|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 423/2024/DS-PT
Ngày: 29 - 8 - 2024
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp lối đi”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Văn Cường.
Các Thẩm phán:
- Ông Nguyễn Văn Nam.
- Bà Võ Thị Hồng Mai.
Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Minh Huy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bé Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên tòa xét xử công khai phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 282/TLPT-DS ngày 25 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và lối đi”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2024/DS-ST ngày 19/6/2024 của Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 378/2024/QĐ-PT, ngày 09 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1984; địa chỉ: Khu phố S, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Hải L, sinh năm 1995; địa chỉ: Khu phố S, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của anh L: ông Võ Văn S, sinh năm: 1971; địa chỉ: khu phố G, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1970; có mặt.
- Bà Lâm Kim N1, sinh năm 1974; có mặt.
- Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1973; vắng mặt.
Cùng trú tại: khu phố S, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông N, bà N1: ông Võ Văn S, sinh năm: 1971; địa chỉ: khu phố G, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Người kháng cáo: bị đơn anh Nguyễn Hải L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc T trình bày: Cha chị (ông Nguyễn Văn K) là em ruột của ông nội anh L (ông 9 M, đã chết). Chị được quyền sử dụng đất diện tích 555,7m², thửa 2409, tờ bản đồ số 31, tọa lạc tại khu phố S, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS30293 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 21/11/2022, nguồn gốc do cha chị ông Nguyễn Văn K cho tặng. Trước đây cha chị có được ông, bà chừa lối đi nội bộ rộng khoảng 2,5m, giáp nhà ông Phan Văn C để đi ra đường công cộng (đường B). Sau đó cha của anh Nguyễn Hải L (ông Nguyễn Văn N) xin cha chị xây dựng nhà trên lối đi và chừa lại đường khác giáp ranh nhà ông Nguyễn Minh T1 để gia đình chị có lối đi ra đường công cộng, cha chị đã đồng ý cho ông N xây dựng nhà trên đường nội bộ và mở lại đường khác đúng như thỏa thuận ban đầu. Hiện tại ông N đã cho tặng quyền sử dụng đất của ông N lại cho anh Nguyễn Hải L, thời gian gần đây anh L tự ý rào lối đi trên lại khiến chị và các anh em khác không thể sử dụng lối đi như thỏa thuận. Khi chị yêu cầu địa phương giải quyết thì anh L đồng ý thỏa thuận để lại phần đất trống giáp đất ông T1 để gia đình chị làm lối đi chung, chị sẽ để lại phần đất khoảng 13m² cho anh L sử dụng. Tuy nhiên, anh L không thực hiện theo sự thỏa thuận trên, đồng thời ngăn cản không cho chị sử dụng lối đi nêu trên.
Nay chị yêu cầu anh L trả lại lối đi nôi bộ đo đạc thực tế là 31,1m² (rộng 2,3m, dài từ đường B đến đất của chị).
Chị không tranh chấp và không yêu cầu giải quyết phần đất đo đạc thực tế là 11,7m² (mặt hậu đất của anh L) trước đây chị đã khởi kiện.
Bị đơn anh Nguyễn Hải L trình bày: Lối đi chị T tranh chấp với anh có nguồn gốc là của cha anh (ông Nguyễn Văn N) tặng cho anh. Trước đó là của 02 người cô ruột của cha anh (Bà Nguyễn Thị M1 và bà Nguyễn Thị M2, đều đã chết). Còn nguồn gốc xa xưa trước đây là của ông bà để lại. Cụ thể, hiện nay anh đang sử dụng diện tích đất 182,8m², thửa 359, tờ bản đồ số 31, tọa lạc tại khu phố S, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS14703 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 07/9/2015.
+ Phần diện tích đất anh đang sử dụng có nguồn gốc là của cha anh (ông Nguyễn Văn N) cho tặng anh, trước đó là đất của bà Nguyễn Thị M2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị M1 (đã chết), bà M3, bà M1 là chị ruột của ông nội anh. Trước đó, đất có nguồn gốc là của ông bà xa xưa chết để lại cho con cháu nhưng anh không biết có phải ông nội anh được chia hay không, anh chỉ biết tới giai đoạn hai người cô của cha anh là bà M2 và bà M1 cho tặng lại cho cha anh.
+ L1 đi cũ mà bên chị T trình bày trước đây ở vị trí giáp ranh nhà ông C, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh, trước khi cha anh cho anh thì cha anh xây nhà chừa lại một khoảng vừa đủ để đi lại, ví dụ lắp đặt máy lạnh, dọn dẹp vệ sinh... hiện nay vẫn còn nhưng không đi lại. Trước khi gia đình anh và gia đình ông C xây nhà ở thì gia đình chị T sử dụng lối đi giữa đất của gia đình anh và gia đình ông C để đi ra đường công cộng.
+ Việc thỏa thuận cho gia đình bà T đi lại lối đi giáp ranh đất ông T1 chỉ là cho đi tạm, sau này gia đình anh có nhu cầu sử dụng đất nên không cho đi nữa.
Nay anh không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Kim N1 trình bày: Bà và chồng bà là ông Nguyễn Văn N có cho tặng anh Nguyễn Hải L quyền sử dụng đất diện tích 182,8m², thửa 359, tờ bản đồ số 31, tọa lạc tại khu phố S, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, đất có nguồn gốc là của các cô ruột của ông N (Bà M2, bà M1) cho tặng ông N. Trước khi cho tặng anh L thì vợ chồng bà đã xây dựng nhà ở trên đất và hiện nay vợ chồng bà vẫn sống chung với anh L. Lối đi cũ theo như lời trình bày của chị T thì bà không thể xác định được hiện nay nằm bên đất gia đình bà hay gia đình ông C do giữa hai nhà đều xây dựng nhà mới, bà đề nghị Tòa án căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các bên để xác định. Gia đình bà có chừa một phần đất trống giáp đất ông T1 để con ông K làm chỗ sửa xe và đi lại đỡ. Hiện nay vợ chồng bà đã làm thủ tục sang tên cho L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì vậy gia đình bà rào lại để sử dụng đúng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lối đi cũ mà chị T trình bày bà không xác định được vị trí hiện tại, vợ chồng bà xây nhà đúng vị trí theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay bà không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Đ trình bày: Ông là anh ruột của chị T, ông cũng được cha ông chia một phần đất giáp với đất chị T, trước đây gia đình ông cũng sử dụng lối đi cũ mà ông nội ông để lại cho cha ông, để đi ra đường B. Ông nội ông cũng chia cho cô M2, cô M1 phần đất giáp với đường B, sau đó cô M2 và cô M1 cho lại ông N, các bên vẫn sử dụng đường đi bình thường, đến khi ông N xây dựng nhà ở thì thỏa thuận với gia đình ông dời đường qua vị trí mới, gia đình ông đồng ý và cũng đi lại bình thường, đến khi anh L được ông N cho tặng quyền sử dụng đất thì chiếm hết đường đi, không cho các anh chị em của ông sử dụng để đi ra đường B. Nay ông cũng yêu cầu anh L trả lại lối đi mới đã dời theo đo đạc thực tế là 31,1m² (rộng 2,3m, dài từ đường B đến đất của ông). Các anh chị em của ông không yêu cầu anh L phải mở lại lối đi cũ do gia đình anh L đã xây nhà ở trên vị trí lối đi cũ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn N thể hiện lời trình bày có trong hồ sơ: thống nhất với lời trình bày của bà N1.
Bản án sơ thẩm số 33/2024/DS-ST ngày 19/6/2024 của Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, quyết định:
Căn cứ vào các Điều 157, 165, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 245, 254 Bộ luật Dân sự; Điều 203 Luật Đất đai; các Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp quyền quyền sử đất là lối đi của chị Nguyễn Ngọc T đối với anh Nguyễn Hải L.
- Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất của chị Nguyễn Ngọc T đối với anh Nguyễn Hải L, đối với diện tích đất 11,7m², trong thửa 359, tờ bản đồ 31 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố S, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh
Buộc anh Nguyễn Hải L có nghĩa vụ phải trả lại lối đi chung có diện tích 31,1m², trong thửa 359, tờ bản đồ 31 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố S, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, có tứ cận: Đông giáp đất ông T1 dài 13,65m, Tây giáp đất anh L dài 12,97m, Nam giáp đường B nhựa dài 2,3m, Bắc giáp đất chị T dài 2,3m (Có sơ đồ kèm theo).
Kiến nghị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS14703, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp cho anh Nguyễn Hải L ngày 07/9/2015, đối với diện tích 31,1m², trong thửa 359, tờ bản đồ 31 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố S, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh thành lối đi chung, không thuộc quyền sử dụng đất của anh L.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Theo đơn kháng cáo ngày 29 tháng 6 năm 2024 của bị đơn anh Nguyễn Hải L kháng cáo đối với bản án số 33/2024/DS-ST ngày 19/6/2024 của Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc mở lối đi.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Anh L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như nội dung trên; chị T không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh L đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
- - Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh; chấp nhận một phần kháng cáo của anh L.
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; sửa bản án sơ thẩm số: 33/2024/DS-ST ngày 19-6-2024 của Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng, buộc chị T thanh toán lại giá trị phần chênh lệch là 0,8m chiều ngang theo giá đã định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Hải L làm trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo, kháng nghị thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm phù hợp với quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Hải L, thấy rằng:
Nguồn gốc lối đi tranh chấp: Qua xác minh, thu thập chứng cứ, quá trình đối chất giữa các đương sự, diện tích lối đi tranh chấp mà chị T yêu cầu anh L mở trước đây thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn N, đã cho tặng lại anh Nguyễn Hải L vào năm 2015, trước đó ông N được hưởng thừa kế từ bà Nguyễn Thị M2 và bà Nguyễn Thị M1 là cô ruột của ông N.
Khi phân chia đất thì trong tông chi của ông N (cha anh L), ông K (cha chị T) trước đó (từ trước năm 1975) đã có chừa lối đi để đi ra đường công cộng, lối đi cũng đã được thể hiện lên bản đồ địa chính năm 2005, lối đi tiếp giáp giữa đất của bà M2, bà M1 và gia đình ông C. Sau khi được thừa hưởng đất của bà M2, bà M1 thì ông N tiến hành xây dựng nhà ở, do nhu cầu đi lại của các hộ dân trong khu vực trên lối đi trên giảm (Nhà nước có mở thêm đường) nên ông N xây dựng nhà lên phần diện tích lối đi, đồng thời có thỏa thuận di dời lối đi sang vị trí tiếp giáp với đất của ông T1 để gia đình ông K đi ra đường công cộng. Đến khoảng năm 2022, gia đình ông N và gia đình ông K xảy ra mâu thuẫn nên gia đình ông N ngăn cản không cho gia đình ông K sử dụng lối đi trên.
Qua xác minh thực tế giữa gia đình ông N và gia đình ông K có thỏa thuận dời lối đi sang vị trí tiếp giáp đất ông T1. Ngoài lối đi đang tranh chấp thì chị T và các anh chị em khác của chị T không có lối đi nào khác để đi ra đường công cộng (ngoài việc đi nhờ qua đất của các hộ dân khác).
Lối đi các đương sự tranh chấp do ông bà của chị T, anh L chừa ra để chở vật liệu nông nghiệp đi ra vào sản xuất từ năm 1975, có sự xác nhận của anh Nguyễn Minh T1, sinh năm 1977; ông Phan Văn C, sinh năm 1957; ông Phan Văn N2, sinh năm 1960; ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1951; ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1944; ông Nguyễn Văn H (Trưởng khu phố S). Năm 2015 anh L được cha là ông N tặng cho quyền sử dụng đất này, anh L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được cấp cả lối đi này. Năm 2023 anh L không cho gia đình chị T đi trên lối đi này, hai bên tranh chấp ra hoà giải tại khu phố. “Hội đồng hoà giải khu phố, anh L đồng ý để lối đi ngang 1,5m dài hết đất vị trí giáp đất ông T1. Lưu ý chỉ sử dụng vào mục đích làm lối đi, đặt ống ngầm thoát nước; không được trồng cây hoặc xây dựng gì cả”.
Theo thỏa thuận trên, cấp sơ thẩm buộc anh L mở lối đi ngang 2,3m là vượt quá thỏa thuận của các bên, ảnh hưởng đến quyền lợi của anh L đối với diện tích 0,8m, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không buộc chị T thanh toán lại số tiền giá trị đất 0,8m của anh L.Vì vậy, cấp phúc thẩm xem xét buộc chị T phải có nghĩa vụ thanh toán lại cho anh L giá trị quyền sử dụng đất vượt quá thỏa thuận theo giá đã định.
Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận 01 phần yêu cầu kháng cáo của anh L, công nhận lối đi có diện tích như án sơ thẩm. Buộc chị T có nghĩa vụ thanh toán lại cho anh L giá trị diện tích đất ngang 0,8m x dài 12,97m = 10,37m² x 8.000.000 đ/m² = 83.006.000 đồng.
[3] Đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: chị T phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho anh L. Anh L phải chịu án phí đối với yêu cầu của chị T được chấp nhận.
[5] Chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 8.000.000 (tám triệu) đồng, chị T đã nộp tạm ứng, do yêu cầu của chị T được chấp nhận 01 phần nên chị T phải chịu 2.667.000 đồng, anh L phải chịu 5.333.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Chấp nhận một phần kháng cáo của anh Nguyễn Hải L;
- - Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2024/DS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:
Căn cứ vào các Điều 157, 165, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 245, 254 Bộ luật Dân sự; Điều 203 Luật Đất đai; các Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất và lối đi của chị Nguyễn Ngọc T đối với anh Nguyễn Hải L.
- Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất của chị Nguyễn Ngọc T đối với anh Nguyễn Hải L, đối với diện tích đất 11,7m², trong thửa 359, tờ bản đồ 31 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố S, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
- Buộc chị Nguyễn Ngọc T có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Hải L giá trị diện tích đất ngang 0,8m x dài 12,97m với số tiền 83.006.000 (tám mươi ba triệu, không trăm lẻ sáu nghìn) đồng.
- Về án phí:
Buộc anh Nguyễn Hải L có nghĩa vụ phải trả lại lối đi chung có diện tích 31,1m², trong thửa 359, tờ bản đồ 31 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố S, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, có tứ cận: Đông giáp đất ông T1 dài 13,65m, Tây giáp đất anh L dài 12,97m, Nam giáp đường B nhựa dài 2,3m, Bắc giáp đất chị T dài 2,3m (Có sơ đồ kèm theo).
Kiến nghị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS14703, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp cho anh Nguyễn Hải L ngày 07/9/2015, đối với diện tích 31,1m², trong thửa 359, tờ bản đồ 31 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố S, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh thành lối đi chung, không thuộc quyền sử dụng đất của anh L.
4.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 4.150.300 đồng. khấu trừ số tiền 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng chị T đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0027328 ngày 26/06/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Chị T còn phải nộp số tiền 3.550.300 (ba triệu năm trăm năm mươi nghìn ba trăm) đồng.
- - Anh L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
4.2. Án phí phúc thẩm: anh Nguyễn Hải L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho anh L số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0015628 ngày 01-7-2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Chi phí tố tụng: Buộc anh L có nghĩa vụ phải thanh toán lại cho chị T số tiền 5.333.000 (năm triệu ba trăm ba mươi ba nghìn) đồng chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Văn Cường |
Bản án số 423/2024/DS-PT ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp lối đi
- Số bản án: 423/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp lối đi
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị T yêu cầu anh L trả lại lối đi nôi bộ đo đạc thực tế là 31,1m2 (rộng 2,3m, dài từ đường B đến đất của chị). Chị không tranh chấp và không yêu cầu giải quyết phần đất đo đạc thực tế là 11,7m2 (mặt hậu đất của anh L) trước đây chị đã khởi kiện.
