù hợp.
2.6. Đối với phần đất tranh chấp diện tích 115,2m² hộ bà T1 đang quản lý sử dụng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Căn cứ vào Điều 3, Nghị định 143/2014/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017. “Việc xác định loại đất ...... được xác định theo hiện trạng đang sử dụng”. Phần đất đang tranh chấp bà T1 đang sử dụng vào mục đích cất nhà ở, không trồng cây trên đất nên xác định là đất ở đô thị là phù hợp.
2.7. Xét yêu cầu của ông C cho thấy: Việc ông H nhận chuyển nhượng đất của ông Đặng Công X, bà Võ Thị N vào năm 1987, sau đó chuyển nhượng lại cho ông Võ Văn C vào năm 1988 là có thật. Năm 2013, ông C và bà T1 phát sinh tranh chấp, bà T1 biết đây là đất của ông C, không phải của ông H nên tại lần hòa giải của Ban nhân dân khóm 1 ngày 19 tháng 6 năm 2013, bà T1 thừa nhận là bà ở đậu trên phần đất của ông C và tại lần Hòa giải cơ sở của Ủy ban nhân dân thị trấn M ngày 23 tháng 5 năm 2019, bà T1 đồng ý thỏa thuận từ ngày 23 tháng 5 năm 2019 đến ngày 28 tháng 8 năm 2020 Nhà nước có quy hạch thu hồi đất ở của bà T1, thì bà T1 trả cho ông C 40% giá trị tiền bồi thường, nếu hết ngày 28 tháng 8 năm 2020 Nhà nước không thu hồi thì ông C, bà T1 bán đất, ông C nhận 40%, bà T1 nhận 60% giá trị chuyển nhượng. Việc ông C thống nhất thỏa thuận cho bà T1 nhận 60% giá trị là vì trong quá trình ông C cho bà T1 ở nhờ thì bà T1 là người có công bồi đắp, gìn giữ đất và ngoài chỗ ở này bà T1 không có chỗ ở nào khác. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại bà T1 không thực hiện theo thỏa thuận nên ông C khởi kiện ra Tòa. Hơn nữa, năm 2017 ông C đăng ký quyền sử dụng đất có ghi nội dung kê khai là đất nhận chuyển nhượng của ông X năm 1988, khi Ủy ban cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C có đo đạc, khảo sát thực tế bà T1 và ông H1 là người ký giáp ranh phù hợp theo quy định của pháp luật. Do đó, khẳng định rằng phần đất tranh chấp này là của ông C chuyển nhượng.
2.8. Đối với hộ bà Nguyễn Thị T1 cho rằng vào năm 1988, ông H cho bà T1 phần đất diện tích đào ao chiều ngang 6m, chiều dài 18m để bà T1 xây nhà ở. Sau đó, bà T1 thuê người san lấp ao và xây bó nền đến năm 1990, bà T1 xây dựng nhà ở kết cấu vách ván, khung gỗ, nền gạch tàu, mái tole. Năm 2013, giữa bà T1 và ông C tranh chấp, bà T1 nghĩ đất đó là của ông C nên bà T1 thừa nhận ở đậu nhưng nay biết rõ đất này của ông H nhận chuyển nhượng của ông X, nên không đồng ý trả cho ông C. Bà T1 yêu cầu Tòa án công nhận phần đất diện tích 115,2m² thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà vì bà đã ở và quản lý từ năm 1990 đến nay không ai tranh chấp và yêu cầu công tôn tạo từ năm 1990 đến nay là 1,5 lượng vàng 24 kra và 250.000.000 đồng. Lời trình bày này là không có cơ sở bởi lẽ: Năm 2013 và năm 2019, bà T1 thừa nhận là đất của ông C, nay lại cho rằng là đất của ông H cho bà mượn ở là hoàn toàn không phù hợp. Hơn nữa, nếu ông H cho bà và ông C mượn thì khi ông C đăng ký, nhà nước thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà không thông báo cho ông H biết để ngăn cản, mà bà lại ký tên giáp ranh để ông C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Tuy nhiên, bà T1 đã sử dụng đất từ trước đến nay, không có chỗ ở nào khác nên tiếp tục giao cho bà T1 quản lý sử dụng, bà T1 có trách nhiệm trả giá trị cho ông C theo giá thỏa thuận ngày 09 tháng 10 năm 2023.
Về phần yêu cầu giải quyết công tôn tạo 250.000.000 đồng phía hộ bà Nguyễn Thị T1 đã rút lại yêu cầu tại cấp sơ thẩm và đã đình chỉ yêu cầu này nên không xem xét.
2.9. Đối với ông Nguyễn Văn H yêu ông C có trách nhiệm trả lại cho ông giá trị quyền sử dụng đất diện tích 135,4m² (trong đó có diện tích 82,1m² ông C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phần đất diện tích 53,3m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) theo giá các bên thỏa thuận vì đây là phần đất ông nhận chuyển nhượng của ông X, bà N vào năm 1987 với giá 20.000 đồng. Việc mua bán có làm Tờ giao kèo do chính ông X viết, bà N ký tên. Lời trình bày này của ông H là chưa phù hợp bởi lẽ: Ông cho rằng nhận chuyển nhượng vào năm 1987, đến năm 1993 Nhà nước có chủ trương kê khai đăng ký quyền sử dụng đất theo Luật đất đai, ông không đi kê khai và cũng không quản lý sử dụng, mà để thời gian dài đến năm 2017 ông C kê khai và được Ủy ban nhân huyện T cấp giấy chứng nhận QSD đất. Căn cứ vào Công văn số 2035/UBND-NC ngày 22 tháng 3 năm 2023 của Ủy ban nhân huyện T xác định: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C đảm bảo đúng trình tự thủ tục theo quy định tại thời điểm cấp giấy. Do đó, căn cứ vào nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất cũng như quá trình kê khai để được đứng tên quyền sử dụng đất của ông C là phù hợp pháp luật. Căn cứ vào Công văn số 2121/UBND-NC ngày 25 tháng 4 năm 2022 của Ủy ban nhân dân huyện T xác định: Phần đất tranh chấp diện tích 115,2m² thuộc thửa số 01 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không nằm trong quy hoạch. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải đảm bảo đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
Đối với Tờ giao kèo ngày 01/10/1988, ông C giao nộp cho Tòa án. Ông H cho rằng là chứng cứ giả, nhưng ông không yêu cầu giám định chữ viết, chữ ký của ông X, bà N trong Tờ giao kèo, Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của hộ bà Nguyễn Thị T1 và hộ ông Nguyễn Văn H.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 214/2023/DS-ST ngày 16/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.
[3]. Về trình bày của đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích đương sự:
- Xét lời trình bày của đại diện của nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là có căn cứ và phù hợp với nhận định tại mục [2] nên chấp nhận.
- Xét lời trình bày của bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là không có căn cứ và chưa phù hợp với nhận định tại mục [1] và [2] nên không chấp nhận.
- Xét lời trình bày của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là không có căn cứ và chưa phù hợp với nhận định tại mục [1] và [2] nên không chấp nhận.
[4] Xét lời trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Đồng Tháp yêu cầu Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của hộ bà Nguyễn Thị T1 và hộ ông Nguyễn Văn H là có căn cứ.
[5]. Về phần án phí phúc thẩm:
- Do ông Võ Văn C; bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn T3; ông Nguyễn Văn H và bà Âu Thị Kim K thuộc diện người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
- Anh Nguyễn Thành Q, Nguyễn Quỳnh U1 và chị Nguyễn Thị Mỹ T4 phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 26, khoản 1 Điều 38; Điều 148, khoản 1 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 48- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
- Đình chỉ yêu cầu kháng cáo của ông Võ Văn C.
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của hộ bà Nguyễn Thị T1 gồm: Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn T3, chị Nguyễn Huỳnh U, anh Nguyễn Thành Q, chị Nguyễn Thị Mỹ T4.
- Giữ nguyên quyết định của bản án dân sự sơ thẩm số 214/2024/DS-ST ngày 16 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười;
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn C. Công nhận phần đất diện tích 115,2m² trong phạm vi các mốc mốc M1, M2, M11, F5, M10, M9, M12, M13, F2, M1 là của ông Võ Văn C.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông C về việc yêu cầu hộ bà T3 di dời nhà trả đất diện tích 115,2m².
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà T3 về việc yêu cầu công nhận phần đất diện tích 115,2m² thuộc sở hữu hợp pháp của bà.
- Đình chỉ yêu cầu của bà T3 về việc yêu cầu ông C trả chi phí tôn tạo đất là 1,5 lượng vàng 24kra và 250.000.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn H về việc yêu cầu ông C trả giá trị đấ diện tích 135,4m² do ông C đang quản lý sử dụng.
- Về chi phí tố tụng:
- Về án phí:
- Về án phí phúc thẩm:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của hộ ông Nguyễn Văn H gồm: ông Nguyễn Văn H, bà Âu Thị Kim K.
* Tuyên xử:
Giao phần đất diện tích 115,2m² trong phạm vi các mốc mốc M1, M2, M11, F5, M10, M9, M12, M13, F2, M1 cho hộ bà T3 đi đăng ý quyền sử dụng đất theo quy định. Buộc hộ bà T3 gồm: bà T3, ông T3, chị U, anh Q và chị T4 trả cho ông C giá trị quyền sử dụng đất số tiền 1.109.952.000 đồng (Một tỷ một trăm lẻ chín triệu chín trăm năm mươi hai nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông C mà bà hộ bà T3 chưa thi hành xong số tiền trên, thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi chậm trả bằng 50% mức lãi suất theo quy định tại Khoản 1, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian chưa thi hành án đến khi thi hành án xong.
(Kèm theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/4/2021, Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 20/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười; Mảnh trích đo địa chính số 09-2023 ngày 11/8/2023 của Công ty TNHH D).
Hộ bà T3 có trách nhiệm trả lại cho ông C số tiền xem xét thẩm định tại chỗ 2.650.000 đồng (Hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
- Do bà Nguyễn Thị T1 trên 60 tuổi thuộc diện người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết 326//2016/UBTVQH14 ngày 16/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Do ông Nguyễn Văn H trên 60 tuổi thuộc diện người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết 326//2016/UBTVQH14 ngày 16/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
+ Do ông Võ Văn C; bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn T3; ông Nguyễn Văn H và bà Âu Thị Kim K thuộc diện người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
+ Anh Nguyễn Thành Q, Nguyễn Quỳnh U1 và chị Nguyễn Thị Mỹ T4 phải chịu mỗi người 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai của Chi cục Thi hành án huyện Tháp Mười như sau: Biên lai số 0002656 ngày 28/11/2023 (Quyền); Biên lai số 0002655 ngày 28/11/2023 (Uyển) và Biên lai 0002657 ngày 28/11/2023 (T4). Anh Q, U1 và chị T4 không phải nộp thêm.
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Tùng |
Bản án số 423/2024/DS-PT ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp quyền sử dụng đất; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại về tài sản
- Số bản án: 423/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và Bồi thường thiệt hại về tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: .
