|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 423/2024/HSPT Ngày 30 tháng 5 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Duyên
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Tuyết Trinh
Ông Hà Huy Cầu
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Mạnh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 124/2024/HSPT ngày 02 tháng 02 năm 2024 đối với các bị cáo Lê Tấn T, Lê Tấn T1, Lê Thanh T2, Lưu Đan T3; do bản án hình sự sơ thẩm số: 202/2023/HSST ngày 19 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.
Các bị cáo bị kháng cáo:
1. Lê Tấn T, tên gọi khác: Hai L sinh năm 1988 tại tỉnh Bình Thuận; nơi thường trú: Tổ G, khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: Tổ C, Khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Lê Tấn B (đã chết) và bà Huỳnh Thị C, sinh năm 1964; vợ là Nguyễn Thị Kim Y, sinh năm 1993; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 29/5/2023, bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự về hành vi đánh bạc
Nhân thân:
- Ngày 24/11/2005, bị Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự 1999. Chấp hành xong bản án ngày 25/11/2005.
- Ngày 12/02/2007, bị Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Chấp hành xong bản án ngày 29/9/2015.
- Ngày 30/11/2008, bị Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Chấp hành xong bản án ngày 15/11/2012.
- Ngày 28/6/2015, bị Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 Điều 257 Bộ luật Hình sự năm 1999. Chấp hành xong bản án ngày 11/7/2017.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/7/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.
2. Lê Tấn T1, sinh năm 1990 tại tỉnh Bình Thuận; nơi thường trú: Tổ G, khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Lê Tấn B (đã chết) và bà Huỳnh Thị C, sinh năm 1964; vợ là Đặng Thị Bích X, sinh năm 1992; có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 12/01/2009, bị Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Chấp hành xong bản án ngày 12/01/2010;
- Ngày 28/6/2015, bị Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù giam về tội “Chống người thi hành công vụ”, quy định tại khoản 1 Điều 257 Bộ luật Hình sự năm 1999. Chấp hành xong bản án ngày 11/12/2015.
- Ngày 29/11/2017, bị Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù giam về tội “Chống người thi hành công vụ”, quy định tại khoản 1 Điều 257 Bộ luật Hình sự năm 1999. Chấp hành xong bản án ngày 13/9/2018
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/7/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.
3. Lê Thanh T2, tên gọi khác: Út C1 sinh năm 2000 tại tỉnh Bình Thuận; nơi thường trú: Tổ G, khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Lê Tấn B (đã chết) và bà Huỳnh Thị C, sinh năm 1964; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/7/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.
4. Lưu Đan T3, sinh năm 2003 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi thường trú: Ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Chỗ ở hiện nay: Ấn A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Lưu Kim C2, sinh năm 1972 và bà Võ Thị P, sinh năm 1976; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/7/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.
2
Người bào chữa theo các bị cáo Lê Tấn T, Lê Tấn T1, Lê Thanh T2, Lưu Đan T3: Luật sư Đổng Mây H, Luật sư Dương Thị Huyền T4 thuộc Hãng luật H1 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (Luật sư T5 có mặt, luật sư T4 vắng mặt).
(Ngoài ra trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ ngày 19 tháng 7 năm 2023, tại quán “Ốc B" thuộc khu phố C, thị trấn T, huyện T tỉnh Đồng Nai, anh Lê T6 có mời Lê Tấn T, Lê Tấn T1, Lê Thanh T2, Đỗ Văn T7, Lưu Đan T3, Trương Văn Đ, Vi Văn T8 tham dự sinh nhật và uống rượu bia. Lúc này, T1 điều khiển xe mô tô đi đến nhà ông U M (thường gọi Sáu M1) mượn 01 loa hát karaoke mang đến quán “Ốc Ba L1” để hát. Trong quá trình uống rượu, bia thì giữa T1 và T xảy ra mâu thuẫn cãi nhau về việc nghi T1 sử dụng ma túy với ông M1. Sau đó, T1 lấy xe mô tô chở loa karaoke đi trả cho ông M1. Thấy vậy, T lấy xe mô tô chạy theo T1 và nói “để tao xuống nhà đập đầu ông Sáu M1” rồi chạy theo. Do sợ, khi T đến nhà ông M1 sẽ xảy ra đánh nhau nên T2 có rủ T7, Đan T3 và Đ cùng đi. Lúc này, T2 điều khiển xe mô tô chở T3, Đ điều khiển xe mô tô chở T7 đến nhà ông M1 còn Vi Văn T8 và Lê Tấn N vẫn ngồi uống rượu bia.
Khoảng 0 giờ 10 phút ngày 20 tháng 7 năm 2023, T1 đến và mang loa karaoke vào trong nhà trả cho ông M1. Lúc này, T cũng vừa đi đến, T dùng tay kẹp cổ kéo ông M1 từ trong nhà đi ra ngoài và kêu ông M1 ngồi xuống rồi dùng chân phải đạp vào người làm ông M1 té ngã, ông M1 đứng dậy bỏ chạy. Lúc này nhóm T2, T7, T8 và Đ cũng đi xe mô tô đến. Thấy ông M1 chạy về phía T8 nên T8 dùng tay phải đánh trúng vào mặt làm ông M1 ngã xuống đường, T tiếp tục dùng tay đánh 02 cái vào mặt ông M1, T1 đi đến bế ông M1 đi về hướng nhà và đặt vào góc tường sát bụi cỏ rồi dùng tay trái đánh 01 cái vào mặt, dùng chân đạp liên tiếp 02 cái vào đùi của ông M1. T tiếp tục đi đến đánh ông M1 nhưng T8 kéo T ra và dùng chân đạp 02 cái vào hông phải ông M1. Thấy vậy, T2 đi đến dùng chân phải đạp 03 cái vào chân ông M1, còn Trương Văn Đ và Đỗ Văn T7 đứng cách đó khoảng 07m chứng kiến sự việc và không tham gia đánh ông M1.
Sau đó, T nói T1 ngồi sau xe mô tô ôm ông M1 để T chở đến C3 ma túy. Đi được một đoạn thì T chở ông M1 và T1 quay lại nhà ông M1 và thả ở ngoài đường. Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 20 tháng 7 năm 2023, gia đình ông M1 phát hiện ông M1 tử vong nên đã trình báo Cơ quan điều tra.
- Vật chứng thu giữ: 02 cây gỗ (loại tầm vông); 01 dép nhựa cao su màu xanh; 01 mắt kính; 01 tờ tiền 20.000 đồng thu giữ tại hiện trường không liên quan đến vụ án. 03 mẫu máu (đã giám định), 01 USB màu đen có chứa 02 đoạn video thể hiện nội dung liên quan đến vụ án lưu trong hồ sơ vụ án.
3
Tại Kết luận giám định tử thi số 1563/KL-KTHS ngày 05 tháng 9 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Ông U M bị xây sát, bầm tím, rách da trán-thái dương phải. Tụ máu dưới da, cơ trán-thái dương phải. xây sát, bầm tím, rách da đỉnh-chẩm trái. Tụ máu dưới da, cơ thái dương-chẩm trái. Xuất huyết dưới nhện lan tỏa hai bán cầu. Xuất huyết não thùy thái dương phải. Xuất huyết trong não thất. Bầm tím da vùng ngực đầu trên xương ức. Tụ máu dưới da, cơ vùng xương ức mặt trên và dưới, gãy ngang thân xương ức. Tụ máu mặt trước bao màng ngoài tim. Bầm tím da hạ sườn phải. Tụ máu dưới da, cơ hạ sườn phải và gãy xương sườn số 8 bên phải. Hai phổi dính vào màng phổi, sung huyết, xuất huyết, nhu mô kém xốp, thùy trên hai phổi thấy ổ nhu mô đặc màu đỏ trắng. Mô bệnh học: Viêm cơ tim và nhồi máu cơ tim cấp, viêm lao phổi. Nguyên nhân tử vong: Đa chấn thương: Chấn thương sọ não: Xuất huyết dưới nhện lan tỏa hai bán cầu. Xuất huyết não thùy thái dương phải. Xuất huyết trong não thất. Chấn thương ngực kín: Gãy xương ức, gãy xương sườn, tụ máu mặt trước bao màng ngoài tim. Hung khí: Vật tày và vật tày có cạnh.
Cơ chế hình thành thương tích: Nạn nhân bị tác động bởi vật tày và vật tày có cạnh vào vùng đầu, mặt, ngực, lưng, tay, mông dẫn đến đa chấn thương và tử vong. Viêm cơ tim, nhồi máu cơ tim là do tình trạng đa chấn thương, mất máu gây nên. Môi trường độc hại, bệnh truyền nhiễm nhóm B (viêm lao phổi).
Quá trình điều tra: Chị U Kim H đại điện hợp pháp của bị hại yêu cầu Lê Tấn T, Lê Tấn T1, Lê Thanh T2 và Đỗ Văn T7 bồi thường chi phí mai táng và tổn thất tinh thần với số tiền 200.000.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 202/2023/HSST ngày 19 tháng 12 năm 2023, Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã quyết định:
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo T, T1, T2. Tuyên bố các bị cáo Lê Tấn T, Lê Tấn T1, Lê Thanh T2, Lưu Đan T3 phạm tội “Giết người”.
Xử phạt các bị cáo:
- Lê Tấn T tù chung thân, thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2023.
- Lê Tấn T1 17 (mười bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/7/2023.
- Lê Thanh T2 14 (mười bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/7/2023.
- Lưu Đan T3 16 (mười sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/7/2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo khác, phần dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
4
Ngày 27/12/2023, các bị cáo Lê Tấn T, Lê Tấn T1, Lê Thanh T2, Lưu Đan T3 kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét về tội danh và xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, các bị cáo Lê Tấn T, Lê Tấn T1, Lê Thanh T2, Lưu Đan T3 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Bị cáo Lê Thanh T2 thông qua người thân trong gia đình thực hiện việc bồi thường thêm cho gia đình bị hại số tiền 20.000.000 đồng.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo các bị cáo Lê Tấn T, Lê Tấn T1, Lê Thanh T2, Lưu Đan T3 về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật. Mức án mà Tòa sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp. Các bị cáo Lê Tấn T, Lê Tấn T1, Lưu Đan T3 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết gì mới, riêng bị cáo T2 có động viên gia đình nộp khắc phục hậu quả 20.000.000 đồng. Gia đình bị hại thừa nhận đã nhận tại toà. Nhưng xét thấy mức hình phạt mà Toà sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của các bị cáo, giữ y bản án sơ thẩm.
-Luật sư bào chữa cho các bị cáo: Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội “Giết người” là chưa phù hợp với bản chất vụ án. Mặc dù có hậu quả chết người nhưng các bị cáo không mong muốn tước đoạt mạng sống của bị hại, các bị cáo đã có ý thức đưa bị hại đến Cơ quan Công an huyện trình báo nhưng lại quay lại. Do vậy, hành vi của các bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung là “hậu quả chết người”. Ngoài ra, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình có hoàn cảnh khó khăn nhưng đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000 đồng; Các bị cáo T, T1, T2 đều là anh em ruột, quá trình gây án không sử dụng hung khí, phạm tội do bột phát không có sự bàn bạc, cường độ tấn công không lớn; các bị cáo T và T1 hiện đang nuôi con nhỏ. Tại phiên toà hôm nay, bị cáo T2 cũng đã thông qua người thân trong gia đình thực hiện việc bồi thường thêm cho gia đình bị hại số tiền 20.000.000 đồng, vai trò của T2 và T3 trong vụ án là thứ yếu, gia đình bị hại có đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo hưởng một mức hình phạt phù hợp để thấy được sự khoan dung của pháp luật, tạo động lực trong quá trình cải tạo tốt để sớm về với gia đình và vợ con.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của Luật sư và của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1] Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo của các bị cáo Lê Tấn T, Lê Tấn T1, Lê Thanh T2, Lưu Đan T3: Đơn kháng cáo của các bị cáo các bị cáo Lê Tấn T, Lê Tấn T1, Lê Thanh T2, Lưu Đan T3 được làm trong thời hạn luật định. Do đó, đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
5
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Lê Tấn T, Lê Tấn T1, Lê Thanh T2, Lưu Đan T3 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Nhưng cho rằng hành vi của các bị cáo là hành vi của tội “Cố ý gây thương tích”. Xét, căn cứ vào các lời khai của các bị cáo, người liên quan, và các tài liệu chứng cứ khác đã có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 20 tháng 7 năm 2023, tại tổ C, khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Lê Tấn T, Lê Tấn T1, Lê Thanh T2, Lưu Đan T3 có hành vi dùng tay, chân đấm, đá, đạp vào chân, tay, đầu, cổ và người ông U M, hậu quả, ông U M tử vong. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng và các chứng cứ khác có tại hồ sơ, đủ cơ sở kết luận các bị cáo Lê Tấn T, Lê Tấn T1, Lê Thanh T2 và Lưu Đan T3 đã dùng tay, chân đánh vào mặt, đùi, hông trái và chân của ông U M dẫn đến tử vong.
Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn không có sự bàn bạc từ trước. Bị cáo T đi đến dùng tay kẹp cổ ông M kéo ra ngoài và dùng chân phải đạp vào người làm ông M té ngã. Ông M đứng dậy bỏ chạy thì Đan T3 đi đến dùng tay phải đánh trúng vào mặt làm ông M ngã xuống đường, T tiếp tục dùng tay đánh 02 cái trúng vào mặt ông M, T1 đi đến bế ông M và đặt vào góc tường sát bụi cỏ rồi dùng tay trái đánh 01 cái vào mặt, dùng chân đạp liên tiếp 02 cái vào đùi, T tiếp tục đi đến nhưng được Đan T3 kéo T ra và Đan T3 tiếp tục dùng chân đạp 02 cái trúng vào hông phải của ông M, T2 dùng chân phải đạp 03 cái trúng vào chân của ông M. Với những diễn biến, cường độ tấn công như trên của các bị cáo Lê Tấn T, Lê Tấn T1, Lê Thanh T2, Lưu Đan T3 đối với ông M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự như cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử là có căn cứ. Nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo về tội danh.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Hành vi của các bị cáo Lê Tấn T, Lê Tấn T1, Lê Thanh T2 và Lưu Đan T3 là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây đau thương mất mát cho gia đình nạn nhân. Các bị cáo T, T1 nhiều lần bị kết án nhưng không tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội.
Do vậy, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của từng bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Lê Tấn T, Lê Tấn T1, Lê Thanh T2 và Lưu Đan T3, Hội đồng xét xử xét thấy:
Khi quyết định hình phạt Tòa sơ thẩm có xem xét các tình tiết giảm nhẹ cũng như nhân thân của các bị cáo; bị cáo T và T1 có nhân thân xấu; các bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; các bị cáo T, T1, T2 đều là anh em ruột; có hoàn cảnh khó khăn, học vấn thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế. Do vậy, cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo; áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo T, T1, T2.
Đối chiếu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo như trên, cấp sơ thẩm đã áp dụng mức hình phạt chung thân đối với bị cáo T; 17 năm tù đối với bị
6
cáo T1, 14 năm tù đối với bị cáo T2 và 16 năm tù đối với bị cáo T3 là phù hợp. Tuy nhiên, tại phiên toà hôm nay, bị cáo T2 đã động viên gia đình khắc phục cho gia đình bị hại 20.000.000 đồng. Đây là tình tiết mới thể hiện sự ăn năn hối cải của bị cáo và gia đình bị hại cũng có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo đã khắc phục toàn bộ phần trách nhiệm dân sự của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo T2, giảm một phần hình phạt cho bị cáo T2. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo khác kháng cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Do đó, không có cơ sở xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
[5] Các nội dung khác của quyết định bản án không có kháng cáo, không có kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật để thi hành.
[6] Do kháng cáo của các bị cáo Lê Tấn T, Lê Tấn T1, Lê Thanh T2 và Lưu Đan T3 không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
I/ Không chấp nhận kháng cáo của các Lê Tấn T, Lê Tấn T1 và Lưu Đan T3; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thanh T2. Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 202/2023/HS-ST ngày 19/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Tuyên xử:
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo T, T1, T2.
Tuyên bố các bị cáo Lê Tấn T, Lê Tấn T1, Lê Thanh T2, Lưu Đan T3 phạm tội “Giết người”.
Xử phạt các bị cáo:
- Lê Tấn T tù chung thân, thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2023.
- Lê Tấn T1 17 (mười bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/7/2023.
- Lê Thanh T2 12 (mười hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/7/2023.
- Lưu Đan T3 16 (mười sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/7/2023.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Số tiền 20.000.000 đồng gia đình bị cáo T2 khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại (đã giao nhận tại phiên toà) sẽ được khấu trừ vào phần trách nhiệm dân sự của bị cáo Lê Thanh T2 trong giai đoạn thi hành án.
II/ Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Lê Tấn T, Lê Tấn T1 và Lưu Đan T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
7
III/ Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thanh Duyên |
8
Bản án số 423/2024/HSPT ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm về tội giết người
- Số bản án: 423/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Giết người
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Tấn T, Lê Tân T2, Lưu Đan T4, chấp nhận kháng cáo bị cáo Lê Thanh T3, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm
