|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc -------- |
|
Bản án số: 423/2025/HNGĐ-ST Ngày 28 - 11-2025 V/v ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhiên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Cẩm Bình, Ông Hà Bửu Khánh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy – Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 448/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2025 về ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 252/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Hồng Ng, sinh năm 1987 (có đơn xin vắng mặt).
Nơi cư trú: Ấp NT, xã NC, huyện GR, tỉnh KG (nay là ấp NT, xã NC, tỉnh AG)
- Bị đơn: Anh Lê Hoàng L, sinh năm 1980 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Ấp NT, xã NC, huyện GR, tỉnh KG (nay là ấp NT, xã NC, tỉnh AG)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện chị Lê Hồng Ng và quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày: Chị Ng và anh Lê Hoàng L tự tìm hiểu tiến tới hôn nhân có tổ chức lễ cưới; có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ngọc Chúc, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Qua thời gian sống chung vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến, không có tiếng nói chung, anh L thường xuyên xúc phạm, khinh thường chị, nên vợ chồng đã sống ly thân. Nay chị xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Ng yêu cầu được ly hôn với anh Lê Hoàng L.
Về con chung: Chị Ng và anh L có với nhau hai người con chung Lê Hoàng Ch, sinh ngày 12/6/2007 và Lê Hoàng Nh, sinh ngày 03/10/2009. Nay chị Ng yêu cầu được cháu Lê Hoàng Nh, sinh ngày 03/10/2009, không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Ch hiện tại đã đủ tuổi trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Ng xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lê Hoàng L đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng nhưng không có văn bản, ý kiến phản hồi về yêu cầu của nguyên đơn.
Tòa án đã triệu tập anh L đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh L vẫn vắng mặt, không vì lý do bất khả kháng.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử, thẩm phán, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn nhưng bị đơn vắng mặt. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về hôn nhân: Chị Ng, anh Lê Hoàng L có đăng ký kết hôn theo quy định, nên xác định hôn nhân là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng không được hạnh phúc nên cả hai đã sống ly thân nên xét thấy hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng từ đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Hồng Ng với anh Lê Hoàng L.
Về con chung: Chị Ng xác định có hai người con Lê Hoàng Ch, sinh ngày 12/6/2007 và Lê Hoàng Nh, sinh ngày 03/10/2009. Cháu Ch đã trưởng thành không yêu cầu, chị Ng yêu cầu được nuôi cháu Nh, do anh L mặt suốt trong quá trình tố tụng để đảm bảo điều kiện phát triển cho con nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Nh cho chị Ng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Ng không yêu cầu.
Về tài sản chung không yêu cầu nên đề nghị không giải quyết.
Về án phí: Đề nghị áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí; đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành thụ lý đơn đúng trình tự thủ tục, đúng thẩm giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, anh Lê Hoàng L với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại ấp Ngọc Tân, xã Ngọc Chúc, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp Ngọc Tân, xã Ngọc Chúc, tỉnh An Giang) nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân kh vực 5 - An Giang. Quá trình tố tụng nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập hợp nhưng vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Lê Hồng Ng và anh Lê Hoàng L là hôn nhân hợp pháp đã tuân thủ đúng các điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ngọc Chúc, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang đúng thẩm quyền đăng ký kết hôn quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Nguyên nhân dẫn đến ly hôn chị Ng cho rằng giữa chị anh L thường xuyên cự cải nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị và anh L đã ly thân. Đối với bị đơn Tòa án đã tiến hành thông báo các thủ tục tố tụng nhưng bị đơn không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét thấy mục đích hôn nhân là nhằm để xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên phải có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, muốn đạt được điều này vợ chồng cùng xây dựng, nhưng chị Ng không còn tình cảm vợ chồng với anh L và cả hai đã sống ly thân. Nên xét xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Ng anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Ng đối với anh Lê Hoàng L.
[2.2] Về con chung: Chị Ng và anh L có với nhau hai người con chung tên Lê Hoàng Ch, sinh ngày 12/6/2007 và Lê Hoàng Nh, sinh ngày 03/10/2009. Nay chị Ng yêu cầu được cháu Lê Hoàng Nh, sinh ngày 03/10/2009. Theo quy định của luật hôn nhân và gia đình quy định việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau ly hôn là nếu sau khi ly hôn vợ chồng không thỏa thuận được với nhau về việc nuôi con thì do Tòa án quyết định, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Trong suốt quá trình tố tụng anh L vắng mặt không đưa ra ý kiến hay yêu cầu nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét. Chị Ng cho rằng cháu Lê Hoàng Nh, sinh ngày 03/10/2009 chưa đủ tuổi trưởng thành, hiện đang sống cùng với chị để đảm bảo sự ổn định và điều kiện phát triển của con nghị nên tiếp tục giao cháu Nh cho chị Ng tiếp túc chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của con cũng phù hợp với quy định của pháp luật. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Ng không yêu cầu. Đối với cháu Lê Hoàng Ch, sinh ngày 12/6/2007 đã trưởng thành chị Ng không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Cháu Nh có nguyện vọng được ở với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn.
Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.
[2.3] Về tài sản chung; nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, chị Lê Hồng Ng phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ tạm ứng án phí chị Ng đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu của Cơ quan Thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 227 Điều 228; Điều 235; 266; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Áp dụng Điều 51; 53; 56; 58; 81; 82; 83; 84; 110; 116; 117 và 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Hồng Ng được ly hôn với anh Lê Hoàng L.
- Về quan hệ con chung: Giao con chung Lê Hoàng Nh, sinh ngày 03/10/2009, cho chị Lê Hồng Ng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị Ng không yêu cầu cấp dưỡng. Cháu Ch đã trưởng thành không yêu cầu nên không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Án phí sơ thẩm: Chị Lê Hồng Ng phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0013334 ngày 18 tháng 6 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 – An Giang).
- Quyền kháng cáo: Chị Lê Hồng Ng anh Lê Hoàng L vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Nhiên |
Bản án số 423/2025/HNGĐ-ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG về ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 423/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
