|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 422/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10/7/2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Võ Việt Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Sương và Ông Nguyễn Ngọc Bờ
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Mai–Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 301/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024, việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 304/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 353/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, giữa:
1.Nguyên đơn: Bà Trương Thị Ngọc T, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Tổ 02, ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2.Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 09/5/2024, đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày ngày 05/6/2024, bà Trương Thị Ngọc T trình bày và có ý kiến như sau:
Về hôn nhân: Giữa bà Trương Thị Ngọc T và ông Nguyễn Văn L do tự nguyện quen biết tìm hiểu nhau và tiến đến hôn nhân, vợ chồng có đăng ký kết hôn trễ hạn theo giấy chứng nhận kết hôn số: 08, ngày 30/01/2020 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu, sau này thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên cự cải, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cả hai không có tiếng nói chung, mặc dù cả hai đã nhiều lần tìm cách hàn gắn nhưng vẫn không khắc phục được. Nhận thấy tình cảm của vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Trương Thị Ngọc T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Văn L.
Về con chung: Có 02 (hai) con chung chưa thành niên tên Nguyễn Văn C, sinh ngày 24/8/2016 và Nguyễn Thị Kim T1, sinh ngày 17/8/2020. Hiện con đang sống cùng bà T. Ý kiến của cháu C có nguyện vọng được sống chung với bà T. Khi ly hôn bà Trương Thị Ngọc T yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông Nguyễn Văn L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Nguyễn Văn L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông Nguyễn Văn L không có văn bản thể hiện ý kiến gửi cho Tòa án và không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cho đến việc diễn biến tại phiên tòa của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh trụng. Tòa án nhân dân huyện Châu Phú nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Phiên tòa được mở lần thứ hai nhưng nguyên đơn bà Trương Thị Ngọc T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ghi ngày 05/6/2024, với nội dung đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bà Trương Thị Ngọc T. Ông Nguyễn Văn L đã được Tòa án triệu tập dự phiên tòa đúng theo quy định Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nhưng ông Nguyễn Văn L vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Trương Thị Ngọc T và ông Nguyễn Văn L.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Giữa bà Trương Thị Ngọc T và ông Nguyễn Văn L là hôn nhân hợp pháp bởi ông bà có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Xem xét yêu cầu ly hôn của bà Trương Thị Ngọc T, Hội đồng xét xử nhận thấy trong cuộc sống vợ chồng của ông bà đã không còn hạnh phúc, do một bên không còn tình cảm, đã có khoảng thời gian ly thân, cả hai có những mâu thuẫn mà không thể hàn gắn được do giữa ông bà không có sự cảm thông cho nhau. Trong quá trình Tòa án xem xét giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn L không cung cấp ý kiến và không đến Tòa án tham dự phiên hòa giải, phiên tòa thể hiện chưa có sự quan tâm đối với yêu cầu ly hôn của bà Trương Thị Ngọc T. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Trương Thị Ngọc T là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, bà Trương Thị Ngọc T được ly hôn với ông Nguyễn Văn L.
[2.2] Về quan hệ con chung: Theo giấy khai sinh của Nguyễn Văn C, và Nguyễn Thị Kim T1 cũng như lời trình bày của bà Trương Thị Ngọc T thì đây là con chung giữa bà và ông Nguyễn Văn L hiện con chung chưa thành niên tên Nguyễn Văn C, sinh ngày 24/8/2016 và Nguyễn Thị Kim T1, sinh ngày 17/8/2020 do bà Trương Thị Ngọc T đang nuôi dưỡng, chăm sóc.
Xét thấy, theo nội dung biên bản xác minh tại Văn phòng Ấ, xã B, huyện C, tỉnh An Giang các con chung được bà Trương Thị Ngọc T giáo dục, chăm sóc, nuôi dưỡng; hơn nữa con chung chưa thành niên Nguyễn Văn C cũng có nguyện vọng sống cùng mẹ trong trường hợp cha và mẹ ly hôn vậy nên để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của cháu, tạo điều kiện cho cháu được ổn định về tâm sinh lý, chỗ ở, sinh hoạt và học tập nên yêu cầu của bà Trương Thị Ngọc T được nuôi con là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, giao con chung chưa thành niên tên Nguyễn Văn C, sinh ngày 24/8/2016 và Nguyễn Thị Kim T1, sinh ngày 17/8/2020 cho bà Trương Thị Ngọc T được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Văn L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con. Bà Trương Thị Ngọc T và các thành viên trong gia đình của bà Trương Thị Ngọc T không được cản trở ông Nguyễn Văn L thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Bà Trương Thị Ngọc T không yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà Trương Thị Ngọc T trình bày giữa bà và ông Nguyễn Văn L về tài sản chung không yêu cầu giải quyết và nợ chung là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay do không có mặt của ông Nguyễn Văn L để đối chất làm rõ các mối quan hệ này nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết. Nếu đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
[3] Về án phí: Bà Trương Thị Ngọc T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 143, khoản 4 Điều 147, Điều 179, Điều 186, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 và khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Về quan hệ hôn nhân:
Cho ly hôn giữa bà Trương Thị Ngọc T và ông Nguyễn Văn L.Giấy chứng nhận kết hôn số: 08, ngày 30/01/2020 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Trương Thị Ngọc T và ông Nguyễn Văn L không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.
-
Về quan hệ nuôi con:
Có 02 (hai) con chung chưa thành niên tên Nguyễn Văn C, sinh ngày 24/8/2016 và Nguyễn Thị Kim T1, sinh ngày 17/8/2020.Giao con chung chưa thành niên tên Nguyễn Văn C, sinh ngày 24/8/2016 và Nguyễn Thị Kim T1, sinh ngày 17/8/2020 cho bà Trương Thị Ngọc T được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng.
Ông Nguyễn Văn L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con. Bà Trương Thị Ngọc T và các thành viên trong gia đình của bà Trương Thị Ngọc T không được cản trở ông Nguyễn Văn L thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Bà Trương Thị Ngọc T không yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
-
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung:
Bà Trương Thị Ngọc T trình bày về tài sản chung không yêu cầu giải quyết và nợ chung là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết. -
Về án phí:
Bà Trương Thị Ngọc T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005669 ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Bà Trương Thị Ngọc T đã nộp đủ. -
Về quyền kháng cáo:
Bà Trương Thị Ngọc T và ông Nguyễn Văn L vắng mặt, thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết.Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Võ Việt Nam |
Bản án số 422/2024/HNGĐ-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 422/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Trương Thị Ngọc T khởi kiện ông Nguyễn Văn L
