Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 423/2024/HS-PT

Ngày 06 - 9 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Quang;

Các Thẩm phán:

Ông Vũ Thế Phương;

Bà Đinh Thị Kiều Lương

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Ông Trìu A Sám - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 315/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Bạch Vũ; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 140/2024/HS-ST ngày 17-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.

Bị cáo có kháng cáo: Bạch V, sinh năm 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: Số A đường G, Khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi sinh sống: Tổ A, Ấp L, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bạch Tùng L (đã chết) và bà Lê Thị Lệ P; bị cáo là con thứ nhất trong gia đình, chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • + Ngày 07/11/2016, bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức ra Quyết định số: 554 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đã chấp hành xong vào ngày 10/4/2018.
  • + Ngày 09/4/2019, bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức ra Quyết định số 114 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng, đã chấp hành xong vào ngày 23/10/2020.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính:

Vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 19/12/2023, Bạch V cùng Phạm Ngọc Mỹ H (sinh năm 1984) và Huỳnh Văn T (sinh năm 1982) và Lê Minh Chí H1 (sinh năm 1997) tổ chức uống rượu với nhau tại nhà H1 ở ấp L, xã L, huyện N. Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày, V và H1 xảy ra mâu thuẫn cãi nhau, V dùng tay đánh H1 thì được H và T can ngăn. V tiếp tục chửi H1 thì H1 vào nhà lấy 01 cây gậy dũ 03 khúc bằng sắt dài 60cm đánh 01 cái vào đầu V, V bị H1 đánh nên V lấy 01 cái chén bằng sứ trên bàn tiệc ném và dùng chân đạp vào cửa kính nhà anh H1 làm bể 02 tấm kính. Rồi V tiếp tục dùng chân đạp làm ngã xe mô tô biển số 68T1-253.11 của chị Phạm Thị Mỹ H2 làm bể ốp chắn gió trước và ốp hông sau bên phải của xe thì được người dân can ngăn đồng thời trình báo Công an xã L lập hồ sơ ban đầu và chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N để thụ lý theo thẩm quyền.

Tại kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 04/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện N kết luận: 1,8 m² tấm kính thường loại mờ ô ly, dày 05 ly có giá trị 400.500 đồng; 01 chén sứ trị giá 8.000đồng; 01 ốp chắn gió trước bên phải có dán tem nhãn hiệu Honda, loại dùng cho xe Air Blade trị giá 2.500.000 đồng; ốp hông sau bên phải có dán tem nhãn hiệu Honda, loại dùng cho xe Air Blade trị giá 700.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 3.608.500 đồng (ba triệu sáu trăm lẻ tám ngàn năm trăm đồng).

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 0126/KLTTCT-TTPYĐN ngày 16/02/2024 kết luận Bạch V có thương tích như sau:

  • - Các kết quả chính: Sẹo đỉnh phải (trán đỉnh phải) kích thước 04x0,3cm,
  • - Kết luận: tỷ lệ: 02%.

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bạch V – 1995 tại thời điểm giám định là 02%.

  • - Kết luận khác: Vật gây thương tích, vật tày.

2. Quyết định của cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 140/2024/HS-ST ngày 17-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố bị cáo Bạch V phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt bị cáo Bạch V 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày người bị kết án Bạch Vũ vào cơ sở giam giữ chấp hành án phạt tù.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.

3. Kháng cáo:

Trong thời hạn luật định, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

4. Quan điểm của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Về tội danh:
  • Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

  • - Về kháng cáo và hình phạt:
  • Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng nhiều lần bị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng không lấy đó làm bài học lại tiếp tục phạm tội; mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp không nặng như kháng cáo đã nêu. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng

Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung

2.1. Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nhận định, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội phạm; Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

2.2. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
  • + Tại cấp sơ thẩm: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin bãi nại là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

    + Tại cấp phúc thẩm: Bị cáo cung cấp Giấy xác nhận thông tin nơi cư trú thể hiện nơi ở hiện tại: Tổ A, ấp L, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

2.3. Về kháng cáo và hình phạt:

Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tuy nhiên, nhân thân bị cáo là người nghiện ma túy, đã nhiều lần bị Tòa án đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức hình phạt 06 tháng tù ở mức khởi điểm của khung hình phạt bị cáo bị truy tố là đã xem xét giảm nhẹ. Bị cáo kháng cáo cung cấp giấy xác nhận thông tin nơi cư trú thể hiện bị cáo cư trú tại xã L, huyện N, đây không phải là tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên.

[3] Về án phí

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Bạch Vũ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bạch Vũ; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 140/2024/HS-ST ngày 17-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch về hình phạt đối với bị cáo.

1. Tội danh và hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Bạch Vũ 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án phạt tù.

2. Về án phí: Bị cáo Bạch Vũ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Quyết định của Bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp và án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch (2);
  • - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an huyện Nhơn Trạch;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Nhơn Trạch;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch;
  • - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 423/2024/HS-PT ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (cố ý làm hư hỏng tài sản)

  • Số bản án: 423/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý làm hư hỏng tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo của bị cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger