Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 423/2025/HS-ST

Ngày: 18 - 6 - 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Thế Hùng.
  2. Bà Nguyễn Hương Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 353/2025/HSST ngày 26 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 421/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

Phạm Anh L, sinh năm: 2002, tại tỉnh Nghệ An; nơi thường trú: Khu phố S, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Giao hàng; con ông Phạm Quang N, sinh năm 1976 và bà Lê Thị N1, sinh năm 1979; bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 02 anh em; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/11/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Tú S, sinh năm 2005.

Địa chỉ: Số D, Đường H, Khu phố D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1972.

Địa chỉ: Số E, đường N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có việc làm ổn định nhưng lại muốn có tiền tiêu xài cá nhân, Phạm Anh L đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để tiêu xài cá nhân. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 04/11/2024, Phạm Anh L đặt xe ôm công nghệ (G) để về nơi trọ tại địa chỉ nhà số D, đường H, đã khu phố D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để nghỉ ngơi. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, Phạm Anh L đi bộ xuống tầng trệt khu vực để xe của nhà trọ thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Espero, biển số 86AK - 036.98, màu đen của chị Nguyễn Thị Tú S (sinh ngày 29/4/2005) bên trong cốp xe có giấy đăng ký xe đang dựng sát tường, đầu xe hướng vào trong nhà. Do thấy chìa khóa vẫn cắm sẵn trên xe, L đã nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe này để đem đi cầm cố lấy tiền tiêu xài. Sau đó, L đi bộ đến, lén lút dắt chiếc xe mô tô biển số 86AK - 036.98 ra khỏi khu nhà trọ, nổ máy rồi điều khiển xe đến tiệm cầm đồ Trần Đ do ông Trần Văn Đ làm chủ, để cầm cố chiếc xe cùng với giấy đăng ký xe với số tiền 3.000.000 đồng. Sau khi cầm cố xe xong, L đặt xe ôm công nghệ (G) đến tiệm T để chơi trò chơi điện tử và đã tiêu xài hết cá nhân hết 1.000.000 đồng. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, Đ1 Công an thành phố T phối hợp với Công an phường P mời L về trụ sở để làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H), Phạm Anh L đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.

Kết luận định giá tài sản số 233-KV2/KLÐG-HĐĐGTS ngày 07/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân thành phố T, chiếc xe mô tô hiệu Espero, biển số 86AK - 036.98, số khung RPENCBBPEMA123597, số máy VDEJQ139FMB7123597, tại thời điểm bị thiệt hại vào ngày 04/11/2024 có trị giá là 10.900.000 đồng.

Vật chứng trong vụ án:

  • 01 (một) xe mô tô hiệu Espero màu đen biển số 86AK-036.98; SK: RPENCBBPEMA123597; SM: VDEJQ139FMB7123597.
  • 01 (một) gi ấy đăng ký xe mô tô hiệu Espero màu đen biển số 86AK-036.98.
  • 01 điện thoại Iphone 7 màu vàng đã qua sử dụng.
  • Số tiền 2.000.000 đồng.
  • 01 (một) USB ghi nhận hình ảnh Phạm Anh L lấy trộm xe mô tô biển số 86AK - 036.98 tại nhà trọ số D, đường H, khu phố D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về dân sự, bồi thường thiệt hại:

  • Bị hại là chị Nguyễn Thị Tú S không có yêu cầu bồi thường và không có yêu gì khác.
  • Ngươi có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Văn Đ yêu cầu bồi thường 3.000.000 đông.

Tại Cáo trạng số: 338/CT-VKSTPTĐ ngày 20 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Phạm Anh L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Anh L từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/11/2024.
  • Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với kết luận định giá tài sản, thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, đồng thời bị cáo đồng ý bồi thường thêm cho ông Trần Văn Đ số tiền 1.000.000 đồng.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.

[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, người liên quan, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Do lười lao động lại muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên ngày 04/11/2024, Phạm Anh L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô biển số 86AK - 036.98 có giá trị là 10.900.000 đồng của chị Nguyễn Thị Tú S tại khu vực để xe của nhà trọ số D, đường H, khu phố D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Bị cáo có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng lười lao động lại muốn có tiền tiêu xài nên đã cố ý, lén lút chiếm đoạt tài sản có giá trị 10.900.000 đồng của bị hại. Hành vi của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan sai.

Đối với ông Trần Văn Đ quá trình điều tra xác định ông Đ không biết chiếc xe mô tô trên là tài sản do Phạm Anh L trộm cắp mà có. Giữa ông Đ và L không có sự bàn bạc, hứa hẹn trước về việc chứa chấp hay tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H không xử lý hình sự đối với ông Đ là có căn cứ.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 10.900.000 đồng nên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, tuy nhiên bị cáo không có nghề nghiệp, không có nơi cư trú ổn định, không có khả năng tự cải tạo nên cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Espero màu đen biển số 86AK - 036.98; SK: RPENCBBPEMA123597; SM: VDEJQ139FMB7123597 và 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô hiệu Espero màu đen biển số 86AK - 036.98 là tài sản của chị Nguyễn Thị Tú S nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định trả lại cho chị S là có căn cứ.
  • Đối với số tiền 2.000.000 đồng: Xét đây là số tiền bị cáo có được sau khi cầm cố xe cho ông Trần Văn Đ nên trả lại số tiền này cho ông Đ.
  • Đối với 01 điện thoại Iphone 7 màu vàng đã qua sư dụng: Xét đây là tài sản cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường thêm cho ông Trần Văn Đ số tiền 1.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
  2. Tuyên bố bị cáo Phạm Anh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  3. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
  4. Xử phạt bị cáo Phạm Anh L: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/11/2024.

  5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
    • Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại Iphone 7 màu vàng đã qua sử dụng.
    • Trả lại cho ông Trần Văn Đ: Số tiền 2.000.000 đồng.

    (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 272/QĐ-VKSTĐ ngày 20/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Biên bản giao nhận tang tài vật số 358C ngày 21/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức; Giấy nộp tiền mặt ngày 21/5/2025 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ2 – Chi nhánh thành phố T – Phòng Giao dịch Võ Văn N2).

  6. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015,
    • Buộc bị cáo bồi thường cho ông Trần Văn Đ số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng.

    Thi hành một lần, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015

  7. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
  8. Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  9. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
    • Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
    • Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • Bị cáo;
  • Người tham gia tố tụng;
  • Công an Thành phố Hồ Chí Minh;
  • Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • Viện kiểm sát nhân dân Tp. Hồ Chí Minh;
  • Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • Phòng PV06, PC10 - Công an Tp. Hồ Chí Minh;
  • Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • Thi hành án hình sự;
  • Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 423/2025/HS-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 423/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Anh L bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố về tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger