TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 423/2025/DS-PT
Ngày: 25/4/2024
V/v tranh chấp thừa kế
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thanh Hiền |
| Các Thẩm phán: | 1. Ông Trương Văn Hiền |
| 2. Bà Đỗ Thị Hòa |
- Thư ký phiên tòa: Bà An Phương Trang - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài Phương – Kiểm sát viên.
Trong ngày 15/4/2025 và 25/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 190/2025/DSPT ngày 24/02/2025 về việc “Tranh chấp thừa kế theo di chúc”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 3684/2024/DS-ST ngày 09/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức – Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 369/2025/QĐ-PT ngày 06/3/2025 và ngày giờ mở lại phiên tòa được ấn định tại Quyết định hoãn phiên tòa số 3865/2025/QĐ-PT ngày 27/3/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kim L, sinh năm 1943 (vắng mặt)
Địa chỉ: C P, khu phố P, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn (theo Giấy ủy quyền ngày 23/5/2020 tại VPCC Nguyễn Thị Q, TP .): Bà Hoàng Thị Á, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: 4/14/21 L, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Bị đơn:
- Bà Đặng Thị Nguyệt N, sinh năm 1964
- Ông Đặng Việt T, sinh năm 1963
Địa chỉ: số B, Đường số I, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Nhà số I, đường N, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bà N và ông T (theo Giấy ủy quyền ngày 19/8/2024 tại V3, TP .): Bà Lê Thị T1, sinh năm 1978 (có mặt)
Địa chỉ: B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà N, ông T: Bà Nguyễn Thị H - Luật sư thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, Văn phòng Luật sư Nguyễn Thị H (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị M, sinh năm 1946 (chết).
- Ông Nguyễn Ngọc M1, sinh năm 1973 (có mặt)
- Bà Nguyễn Ngọc T2, sinh năm: 1970 (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1957 (vắng mặt)
- Ông Dương Hữu S, sinh năm 1956 (vắng mặt)
- Bà Dương Thị H1, sinh năm 1968 (có mặt)
- Phòng Công chứng số 03 Thành phố H (có đơn xin vắng mặt)
- Văn Phòng C3 (có đơn xin vắng mặt)
- Ủy ban nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà M:
Cùng địa chỉ: G N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: 137/55/31 T, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: 1 T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: I N, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà N, ông T: Bà Nguyễn Thị H - Luật sư thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, Văn phòng Luật sư Nguyễn Thị H (có mặt)
Địa chỉ: A T, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ: B A L, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện hợp pháp (theo Giấy ủy quyền số 58/VPCCTĐ ngày 24/5/2021): Ông Hồ Thụy V, sinh năm 1954
Địa chỉ: A T, Phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp (theo Giấy ủy quyền số: 1502/GUQ-UBND ngày 18/03/2022): Bà Nguyễn Thị Kim P - Chuyên viên Phòng T8.
Người làm chứng:
- Ông Phạm Minh H2, sinh năm 1981 (vắng mặt)
- Ông Dương Minh T3, sinh năm 1958 (có mặt)
Địa chỉ: 3 T, Phường G, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ: C P, khu phố P, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người kháng cáo: Bị đơn – ông Đặng Việt T, bà Đặng Thị Nguyệt N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Dương Thị H1 kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn – bà Nguyễn Kim L do người đại diện hợp pháp trình bày:
Bà Lư Thị M2 (sinh năm: 1925, chết năm: 2017) có chồng là ông Đặng V1 (chết năm 1969, không có chứng tử); Từ năm 1969 đến nay bà M2 không đăng ký kết hôn hay chung sống như vợ chồng với ai cả. Bà M2 và ông V1 có 02 người con là ông Đặng Việt T (sinh năm 1963) và bà Đặng Thị Nguyệt N (sinh năm 1964). Bà Nguyễn Kim L là cháu của bà Lư Thị M2.
Cha, mẹ của bà Lư Thị M2 là ông Dương T4 và bà Lư Thị M3 cũng đã chết từ rất lâu và không có chứng tử (không rõ năm sinh và năm mất).
Bà Lư Thị M2 có tài sản là phần đất thuộc Thửa số 509, tờ bản đồ số: 87, có diện tích: 956,9m2 (TL 2003), mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 446809 do Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T) cấp cho bà Lư Thị M2 ngày 12/8/2010.
Ngày 15/02/2011, bà Lư Thị M2 lập di chúc với nội dung sau khi bà M2 qua đời thì tài sản nêu trên thuộc quyền sử dụng, quyền sở hữu của các ông, bà, cụ thể:
- Bà Nguyễn Kim L được hưởng phần quyền sử dụng đất với diện tích 500m2 đất căn cứ theo bản đồ hiện trạng vị trí số CN11a23/2011 do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 14/02/2011.
- Ông Đặng Việt T được hưởng phần quyền sử dụng đất với diện tích 250m2 căn cứ theo bản đồ hiện trạng vị trí CN11a23/2011 do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 14/02/2011.
- Bà Đặng Thị Nguyệt N được hưởng phần quyền sử dụng đất với diện tích 206,9m2 căn cứ theo bản đồ hiện trạng vị trí CN11a23/2011 do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 14/02/2011
Ngày 09/12/2017, bà Lư Thị M2 chết và di chúc phát sinh hiệu lực.
Tuy nhiên ngày 05/10/2018, bà Đặng Thị Nguyệt N và ông Đặng Việt T đã tự ý làm Văn bản khai nhận di sản số 34557 lập tại Phòng C. Cụ thể trong văn bản, ông T và bà N khai: Khi còn sống bà Lư Thị M2 không lập di chúc định đoạt tài sản này, ngoài ông T và bà N ra thì không còn người thừa kế nào khác.
Ngày 30/10/2018, Văn phòng Đ2 Chi nhánh 9 đã cập nhật biến động thừa kế qua tên ông Đặng Việt T và bà Đặng Thị Nguyệt N theo văn bản khai nhận Di sản thừa kế số 34557 ngày 05/10/2018 tại Phòng C theo hồ sơ số: 992007.TK.001.
Việc bà Đặng Thị Nguyệt N và ông Đặng Việt T tự ý khai nhận di sản thừa kế tài sản nêu trên là hoàn toàn trái với quy định của pháp luật về thừa kế, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Kim L.
Do đó, Ngày 11/11/2020 bà Nguyễn Kim L khởi kiện, yêu cầu:
- Công nhận Di chúc do bà Lư Thị M2 lập ngày 15/02/2011, di sản là phần đất thuộc Thửa số 509, tờ bản đồ số: 87, có diện tích: 956,9m2 (TL 2003), mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại phường L, Quận I (nay là thành phố T). Phần đất này đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB446809 do Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T) cấp cho bà Lư Thị M2 ngày 12/08/2010. Đề nghị Tòa án công nhận cho bà Nguyễn Kim L được hưởng 500m2 đất (theo di chúc bà M2 lập ngày 15/02/2011) trong tổng diện tích: 956.9m2 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 446809 do Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T) cấp cho bà Lư Thị M2 ngày 12/8/2010.
- T5 hủy Văn bản khai nhận di sản số 34557 lập tại Phòng C4 ngày 05/10/2018 do ông Đặng Việt T, bà Đặng Thị Nguyệt N yêu cầu lập.
- Tuyên hủy cập nhật biến động qua tên ông Đặng Việt T và bà Đặng Thị Nguyệt N do Ủy ban nhân dân Quận I (nay là Ủy ban nhân dân thành phố T) cập nhật ngày 30/10/2018 trong Giấy quyền sử dụng đất và quyền sử dụng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 446809 do Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T) cấp cho bà Lư Thị M2 ngày 12/8/2010.
- Kiến nghị cơ quan chức năng cập nhật sang tên bà Nguyễn Kim L được thừa hưởng 500m2 đất vào trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 446809 do Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T) cấp cho bà Lư Thị M2 ngày 12/8/2010.
Ngày 18/12/2020 bà Nguyễn Kim L có đơn khởi kiện bổ sung với nội dung yêu cầu như sau:
- T5 hủy Văn bản khai nhận di sản số 34557 lập tại Phòng C4 ngày 05/10/2018.
- Chia di sản thừa kế do bà Lư Thị M2 để lại theo di chúc bà Lư Thị M2 lập ngày 15/02/2011 tại Văn phòng C3, số công chứng: 000000735. Đề nghị Tòa án công nhận cho bà Nguyễn Kim L được hưởng 500m2 theo di chúc bà Lư Thị M2 lập ngày 15/02/2011 tại Văn phòng C3, số số công chứng: 00000073 5. Phần đất ngày được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tà sản khác gắn liền với đất số BB 446809 Do ủy ban nhân dân Quận I (nay là ủy ban nhân dân thành phố T) cấp cho bà Lư Thị M2 ngày 12/8/2010.
Trong phiên tòa sơ thẩm, bà Nguyễn Kim L có thay đổi yêu cầu khởi kiện cụ thể như sau:
- Công nhận di chúc do bà Lư Thị M2 lập ngày 15/02/2011 tại Văn phòng C3, di sản là phần đất thuộc thửa số 509, tờ bản đồ 87, có diện tích 956,9m2 (TL 2003) tọa lạc tại phường L, Quận I (nay là thành phố T). Công nhận cho bà Nguyễn Kin L1 được hưởng 500m2 theo di chúc.
- T5 hủy Văn bản khai nhận di sản số 34557 lập tại Phòng C4 ngày 05/10/2018 do ông Đặng Việt T. bà Đặng Thị Nguyệt N yêu cầu lập.
- Tuyên hủy cập nhật biến động qua tên ông Đặng Việt T và bà Đặng Thị Nguyệt N do Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T) cập nhật ngày 30/10/2018 trong Giấy chứng nhận quyền sư dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 446809 do Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T) cấp cho bà Lư Thị M2 ngày 12/8/2010.
Rút yêu cầu chia di sản thừa kế theo Di chúc của bà Lư Thị M2 và yêu cầu cập nhật tên bà Nguyễn Kim L được thừa hưởng 500m2 đất vào trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 446809 do Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T) cấp cho bà Lư Thị M2 ngày 12/8/2010.
Về phía bị đơn – ông Đặng Việt T, bà Đặng Thị Nguyệt N có bản tường trình ngày 22/7/2024 trình bày:
Nguyên mẹ của ông T, bà N là bà Lư Thị M2, sinh năm 1925 chết ngày 09/12/2017.
Trước đây bà M2 có sử dụng diện tích đất 956,9m2 được Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T) cấp Giấy chứng nhận số BB 446809 số vào sổ: CH 00242 ngày 12/8/2010, cập nhật đăng ký thay đổi ngày 05/01/2011.
Ngày 09/12/2017 bà M2 chết, ông T, bà N là người thừa kế theo pháp luật đối với diện tích dất nêu trên, nên ông T và bà N đã làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế theo pháp luật tại Phòng C4 ngày 05/10/2018. Ngày 30/10/2018 Văn phòng Đ2 Chi nhánh Q1 đã cập nhật tên ông T, bà N trên Giấy chứng nhận là người thừa kế theo pháp luật của bà Lư Thị M2.
Phần diện tích đất nêu trên bà M2 là người quản lý và sử dụng từ trước đến nay. Khi bà Lư Thị M2 chết ông T, bà N vẫn tiếp tục sử dụng cho đến nay.
Ngày 04/01/2021, ông T đã lập Hợp đồng tặng cho phần tài sản ông T được hưởng (thừa kế của bà M2) cho bà Dương Thị H1 (Hợp đồng số 94 ngày 04/01/2021 tại Phòng C4) và đã được cập nhật đăng bộ qua tên bà Dương Thị H1 ngày 08/02/2021.
Vừa qua, ông T được biết bà Nguyễn Kim L khởi kiện buộc ông T và bà N phải giao lại cho bà L phần diện tích 500m2/956,9m2, dựa vào Di chúc do bà M2 lập ngày 15/02/2011 tại Văn phòng C3. Theo nội dung di chúc thì bà Nguyễn Kim L là người được hưởng một phần di sản của mẹ ông T.
Ông T không biết gì về di chúc của bà M2 mà chỉ có 1 Hợp đồng ủy quyền giữa bà Lư Thị M2 và bà Nguyễn Kim L lập tại Văn phòng C3 cùng ngày 15/02/2011.
Do đó ông T không đồng ý với yêu cầu của bà Nguyễn Kim L và đề nghị Tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Kim L.
Hiện nay phần tài sản ông T nhận từ bà Lư Thị M2, ông T đã giao cho bà Dương Thị H1 đứng tên và trực tiếp quản lý sử dụng. Đồng thời ông T có đơn xin vắng mặt tham gia phiên tòa.
Trong quá trình tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm, bà Đặng Thị Nguyệt N vắng mặt và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
Những Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị M, ông Nguyễn Văn Đ, ông Dương Hữu S trình bày: Chúng tôi là anh, em con cậu, chú, bác với bà Nguyễn Kim L thống nhất với yêu cầu của bà Nguyễn Kim L.
- Bà Dương Thị H1 có văn bản trình bày ý kiến ngày 22/07/2024, có nội dung như sau:
Bà H1 được biết Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đang giải quyết vụ án do bà Nguyễn Kim L kiện ông Đặng Việt T và bà Đặng Thị Nguyệt N, yêu cầu chia di sản thừa kế theo di chúc đối với diện tích đất 956,9m2 (đất trồng cây lâu năm) thuộc Thửa 509 tờ bản đồ số 87 phường L, thành phố T (Quận I cũ) thời hạn sử dụng đến ngày 24/6/2020. Bà H1 được biết trước đây lúc còn sống, bà Lư Thị M2 không lập di chúc, không tặng cho tài sản là quyền sử dụng đất cho bất cứ ai.
Nay bà Nguyễn Kim L lại khởi kiện yêu cầu chia tài sản thừa kế theo di chúc đối với tài sản nêu trên là 500m2/956,9m2 (theo bản vẽ di chúc).
Theo bà H1 thì bà Nguyễn Kim L không biết gì về việc khởi kiện đòi chia di sản thừa kế theo Di chúc mà Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đang giải quyết, mà chỉ có ông Dương Minh T3 đứng ra thuê hợp tác với một số người thực hiện vụ kiện này. Bà nguyễn Kim L, sinh năm 1943 (79 tuổi), theo dư luận trong bà con cho biết bà L đã nằm liệt giường cách đây đã lâu, không có nhận thức và hiện tại ông T3 (là em của bà L) đã đưa bà L đi đâu không có ai có thể gặp và biết tình trạng của bà L như thế nào.
Phần tài sản của ông Đặng Việt T đã lập hợp đồng tặng cho bà H1 và bà H1 là người đang trực tiếp quản lý sử dụng phần tài sản của ông Đặng Việt T cùng với bà Đặng Thị Nguyệt N (1/2 tài sản do bà Lư Thị M2 để lại theo văn bản khai nhận di sản thừa kế).
Như vậy: Phần tài sản hiện nay không còn đứng tên ông Đặng Việt T và phần diện tích của bà N chỉ còn 478,45m2/956,9m2.
Do vậy bà H1 đề nghị Tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Kim L.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Phòng C4 có văn bản số 091/CV-CC3 trình bày:
Công chứng viên đã thực hiện đầy đủ các bước theo quy định, và chứng nhận văn bản khai nhận di sản là đúng trình tự thủ tục và phù hợp với các quy định của pháp luật, do đó không đồng ý yêu cầu hủy hoặc tuyên bố văn bản khai nhận di sản số 34557 lập ngày 05/10/2018 là vô hiệu do bỏ sót người thừa kế, bởi lẽ:
- Việc chứng nhận văn bản khai nhận di sản là đúng trình tự thủ tục và phù họp với các quy định của pháp luật như đã nêu trên.
- Trong văn bản khai nhận di sản số 34557, các bên đã cam kết: “Di sản mà bà Lư Thị M2 để lại thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Lư Thị M2. Di sản không bị tranh chấp và không bị dùng để bảo đảm hay thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ nào về tài sản”. Do đó, nếu có phát sinh tranh chấp liên quan đến di sản của bà Lư Thị M2 thì các bên phải chịu trách nhiệm về nội dung mà mình đã cam kết.
- Ngoài ra, ông Đặng Việt T đã hoàn thành việc đăng ký thừa kế đối với di sản do bà Lư Thị M2 để lại và căn cứ vào Khoản 1 Điều 662 của Bộ luật dân sự 2015 “Trong trường họp đã phân chia di sản mà xuất hiện người thừa kế mới thì không thực hiện việc phân chia di sản bằng hiện vật, nhưng những người thừa kế đã nhận di sản phải thanh toán cho người thừa kế mới một khoản tiền tương ứng với phần di sản đã nhận...”. Do đó, trường hợp có phát sinh tranh chấp do bỏ sót người thừa kế thì những người thừa kế đã nhận di sản thừa kế mới một khoản tiền tương ứng với phần di sản của người đó tại thời điểm chia thừa kế theo tỷ lệ tương ứng với phần di sản đã nhận.
- Đối với yêu cầu còn lại của nguyên đơn và của các bên, Phòng C4, Thành phố Hồ Chí Minh không có ý kiến gì và không có yêu cầu gì thêm. Đề nghị Tòa án căn cứ các tài liệu chứng cứ có liên quan đến vụ án để xét xử theo quy định của pháp luật.
- Phòng C4, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và đề nghị được vắng mặt tại các buổi làm việc, các phiên họp, các buổi công khai chứng cứ, các buổi hòa giải, đối thoại và vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng giải quyết vụ án nêu trên.
Văn phòng C3 có bà Hồ Thụy V là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Văn phòng C3 xác định việc công chứng viên đã ký chứng nhận văn bản di chúc trên là có cơ sở pháp lý theo quy định của Luật công chứng, Bộ luật dân sự, Luật đất đai và các quy định khác của pháp luật hiện hành.
Ủy ban nhân dân thành phố T có bà Nguyễn Thị Kim P đại diện nhưng bà P có đơn xét xử Vắng mặt.
Văn phòng Đ2 chi nhánh thành phố T có công văn số: 18180/CNTPTĐ ngày 06/10/2023 có một phần nội dung:
Về nguồn gốc, quá trình kê khai, nộp thuế và sử dụng đối với diện tích đất 956,9m2 thuộc thửa đất số 509, tờ bản đồ số 87 (tài liệu 2003), phường L, thành phố T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 446809 do Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T) cấp cho bà Lư Thị M2 (là đại diện thừa kế quyền sử dụng đất của ông Dương T4 và bà Lư Thị M3) ngày 12/8/2010.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 446809 cập nhật tặng cho một phần quyền sử dụng đất cho bà Dương Thị H1 (đồng sở hữu với bà Đặng Thị Tuyết N1).
Người làm chứng - ông Dương Minh T3 trình bày:
Ông Dương Minh T3 là em của bà Nguyễn Kim L, bà L không lập gia đình, không có chồng con nên bà L sống cùng với gia đình ông T3, ông T3 là người chăm lo cuộc sống cho bà L, cho nên công việc hằng ngày trong gia đình ông T3 là người phải lo liệu.
Đối với phần đất 500m2 đất, từ lúc bà M2 đang còn sống thì bà M2 cũng đã xác định là để lại cho bà L (lý do là trong quá trình làm sổ, giấy tờ, thì ông T3 và bà L bỏ tài chính ra để lo). Phần đất này đã được bà L cho người xây bờ rào từ những năm 2006 (những năm bà M2 còn sống) và trồng cây trên đất, đến khoảng năm 2012 thì bà L cho sửa lại bờ rào, đổ đất cho nền đất lên cao khỏi ngập nước. Những lúc xây dựng bờ rào hay đổ đất đắp nền thì gia đình bà L sử dụng điện nước của gia đình bà H1, ông T để làm và không có bất kì cản trở nào vì ai cũng biết và khẳng định phần diện tích đất này là của bà M2 cho bà L.
Lúc gia đình bà L định cho người khác thuê phần đất này để lấy tiền chữa bệnh cho bà L thì bà H1 cản trở, chửi bới nên ông T3 mới qua nói chuyện với ông T và ghi âm lại cuộc nói chuyện này, ông T3 vắn tắt một số nội dung quan trọng ông Đặng Việt T nói trong đoạn ghi âm như sau:
“Thì hồi xưa mẹ tui lập di chúc thì ông cứ xài, tui đảm bảo với ông là tui không tranh chấp, tui sẽ làm cho ông bản cam kết ra phường chứng nhận, đóng mộc lên đó là xong, chừng nào nhà nước có chủ trương tách sổ thì tui sẵn sàng tách cho ông hén. do thời thế chưa cho tách chứ nếu cho tách thì tui tách cho ông liền...giờ đất của ông ông muốn cho ai thuê hay làm gì thì làm tui không tranh chấp. Hồi xưa mẹ tui làm sao thì tui để y như vậy, mẹ tui đã nói cho anh mày năm trăm thước thì là như vậy. Lúc mẹ tui sắp chết mẹ tui nói mẹ còn sống thì mẹ quyết định, giờ tao sắp chết rồi, hai anh em mày phải đứng ra làm giấy, phải đứng tên di sản đó, còn vấn đề anh của mày chia năm trăm thước thì đừng bao giờ nói tới nói lui, tao cho rồi là phần của nó, còn bây giờ mày cứ đứng tên đấy, sau này nếu trường hợp nếu anh mày muốn chia tách ra thì mày phải ký giấy cho anh mày tách ra... thì bây giờ tui nói ông nghe, ông cứ nghe ngóng Nhà nước có chủ trương mà tách thì ông nói hú tiếng, tui làm cho ông”.
Người làm chứng ông Phạm Minh H2 vắng mặt.
Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa vụ án ra xét xử và quyết định tại Bản án sơ thẩm số 3684/2024/DS-ST ngày 09/8/2024 như sau:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Kim L
- Công nhận di chúc do bà Lư Thị M2 lập ngày 15/02/2011, di sản là thửa đất 509, tờ bản đồ số 87, có diện tích: 956.9m2 (TL 2003) là di chúc họp pháp.
- Hủy Văn bản khai nhận di sản số 34557 lập tại Phòng C4 do ông Đặng Việt T, bà Đặng Thị Nguyệt N yêu cầu lập.
- Hủy cập nhật biến động qua tên ông Đặng Việt T và bà Đặng Thị Nguyệt N do I cập nhật ngày 30/10/2018 trong Giấy chứng nhận QSDĐ và QSHNƠ và tài sản khác gắn liền với đất số BB 446809 do I (nay là Ủy ban nhân dân thành phố T) cấp cho bà Lư Thị M2 ngày 12/08/2010.
- Hủy hợp đồng tặng cho số 94 lập giữa ông Đặng Việt T và bà Dương Thị H1 ngày 04/01/2021.
- Hủy cập nhật biến động qua tên bà Dương Thị H1 do UBND thành phố T cập nhật ngày 08/02/2021.
- Đình chỉ yêu cầu của bà Nguyễn Kim L về yêu cầu Tòa án công nhận 500m2 đất.
- Duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số: 16/2021/QĐ-BPKCT ngày 25/5/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh để đảm bảo việc thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn giải quyết về án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 20/8/2024, ông Nguyễn Việt T6, bà Đặng Thị Nguyệt N và bà Dương Thị H1 có Đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị xét xử phúc thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn và bà Dương Thị H1 do người đại diện trình bày kháng cáo và Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trình bày quan điểm tranh luận:
Bị đơn đồng ý với phần bản án sơ thẩm đình chỉ yêu cầu công nhận quyền sở hữu 500m2 đất cho bà L.
Bị đơn kháng cáo một phần bản án, yêu cầu sửa án theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì cho rằng: hồ sơ công chứng Di chúc của bà M2 đã không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính mà chỉ là bản photo, vì ông T6 là người giữ bản chính Giấy chứng nhận. Chứng minh nhân dân của bà M2 trong hồ sơ công chứng Di chúc cũng không phải được chụp từ bản chính (do ông T6 giữ bản chính) mà chụp lại từ bản photo nên bị mờ hàng số Chứng minh nhân dân nên đã phải viết lại hàng chữ số này bằng tay. Người làm chứng trong Di chúc ký tại trang 3 có ghi “tôi chứng kiến công chứng viên có đọc lại nội dung di chúc này cho bà M2 nghe bà đồng ý tự nguyện ký tên lăn tay hoàn toàn tự nguyện không ai ép buộc” ký tên Phạm Minh H2. Nhưng tại trang 4 của Di chúc, Công chứng viên đã ghi: “Người lập di chúc đã đọc di chúc này, đã đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong Di chúc và đã ký, điểm chỉ vào Di chúc trước sự có mặt của tôi và người làm chứng”. Như vậy nội dung làm chứng và việc công chứng của Công chứng viên về hành vi của người lập di chúc là có sự mâu thuẫn nhau. Ông Phạm Minh H2 làm chứng là ai – tại sao ông H2 lại được làm chứng khi lập Di chúc và khi được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng ông H2 lại không hề đến Tòa án để làm chứng trong vụ án này. Ông Phạm Minh H2 cũng là người ký nhận thông báo nộp thuế lệ phí trước bạ khi bà M2 làm hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, về hình thức của Di chúc là không đảm bảo theo quy định pháp luật.
Về nội dung của Di chúc cũng có nhiều điểm không hợp lý: trong hồ sơ công chứng Di chúc có lưu 02 phiếu khám sức khỏe (BL.214-218) của Bệnh viện Q2 và của K Tâm thần Bệnh viện Q2 cùng ngày 14/02/2011. Về hình thức cả 2 phiếu khám sức khỏe đều không đúng quy định của ngành Y tế vì chỉ có dấu vuông của phòng khám mà không có dấu mộc của Bệnh viện Q2 (mộc tròn), về nội dung theo BL.204 Bệnh viện Q2 xác định bà M2 mắt đục thủy tinh thể, tại BL.203 Bệnh viện Q2 xác định bà M2 dáng vẻ nhanh nhẹn. Một người mắt không thấy do đục thủy tinh thể có thể có dáng vẻ nhanh nhẹn được không. Với hai Giấy khám sức khỏe này, cùng khoảng thời gian nhưng kết luận của Bệnh viện là mâu thuẫn nhau. Cùng ngày 14/02/2011, Công ty Đ1 lập Bản vẽ hiện trạng vị trí đất để sử dụng cho việc lập di chúc của bà M2. Đến ngày 15/02/2011 thì Công chứng viên công chứng Di chúc tại nhà cho bà M2. Như vậy, trong vòng 02 ngày là 14 và 15 tháng 02/2011 bà M2 – khi ấy đã 86 tuổi, nặng 28kg mắt không nhìn thấy do đục thủy tinh thể, tai không nghe rõ, mọi sinh hoạt phải phụ thuộc vào con các con bà phải chăm sóc tắm rửa vệ sinh và đút cho bà ăn, vậy ai là người mời và chỉ vị trí đo vẽ trong khi các con bà (ông T6 và bà N) không biết gì về việc này.
Ông Dương Minh T3 xuất trình bản ghi âm chứng minh nội dung của Di chúc ngay tại phiên tòa sơ thẩm, bản ghi âm này chưa được xuất trình để làm rõ trước đó và ông T3 cũng không được đưa vào tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng vì Quyết định xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cũng không có tên ông T3. Bị đơn không yêu cầu giám định bản ghi âm này nhưng không đồng ý bản ghi âm do ông T3 cung cấp.
Như vậy, nội dung Di chúc được lập không phải là ý chí tự nguyện của bà M2.
Đề nghị không công nhận Di chúc của bà M2 và hủy Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, công nhận các văn bản sau: Văn bản khai nhận di sản của ông Đặng Việt T, bà Đặng Thị Nguyệt N số 34557 lập ngày 05/10/2018 tại Phòng C4, Hợp đồng tặng cho giữa ông Đặng Việt T và bà Dương Thị H1 số 94 lập ngày 04/01/2021 tại Phòng C4, cập nhật biến động qua tên ông Đặng Việt T và bà Đặng Thị Nguyệt N ngày 30/10/2018 và cập nhật tên bà Dương Thị H1 ngày 08/02/2021 trên Giấy quyền sử dụng đất và quyền sử dụng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 446809 do Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T) cấp cho bà Lư Thị M2 ngày 12/8/2010.
Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm nêu trên.
Nguyên đơn do người đại diện hợp pháp trình bày và tranh luận.:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đồng ý bản án sơ thẩm, không đồng ý với kháng cáo của bị đơn và bà Dương Thị H1.
Đối với yêu cầu của bị đơn về công nhận Thửa đất số 509 do bà N và bà H1 là người trực tiếp sử dụng, yêu cầu này đã vi phạm về thời hạn (bị đơn đưa ra yêu cầu khi cấp sơ thẩm đã có Quyết định xét xử) nên đề nghị không xem xét giải quyết.
Đối với Di chúc của bà M2 đã được Văn phòng công chứng thực hiện đầy đủ, đúng quy định, bị đơn cho rằng việc công chứng có vi phạm nhưng lại không đưa ra được chứng cứ và không làm thay đổi được bản chất của vấn đề.
Bị đơn cho rằng bà M2 không có năng lực hành vi để lập Di chúc nhưng bà M2 không bị mất năng lực hành vi dân sự, Bệnh viện Q2 khám và kết luận bà M2 đủ năng lực hành vi và sức khỏe để lập di chúc.
Tài liệu ghi âm giọng nói của ông T là chứng cứ hợp pháp, đề nghị Tòa án công nhận. Nếu bị đơn không đồng ý giọng nói là của ông T thì bị đơn đã phải yêu cầu giám định, nhưng thực tế là bị đơn không yêu cầu.
Bị đơn cũng không xuất trình được chứng cứ chứng minh bà M2 bị lừa dối hay bị cưỡng ép khi lập Di chúc.
Di sản của bà M2 là quyền sử dụng đất mà bà M2 đã được cấp giấy chứng nhận, bà M2 có quyền định đoạt di sản của mình. Di chúc của bà M2 là phù hợp quy định pháp luật.
Ông T và bà N là con bà M2 biết rõ về Di chúc của bà M2, thể hiện bằng đoạn ghi âm ông T3 xuất trình. Thực tế bà L đã tiếp nhận 500m2 đất này từ lâu, đã xây hàng rào bao quanh và quản lý đất này cho đến hiện tại, ông T và bà N vẫn không có ý kiến. Chỉ đến khi bà M2 chết mới phát sinh tranh chấp.
Từ những lý do trên, đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Ngọc M1 trình bày: Ông và chị Nguyễn Ngọc T2 là con của bà Lê Thị M. Bà Lê Thị M là con của bà Nguyễn Thị L2, bà L2 là chị ruột của bà Lư Thị M2 và là con ruột của ông Dương T4 với bà Lư Thị M3. Ông bà cố ngoại của ông M1 có nhiều người con, không phải có mỗi bà M2, nhưng ông M1 không nhớ hết tên họ từng người, nhớ có ông Dương H3 là cha của ông Dương Hữu S, ông Nguyễn Văn V2 có con là ông Nguyễn Văn Đ là những người có tham gia trong vụ án.
(Ông Dương Hữu S vắng mặt tại phiên tòa nhưng có nộp bổ sung Trích lục bộ hôn thú giữa ông Dương H3 với bà Thi Thị L3, trong đó có ghi ông Dương H3 có cha là Dương T4 và mẹ là Lư Thị M3)
Người làm chứng - Ông Dương Minh T3 trình bày:
Ông T3 là em ruột bà L. Bà L không chồng con, sống chung nhà với ông T3 nhiều năm nay.
Bà M2 là con của ông Dương T4 với bà Lư Thị M3. Ông Dương T4 và bà Lư Thị M3 có 08 người con, gồm:
- Ông Nguyễn Văn G
- Ông Nguyễn Văn V2
- Ông Dương Hòa
- Bà Nguyễn Thị Lựu
- Bà Nguyễn Thị Lê
- Ông Dương Hiệp
- Bà Dương Thị C
- Bà Lư Thị M2
Thửa đất số 509 nguyên trước đây thuộc quyền sử dụng của cha ông T3 (là ông Dương H4), do nhiều đất nên để bà M2 đăng ký sử dụng đất, vì vậy bà M2 làm Di chúc chia lại cho bà L 500m2 đất là vậy. Thực tế gia đình ông T3 đã trồng cây trên đất từ năm 1977, bà L đã sử dụng đất này từ khi bà M2 còn sống. Gia đình ông T3 và bà L đã bỏ tiền làm hàng rào bao quanh đất từ năm 2006, năm 2012 sửa lại hàng rào. Ông và bà L cũng là người bỏ tiền làm hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận đứng tên bà M2.
Đúng ra, bà M2 đứng tên trên Giấy chứng nhận với lời hứa sau này sẽ trả lại đất cho bà L (là con ông Dương H4), nhưng sau đó bà M2 đổi ý chỉ làm Di chúc để lại cho bà L 500m2, thôi gia đình ông T3 cũng đồng ý. Thực chất, 500m2 này bà L được nhận nhưng không hưởng một mình mà sẽ chia lại cho những người khác trong gia tộc. Nhưng khi bà M2 chết thì bà Dương Thị H1 là vợ ông T lại gây khó dễ nên mới có tranh chấp. Do đó ông T3 mới qua gặp ông T nói chuyện và ghi âm lại. Bản ghi âm này trước đây thất lạc, nay mới tìm lại được nên mới cung cấp cho Tòa sơ thẩm.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giám sát vụ án và quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng:
Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm kết thúc phần tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm và trước khi nghị án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung kháng cáo, xét thấy:
Kháng cáo của bị đơn là có cơ sở để chấp nhận, đề nghị chấp nhận kháng cáo, hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, giao hồ sơ về để Tòa án cấp sơ thẩm xác minh làm rõ về hàng thừa kế của ông Dương T4 và bà Lư Thị M3, làm rõ tính hợp pháp của hồ sơ khai nhận thừa kế của bà Lư Thị M2 để xác định di sản của bà M2 và liên quan đến việc tranh chấp định đoạt di sản của bà M2.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hình thức: Kháng cáo của bị đơn trong thời hạn luật định và được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định nên được chấp nhận để xem xét lại bản án theo thủ tục phúc thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định chung tại Khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
[2.] Về nội dung kháng cáo: Bị đơn kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
[2.1] Xét nội dung kháng cáo cho rằng di chúc ngày 15/02/2011 vô hiệu do bà Lư thị M2 bị cưỡng ép hoặc lừa dối.
Di chúc ngày 15/02/2011 được lập tại Văn phòng C3, đã được người làm chứng là ông Phạm Minh H2 chứng kiến Công chứng viên đọc lại cho bà M2 nghe, bà M2 đồng ý ký tên lăn tay hoàn toàn tự nguyện không ai ép buộc.
Về phía bị đơn cho rằng bà M2 bị ép buộc hoặc bị lừa dối nhưng không đưa ra được chứng cứ cụ thể chứng minh cho trình bày của mình.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy:
Sau khi Ủy ban nhân dân Quận I cấp Giấy chứng nhận số BB 446809 ngày 12/8/2010 cho bà Lư Thị M2 là đại diện cho các đồng thừa kế của ông Dương T4 và bà Lư Thị M3 đối với T7 đất số 509 Tờ bản đồ số 87 phường L, Quận I, đến ngày 30/11/2010 bà M2 có Văn bản khai nhận di sản tại Văn phòng C5 Thành phố Hồ Chí Minh (BL.201d) – tại Văn bản này bà M2 khai nhận bà M2 là người thừa kế duy nhất của ông Dương T4 và bà Lư Thị M3. Dựa trên Văn bản khai nhận di sản này, Ủy ban nhân dân Quận I đã cập nhật quyền sử dụng đất cho bà Lư Thị M2 vào ngày 05/11/2011 trên Giấy chứng nhận số BB 446809.
Ngày 15/02/2011 – trước khi được công nhận toàn quyền sở hữu trên Giấy chứng nhận số BB 446809, bà Lư Thị M2 đã lập di chúc định đoạt toàn bộ quyền sử dụng đất của thửa đất số 509 nói trên. Tại hồ sơ lập di chúc, bà M2 nộp kèm Văn bản khai nhận di sản tại Văn phòng C5 Thành phố Hồ Chí Minh (BL.201d).
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Dương Minh T3 – người làm chứng có trình bày là ông Dương T4 và bà Lư Thị M3 có 08 người con, gồm:
Ông Nguyễn Văn G, ông Nguyễn Văn V2, ông Dương H4, bà Lê Thị L5, bà Nguyễn Thị L2, ông Dương H3, bà Dương Thị C1 và bà Lư Thị M2.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Ngọc Minh xác N2 ông M1 là con bà Lê Thị M và là cháu ngoại của bà Nguyễn Thị L2, ông M1 gọi bà M2 là bà dì do bà M2 là em của bà Nguyễn Thị L2; Đồng thời, ông M1 cũng xác nhận bà M2 còn nhiều anh, chị khác nhưng ông chỉ biết một số người như ông Nguyễn Văn Đ là con của ông Nguyễn Văn V2, ông Dương Hữu S là con của ông Dương N3 đều là anh của bà M2 và là con của ông Dương T4 và bà Lư Thị M3.
Lời trình bày của người làm chứng và các đương sự khác tại phiên tòa phù hợp với Giấy cam kết năm 2022 (BL.278-280) ghi nội dung cuộc họp nội bộ gia tộc do các đương sự nộp và lưu tại hồ sơ vụ án, nêu rõ ông Dương T4 và bà Lư Thị M3 có tất cả 8 người con, gồm: ông Nguyễn Văn G (chết không rõ năm), ông Nguyễn Văn V2 (chết 1968, có con là Nguyễn Văn Đ), ông Dương H4 (chết năm 2003, có con là ông Dương Minh T3), bà Nguyễn Thị L4 (chết 1986, có con là bà Dương Thị C2), bà Nguyễn Thị L2 (chết 1992, có con là Lê Thị M), ông Dương H3 (1923 – chết 2007, con là Dương Hữu S), bà Dương Thị C (chết 2018, con là Nguyễn Ngọc S1), bà Lư Thị M2 (chết năm 2017, con là Đặng Việt T và Đặng Thị Ngọc N4). Bản cam kết đã được một số đương sự ký tên và nộp cho Tòa án nhưng không được cấp sơ thẩm làm rõ và đưa họ tham gia tố tụng đầy đủ.
Như vậy, việc bà Lư Thị M2 kê khai di sản cam kết bà M2 là con duy nhất của ông Dương T4 và bà Lư Thị M3 là không đúng về mặt nội dung, về hình thức cũng không có sự thống nhất về ngày giờ lập Văn bản khai nhận di sản: tại trang 1 của Văn bản khai nhận di sản ghi lập tại Phòng C4 ngày 30/11/2009 (BL.217) nhưng tại trang số 2 của Văn bản này lại ghi ngày lập văn bản là 30/11/2010 (BL.216).
Vào ngày 05/01/2011 Bà M2 được cập nhật tên chủ sở hữu theo thừa kế lên Giấy chứng nhận số BB 446809, nhưng tại Văn bản số 18180/CNTPTĐ ngày 06/10/2023 Văn phòng Đ2 chi nhánh thành phố T trả lời xác minh nguồn gốc Thửa đất số 509 cấp cho bà Lư Thị M2 là đại diện thừa kế quyền sử dụng đất của ông Dương T4 và bà Lư Thị M3 (BL.262).
Như vậy, việc bà M2 có thực sự được sở hữu toàn bộ quyền sử dụng đất tại Giấy chứng nhận số BB 446809 hay không chưa được xác minh làm rõ. Tại giai đoạn sơ thẩm, đương sự đã nêu về mối quan hệ thân tộc của bà Lư Thị M2 nhưng cấp sơ thẩm không điều tra xác minh và đưa đầy đủ những người này vào tham gia tố tụng để làm rõ các tình tiết liên quan đến việc bà M2 cập nhật về quyền thừa kế của bà M2 trên Giấy chứng nhận số BB 446809 có đúng quy định pháp luật hay không, từ đó xác định quyền và nghĩa vụ của họ (nếu có) trong vụ án.
Do cấp phúc thẩm không thể khắc phục được thiếu sót trên nên cần thiết hủy bản án giao hồ sơ về Tòa án thành phố T để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
[2.2] Bên cạnh đó, cấp sơ thẩm cũng có một số thiếu sót như bị đơn viện dẫn là cùng ngày lập Di chúc 15/02/2011, bà M2 còn lập Hợp đồng ủy quyền cho bà L tại Văn phòng C3, tuy nhiên cấp sơ thẩm không thu thập Hợp đồng ủy quyền này và làm rõ sự liên quan giữa Hợp đồng ủy quyền với Di chúc ngày 15/02/2011 để đối chiếu với lời trình bày của phía bị đơn về việc phủ nhận tính hợp pháp của di chúc.
Ngoài ra, tại phiên tòa sơ thẩm, ông Dương Minh T3 có xuất trình bản ghi âm cuộc nói chuyện giữa ông T3 với ông Đặng Việt T – có thể cho các bên đối chất để làm rõ nội dung liên quan đến di chúc ngày 15/02/2011.
[2.5] Kháng cáo của bà Đặng Thị Nguyệt N, ông Đặng Việt T và bà Dương Thị H1 là có cơ sở, đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015: chấp nhận kháng cáo, hủy một phần bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng sẽ được giải quyết cùng với việc giải quyết lại bản án theo thủ tục sơ thẩm theo quy định tại Khoản 3 Diều 148 Bộ luật tố tụng dan sự năm 2015.
[3.] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do hủy án sơ thẩm, đương sự kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại Khoản 3 Diều 148 Bộ luật tố tụng dan sự năm 2015, được nhận lại tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 148, Điều 271, 272, 273, 276, 278, Khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
I. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đặng Việt T, bà Đặng Thị Nguyệt N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị H1.
- Giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của bà Nguyễn Kim L về việc : yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo di chúc ngày 15/02/2011 của bà Lư Thị M2, công nhận cho bà Nguyễn Kim L được hưởng thừa kế theo di chúc 500m2 đất thuộc Thửa 509 tờ bản đồ số 87 tại phường L, thành phố T và bà Nguyễn Kim L được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để cập nhật quyền sử dụng 500m2 đất lên Giấy chứng nhận số BB446809.
- Hủy một phần bản án sơ thẩm số 3684/2024/DS-ST ngày 09/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đối với phần giải quyết các yêu cầu:
- Công nhận di chúc do bà Lư Thị M2 lập ngày 15/02/2011 tại Văn phòng C3 là di chúc hợp pháp.
- Hủy văn bản khai nhận di sản số 34557 lập tại Phòng C4 do ông Đặng Việt T, bà Đặng Thị Nguyệt N yêu cầu lập.
- Hủy cập nhật biến động qua tên ông Đặng Việt T và bà Đặng Thị Nguyệt N do UBND quận I cập nhật ngày 30/10/2018 trong Giấy chứng nhận QSDĐ và QSHNƠ và tài sản khác gắn liền với đất số BB 446809 do I (nay là ủy ban nhân dân thành phố T) cấp cho bà Lư Thị M2 ngày 12/8/2010.
- Hủy hợp đồng tặng cho số 94 lập giữa ông Đặng Việt T và bà Dương Thị H1 ngày 04/01/2021.
- Hủy cập nhật biến động qua tên bà Dương Thị H1 do UBND thành phố T cập nhật ngày 08/02/2021.
- Duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số: 16/2021/QĐ-BPKCT ngày 25/05/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh cho đến khi vụ việc được giải quyết.
- Về các chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm:
Chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm sẽ được giải quyết cùng với việc giải quyết lại nội dung vụ án.
II. Án phí dân sự phúc thẩm: Đương sự kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
Bà Dương Thị H1 được nhận lại tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu số 004228 ngày 23/08/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
III. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Hiền |
Bản án số 423/2025/DS-PT ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp thừa kế theo di chúc
- Số bản án: 423/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế theo di chúc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: đình chỉ vụ án dân sự phúc thẩm
