TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 423/2024/DS-PT
Ngày: 14 - 5 - 2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phạm Hồng Giảng |
| Các Thẩm phán: | Bà Nguyễn Thị Thanh Hiền |
| Bà Vũ Thị Thu Hương. |
Thư ký phiên tòa: Bà Trương Nguyễn Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hồng – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 07 và 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 208/DSPT ngày 26 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 579/2023/DS-ST ngày 29-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1478/QĐXXPT-DS ngày 20 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
- Ông Lâm Bảo B, sinh năm 1978;
- Bà Võ Thị Minh P, sinh năm 1977.
Cùng địa chỉ: Số E B, Phường A, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện hợp pháp theo ủy quyền:
- Bà Trần Thị Kim Q, sinh năm: 1988 (Có mặt);
- Bà Mai Thị Quỳnh N, sinh năm: 2001 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: D Chung cư E, phường P, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Văn bản ủy quyền ngày 08/7/2023).
Bị đơn: Công ty Cổ phần B1
Địa chỉ: B Chung cư S, Cụm B – Khu dân cư 13E (Phía N), Đô thị mới Nam Thành phố, ấp E, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện hợp pháp theo ủy quyền:
Bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1996 (Có mặt).
Địa chỉ: Tầng B, Tòa nhà A G, số D Đ, Phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Văn bản ủy quyền ngày 06/5/2024).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22/3/2023, sửa đổi bổ sung ngày 17/4/2023 và quá trình tố tụng, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 21/05/2019, nguyên đơn và Công ty cổ phần B1 (gọi tắt là Công ty) ký Hợp đồng mua bán căn hộ số A18.23/HĐMB-SGINTELA/2019, (gọi tắt là Hợp đồng). Giá trị hợp đồng chưa bao gồm VAT là: 1.176.012.085 đồng; đã bao gồm VAT là: 1.278.326.000 đồng. Trong quá trình thực hiện “Hợp đồng”, nguyên đơn đã thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thời hạn quy định tại Điều 2 Phụ lục số 2 của Hợp đồng.
Theo quy định tại khoản 1.19 Điều 1 và khoản 8.1 Điều 8 của Hợp đồng, thời hạn dự kiến bàn giao căn hộ là ngày 31/03/2020 và ngày phải bàn giao căn hộ có thể sớm hơn hoặc muộn hơn so với ngày bàn giao dự kiến là 03 tháng, tức ngày phải bàn giao căn hộ muộn nhất là ngày 30/06/2020.
Công ty có thông báo về thời gian diễn ra dịch bệnh Covid-19 từ ngày 11/03/2020 đến ngày 04/05/2020 (tổng cộng 54 ngày) là sự kiện bất khả kháng dẫn đến tình trạng dự án phải tạm ngừng thi công nên sẽ cộng thêm 54 ngày vào thời gian bàn giao căn hộ. Nguyên đơn không đồng ý với Công ty đây là sự kiện bất khả kháng, bởi lẽ không có công văn nào của Nhà nước công nhận đây là sự kiện bất khả kháng, nhưng nguyên đơn đồng ý chia sẻ khó khăn với Công ty bằng cách đổi ngang 17 ngày nguyên đơn thanh toán trễ ở đợt 2 với 54 ngày này, tương đương việc nguyên đơn đồng ý giảm trừ 54 ngày (thay vì 17 ngày) trong thời gian Công ty chậm bàn giao căn hộ.
Thực tế Công ty bàn giao căn hộ cho nguyên đơn vào ngày 01/11/2022 (đính kèm Biên bản bàn giao căn hộ ngày 01/11/2022). Vì thế, từ ngày 01/07/2020 đến ngày 31/10/2022, Công ty đã chậm bàn giao căn hộ cho nguyên đơn là 852 ngày, sau khi giảm trừ 54 ngày diễn ra dịch bệnh thì số ngày tính chậm bàn giao căn hộ là 798 ngày.
Nay nguyên đơn khởi kiện đòi toàn bộ số tiền phạt vi phạm hợp đồng do chậm bàn giao căn hộ tương ứng thời gian 798 ngày và số tiền chuyển đổi từ bộ quà tặng nội thất sang tiền mặt (đính kèm mail trao đổi giữa Công ty và nguyên đơn) và khoản tiền bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Tiền thuê nhà từ ngày 01/10/2021 đến hết ngày 31/10/2022).
Phần thứ I: Kiện đòi toàn bộ số tiền phạt vi phạm hợp đồng do chậm bàn giao căn hộ (799 ngày).
Theo điểm a, Khoản 12.1, Điều 12 của Hợp đồng “Bên Bán sẽ bị phạt bằng 0,03% trên mỗi ngày trễ hạn đối với số tiền Bên Mua đã thanh toán cho Bên Bán (không bao gồm thuế GTGT và kinh phí bảo trì) tính trên thời gian chậm bàn giao Căn hộ kể từ ngày phải bàn giao Căn hộ theo quy định tại Khoản 8.1 Điều 8 Hợp đồng này trừ trường hợp do lỗi của Bên Mua”. Số tiền phạt chậm bàn giao, được tính theo công thức sau:
Số tiền phạt chậm bàn giao = Số ngày tính lãi x 0.03%/ngày x Số tiền Bên mua đã thanh toán cho Bên bán (không bao gồm thuế GTGT và kinh phí bảo trì).
Giá trị HĐMB (chưa VAT) x Số tiền phạt tính do chậm bàn giao 70% = 1.176.012.085 đồng x 70% = 823.208.460 đồng.
Số tiền phạt tính do chậm bàn giao x Tổng số ngày chậm bàn giao x 0,03%/ngày = 823.208.460 đồng x 798 ngày x 0,03%/ngày = 197.076.105 đồng.
Phần thứ II: Số tiền chuyển đổi từ bộ quà tặng nội thất sang tiền mặt.
Vào ngày 03/11/2022, Công ty có gửi mail cho nguyên đơn về việc đề nghị chuyển đổi bộ quà tặng nội thất quy đổi thành tiền mặt đã bao gồm VAT là 72.328.814 đồng và chưa bao gồm VAT là 65.095.933 đồng. Nguyên đơn đồng ý và yêu cầu công ty thanh toán trong vòng 30 ngày kể từ ngày ký hồ sơ, nếu chậm thanh toán thì Công ty phải chịu thêm phần lãi 0,03%/ ngày chậm thanh toán. Tuy nhiên, nguyên đơn và công ty không thống nhất được phần lãi phạt mà nguyên đơn đã đưa ra trước đó. Đến ngày 16/11/2022, Công ty có hẹn nguyên đơn lên hoàn tất thủ tục ký kết hồ sơ chuyển đổi bộ quà tặng nội thất sang tiền mặt, hai bên đã tiến hành ký kết nhưng đến nay Công ty vẫn chưa thanh toán cho nguyên đơn.
Nguyên đơn đề nghị công ty phải chi trả cho nguyên đơn khoản tiền chuyển đổi bộ quà tặng nội thất là 65.095.933 đồng như Công ty đã cam kết.
Phần thứ III: Tiền bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Tiền thuê nhà từ ngày 01/10/2021 đến hết ngày 31/10/2022).
Do chậm trễ trong việc bàn giao căn hộ của Công ty nên đã ảnh hưởng đến chỗ ở của gia đình. Vào ngày 27/09/2021, nguyên đơn có ký hợp đồng thuê căn hộ chung cư ORIENTAL với giá thuê nhà 06 tháng đầu là 8.000.000 đồng/tháng; 06 tháng tiếp theo là 8.500.000 đồng/tháng; và tháng thứ mười ba là: 9.500.000 đồng/tháng.
Cơ sở pháp lý: Hợp đồng thuê căn hộ chung cư ngày 27/09/2021 (bản sao y); Và sao kê ngân hàng V.v đóng tiền nhà hàng tháng (bản chính);
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 360 Bộ luật dân sự 2015 “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu Công ty phải bồi thường một phần thiệt hại do Công ty V1 Căn hộ không đúng thời hạn được ghi trong hợp đồng, cụ thể như sau:
Số tiền bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do thuê nhà hàng tháng, nguyên đơn đồng ý chia sẻ một phần khó khăn với Công ty nên chỉ yêu cầu 2.000.000 đồng/tháng.
Số ngày thuê trong hợp đồng đồng thuê nhà là 1 năm (12 tháng), cứ hết 01 năm thì tiếp tục mặc nhiên gia hạn hợp đồng, và thực tế nguyên đơn đã thuê nhà tổng cộng 13 tháng từ ngày 01/10/2021 đến hết ngày 31/10/2022 (đính kèm sao kê ngân hàng V.v đóng tiền nhà hàng tháng đến hết tháng 10/2022).
Như vậy tổng số tiền bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà công ty phải chi trả cho nguyên đơn do việc chậm bàn giao nhà dẫn đến nguyên đơn phải thuê nhà để ở là 26.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai mươi sáu triệu đồng chẵn).
Tổng cộng số tiền mà nguyên đơn yêu cầu công ty phải thanh toán gồm: Toàn bộ số tiền phạt vi phạm hợp đồng do chậm bàn giao căn hộ (798 ngày) + Số tiền chuyển đổi từ bộ quà tặng nội thất sang tiền mặt + Tiền bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Tiền thuê nhà từ ngày 01/10/2021 đến hết ngày 31/10/2022).
197.076.105 đồng + 65.095.933 đồng + 26.000.000 đồng = 288.172.038 đồng. làm tròn là 288.000.000 đồng. Thanh toán đủ toàn bộ một lần.
Tại phiên toà sơ thẩm: Nguyên đơn do bà Trần Thị Kim Q làm đại diện theo ủy quyền xác định lại yêu cầu khởi kiện là buộc Công ty Cổ phần B1 phải thanh toán tiền phạt vi phạm hợp đồng là 188.185.453 đồng do nguyên đơn có thiện chí giảm trừ thời hạn chậm bàn giao căn hộ do ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 nên chỉ yêu cầu tính thời hạn chậm bàn giao căn hộ là 762 ngày và tiền chuyển đổi bộ quà tặng nội thất là 65.095.933 đồng. Tổng cộng, Công ty Cổ phần B1 phải trả là 253.281.386 đồng, thanh toán đủ toàn bộ một lần ngay khi bản án có hiệu lực.
Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do việc chậm bàn giao nhà dẫn đến nguyên đơn phải thuê nhà để ở là 26.000.000 đồng, nguyên đơn rút lại yêu cầu này.
Quá trình giải quyết vụ án đến giai đoạn mở phiên tòa sơ thẩm, bị đơn không có ý kiến.
Tại phiên toà sơ thẩm: Bị đơn là Công ty Cổ phần B1 có người đại diện theo ủy quyền là ông Lê Xuân H trình bày:
- Căn cứ vào điểm a, khoản 12.1, Điều 12 của hợp đồng quy định: “Bên Bán sẽ bị phạt bằng 0.03% (không phẩy không ba phần trăm) trên mỗi ngày trễ hạn đối với số tiền Bên mua đã thanh toán cho Bên Bán (không bao gồm thuế GTGT và kinh phí bảo trì) tính trên thời gian chậm bàn giao căn hộ kể từ ngày phải bàn giao căn hộ tại khoản 8.1 Điều 8 của hợp đồng này trừ trường hợp do lỗi của Bên Mua”. Và Biên bản làm việc số 0501/2021/BB-BPK ngày 05/01/2021 giữa Công ty B1 với các khách hàng trong đó có ông B có thỏa thuận “Đối với vấn đề bàn giao lấy ngày ký nghiệm thu căn hộ làm ngày để chốt thời điểm tính lãi bàn giao (nếu có)”.
- Về thời gian vi phạm: Theo quy định tại hợp đồng ngày phải bàn giao căn hộ chậm nhất là 30/6/2020. Tuy nhiên, trong quá trình dịch Covid 19 diễn ra phía Công ty B1 cũng đã có thông báo về sự kiện bất khả kháng với thời gian 54 ngày và ông B cũng đã đồng ý với thời gian này, như vậy ngày phải bàn giao cuối cùng không bị tính lãi chậm bàn giao sẽ là ngày 23/8/2020 và tính đến ngày 21/5/2021, công ty đã chậm bàn giao căn hộ cho nguyên đơn tổng cộng 271 ngày.
- Đối với số tiền tính phạt vi phạm: Nguyên đơn đã thanh toán 70% giá trị căn hộ (không bao gồm thuế GTGT và kinh phí bảo trì) số tiền 823.208.460 đồng. Như vậy số tiền phạt vi phạm Công ty B1 phải chịu là: 823.208.460 x 0.03% x 271 = 66.926.848 đồng.
- Đối với yêu cầu số tiền chuyển từ bộ quà tặng nội thất sang tiền mặt:
Công ty đồng ý chịu trách nhiệm đối với yêu cầu số tiền chuyển từ bộ quà tặng nội thất sang tiền mặt với số tiền là 72.328.814 đồng (đã bao gồm VAT).
- Đối với tiền bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là tiền thuê nhà 26.000.000 đồng: Tại phiên tòa, nguyên đơn rút lại yêu cầu này nên bị đơn không có ý kiến.
Bản án dân sự sơ thẩm số 579/2023/DS-ST ngày 29-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 63; Điều 85; khoản 1 Điều 227; khoản 2 Điều 244; Điều 266; Điều 267; Điều 269; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào các Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lâm Bảo B và bà Võ Thị Minh P về việc buộc Công ty Cổ phần B1 phải thanh toán tiền phạt do chậm bàn giao nhà là 188.185.453 đồng và tiền chuyển đổi bộ quà tặng nội thất là 65.095.933 đồng. Tổng cộng là: 253.281.386 đồng (hai trăm năm mươi ba triệu hai trăm tám mươi mốt ngàn ba trăm tám mươi sáu đồng), trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu nguyên đơn ông Lâm Bảo B và bà Võ Thị Minh P về việc buộc bị đơn là Công ty cổ phần B1 đơn trả tiền bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là tiền thuê nhà 26.000.000 đồng.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Công ty Cổ phần B1 phải chịu án phí dân sự là 12.664.069 đồng.
H1 lại cho ông Lâm Bảo B và bà Võ Thị Minh P số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.200.000 đồng theo Biên lai số AA/2021/0042889 ngày 08/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản án sơ thẩm còn tuyên về thời hạn kháng cáo và thủ tục thi hành án.
Ngày 06/10/2023, bị đơn là Công ty Cổ phần B1 có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 579/2023/DS-ST ngày 29-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Lý do: Bản án sơ thẩm chưa khách quan, chưa đánh giá được hết những tài liệu chứng cứ cũng như các tình tiết về sự kiện bất khả kháng tại hồ sơ vụ án, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Xem xét lại toàn bộ vụ án nêu trên trừ phần khách hàng và công ty đã thỏa thuận được là phần “số tiền chuyển từ bộ quà tặng nội thất sang tiền mặt” theo đúng quy định pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Công ty Cổ phần B1. Theo đó, Công ty Cổ phần B1 đề nghị Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút kháng cáo, các đương sự không hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát sau khi phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, phân tích nhận định về nội dung vụ án và kháng cáo, đã nhận xét và đề nghị như sau:
- Về tố tụng: Giai đoạn phúc thẩm, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự được đảm bảo để thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo qui định của pháp luật.
- Về nội dung: Sơ thẩm đã giải quyết vụ án đúng pháp luật, đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của bị đơn được thực hiện đảm bảo đúng quy định về thời hạn và thủ tục kháng cáo. Thẩm quyền giải quyết vụ án sơ thẩm đã xác định đúng, đã đưa đủ và xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng. Việc thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Căn cứ thỏa thuận cam kết của hai bên tại Điều 12 Hợp đồng mua bán căn hộ số A18.23/HĐMB-SGINTELA/2019 quy định về phạt vi phạm trong
trường hợp chậm bàn giao căn hộ, mức phạt là 0,03%/ngày tính trên số tiền bên mua đã thực nộp.
Thời hạn phải bàn giao căn hộ là ngày 30/6/2020, hai bên thống nhất xác định thời gian 54 ngày có sự kiện bất khả kháng (do dịch covid từ ngày 10/3/2020 đến 04/5/2020) cùng với tự nguyện của nguyên đơn trừ thêm 36 ngày chia sẻ khó khăn với bị đơn, tổng cộng là 90 ngày. Nguyên đơn đã nộp tiền thanh toán theo tiến độ đến ngày 21/7/2020 được 70% giá trị hợp đồng, theo giá trị (không tính thuế VAT) để xác định mức phạt do chậm bàn giao căn hộ là 823.208.460 đồng.
Sau khi loại trừ thời gian dịch bệnh, được xác định là trường hợp bất khả kháng và thời gian nguyên đơn tự nguyện giảm thêm, sơ thẩm đã chấp nhận số tiền phạt do chậm bàn giao căn hộ tính từ ngày 01/7/2020 đến ngày 31/10/2022, theo yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với thỏa thuận tại hợp đồng và đúng pháp luật được quy định của tại Điều 418 Bộ luật dân sự về phạt vi phạm.
[3] Bị đơn cho rằng thời gian bàn giao căn hộ phải tính là ngày 21/5/2021, từ đó kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm. Xét, tại hồ sơ có tài liệu là “Thông báo số 34/2021/TB-BPK ngày 10/5/2021 gửi khách hàng thông báo thời gian bàn giao căn hộ bắt đầu kể từ ngày 21/05/2021”, tuy nhiên thời điểm theo thông báo bị đơn chưa bàn giao và cũng không chứng minh được đã có đủ điều kiện để bàn giao căn hộ. Bị đơn không có cơ sở chứng minh cho nội dung kháng cáo này nên không có căn cứ để chấp nhận.
[4] Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị đơn cho rằng tại Biên bản làm việc số 0501/2021/BB-BPK ngày 05/01/2021 giữa Công ty B1 với các khách hàng trong đó có ông B thỏa thuận “Đối với vấn đề bàn giao lấy ngày ký nghiệm thu căn hộ làm ngày để chốt thời điểm tính lãi bàn giao (nếu có)”. Xét biên bản nêu trên là ý kiến của khách hàng, nội dung trích dẫn của bị đơn không đầy đủ, chỉ là một vế của câu nên sai về ý nghĩa nội dung. Phần vế sau của câu thể hiện “Sau khi nghiệm thu, chúng tôi sẽ bàn giao lại căn hộ cho chủ đầu tư để sắp xếp lắp đặt gói quà tặng nội thất. sau 30 ngày kể từ ngày ký nghiệm thu căn hộ, chủ đầu tư phải giao lại cho chúng tôi căn hộ đã bao gồm gói quà tặng nội thất theo quy định”. Như vậy, đây là ý kiến khách hàng thể hiện chủ đầu tư phải bàn giao căn hộ cho khách hàng và do khách hàng nghiệm thu nhận bàn giao xong thì giao lại căn hộ cho chủ đầu tư để lắp đặt gói quà tặng. Hơn nữa, tại “Thư phản hồi” ngày 13/01 2021 của bị đơn cũng thể hiện ý chí về “Ngày bàn giao căn hộ đã được gia hạn thêm một khoản thời gian tương ứng với thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng”. Mặt khác, theo Thư phản hồi ngày 13/01/2021 ghi là “phản hồi nội dung Biên bản làm việc được thiết lập ngày 08/07/2020 giữa công ty với quý khách hàng”, trong khi Biên bản làm việc số 0501/2021/BB-BPK ghi thời điểm lập biên bản là ngày 05/01/2021, như vậy đây cũng không phải là đối tượng để xem xét. Ý kiến của bị đơn về xác định ngày bàn giao căn hộ để tính khoản phạt chậm bàn giao căn hộ, như nêu trên là không có cơ sở chấp nhận.
[5] Bị đơn cũng không có căn cứ nào để chứng minh đối với nội dung kháng cáo cho rằng “sơ thẩm chưa khách quan, chưa đánh giá được hết những tài liệu
chứng cứ cũng như các tình tiết về sự kiện bất khả kháng tại hồ sơ vụ án, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty”. Do vậy, nội dung kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm là không có cơ sở.
[6] Từ nhận định trên, xét không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn, như ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 357, 418, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 579/2023/DS-ST ngày 29-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lâm Bảo B và bà Võ Thị Minh P về việc buộc Công ty Cổ phần B1 phải thanh toán tiền phạt do chậm bàn giao nhà là 188.185.453 đồng và tiền chuyển đổi bộ quà tặng nội thất là 65.095.933 đồng. Tổng cộng là: 253.281.386 đồng (hai trăm năm mươi ba triệu hai trăm tám mươi mốt ngàn ba trăm tám mươi sáu đồng), trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu nguyên đơn ông Lâm Bảo B và bà Võ Thị Minh P về việc buộc bị đơn là Công ty cổ phần B1 trả tiền bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là tiền thuê nhà 26.000.000 đồng.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Công ty Cổ phần B1 phải chịu là 12.664.069 đồng.
H1 lại cho ông Lâm Bảo B và bà Võ Thị Minh P số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.200.000 đồng (Biên lai số AA/2021/0042889 ngày 08/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh).
Án phí phúc thẩm: Công ty Cổ phần B1 phải chịu 300.000 đồng; Trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp 300.000 đồng (Biên lai số AA/2023/0020596 ngày
25/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh).
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hồng Giảng |
Bản án số 423/2024/DS-PT ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ
- Số bản án: 423/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 423/2024/DS-PT ngày 14/5/2024 về việc :" Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ" giữa nguyên đơn ông B và bị đơn công ty B1
