Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 422/2024/HS-PT

Ngày 06 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Quang;

Các Thẩm phán:

Ông Vũ Thế Phương;

Bà Đinh Thị Kiều Lương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 262/2024/TLPT-HS ngày 22 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Lê Văn D, Nguyễn Thị N; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 103/2024/HS-ST ngày 09-5-2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Lê Văn D, (tên gọi khác: Tư L) sinh năm 1974, tại Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú: Ấp B, xã Đ, huyện N, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn M, sinh năm 1945 và bà Tô Thị L1, sinh năm 1950; gia đình bị cáo có 07 chị em, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình và chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/4/2023 và tạm giam cho tới nay tại trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
  2. Nguyễn Thị N, sinh năm 1997 tại Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú: Ấp R, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1965 và bà Lê Thị T, sinh năm 1965; gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; có chồng tên Ngô Minh M1, sinh năm 1999, có 03 con chung, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 08/10/2022, bị Công an huyện N xử phạt vi phạm hành chính số tiền 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích” tại Quyết định số 38/QĐ-XPHC; ngày 30/3/2023 bị cáo đã nộp phạt xong; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/3/2023 đến ngày 02/4/2023 được huỷ bỏ biện pháp tạm giữ; bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị N: Ông Đặng Minh T1 – Luật sư thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; địa chỉ liên hệ: Công ty L4 – Số 12/8/6 Đường số H, Khu phố D, phường H, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính:

Vào lúc 12 giờ ngày 24/3/2023, tại căn chòi hoang thuộc ấp B, xã Đ, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Lê Văn D tổ chức cho Trần Kim K, Bùi Thị L2, Đặng Thị Kim H, Nguyễn Thị N, Hà Thị H1, Trần Kim L3, Đặng Thị Lệ H2, Trần Thị P cùng một số đối tượng không rõ lai lịch đánh bạc bằng hình thức chơi bài ngầu hầm để thu tiền xâu.

Cách thức đánh bạc bằng hình thức chơi ngầu hầm như sau: Bài ngầu hầm được chơi bằng bài tây 52 lá. Các con bạc sẽ thay phiên nhau làm cái, người cầm cái chia bài mình và cho những người chơi còn lại mỗi người 05 lá bài. Từng người sẽ tự chia 05 lá bài của mình thành 02 nhóm nhỏ sao cho một nhóm có 03 lá bài có số điểm là bội số của 10 để được tính đến nhóm còn lại có 02 lá bài. Trường hợp mà không có 03 lá bài là bội số của 10 thì coi như là bài đó không ngầu. Cách tính điểm được quy định như sau: những lá bài Át (A) sẽ được tính là 1 điểm; những lá bài tây J, Q, K sẽ được tính là 10 điểm; những lá bài số từ 2 đến 10 sẽ được tính điểm tương ứng với số trên lá bài. Nếu tổng điểm của 3 lá bài là 10 điểm thì mới được tiếp tục tính điểm cho nhóm 2 lá bài còn lại để quyết định thắng, thua, hoặc hòa.

Điểm của từng ván bài cũng được phân theo nhiều thứ tự từ lớn đến nhỏ để so sánh tính thắng thua theo thứ tự:

  • Năm tây: Bài được chia có 5 lá bài đều là những lá bài J, Q, K.
  • Ngầu Hầm: Bài được chia 5 lá nhưng xếp ra nhóm 3 lá và 2 lá tính điểm đều có tổng là bội số của 10.
  • Ngầu 2 đến 9: Bài được chia gộp được 1 nhóm 3 lá có tổng điểm là bội số của 10 và gộp nhóm 2 lá là các lá bài có tổng số điểm nằm trong khoảng 2 đến 9 điểm.
  • Ngầu không: Bài được chia là 5 lá nhưng nhóm 3 lá cộng lại không đủ 10 điểm hoặc không phải bội số của 10.

Quá trình đánh bạc: Trần Kim K mang 350.000 đồng để đánh bạc và bị thua hết 100.000 đồng. Khi bị phát hiện, K để số tiền còn lại dưới chiếu bạc và bị thu giữ.

Bùi Thị L2 mang theo 2.000.000 đồng để đánh bạc và bị thua 1.700.000 đồng. Khi bị phát hiện, L2 để số tiền còn lại dưới chiếu bạc và bị thu giữ.

Đặng Thị Kim H mang theo 2.000.000 đồng để đánh bạc. Khi bị phát hiện, H không thắng, không thua, H để toàn bộ tiền đánh bạc dưới chiếu bạc và bị thu giữ.

Nguyễn Thị N mang theo 2.000.000 đồng để đánh bạc. Khi bị phát hiện, Như không thắng, không thua, Như để 2.000.000 đồng trên người và bị thu giữ.

Hà Thị H1 mang theo 1.000.000 đồng để đánh bạc và bị thua 970.000 đồng. Khi bị phát hiện, H1 để 30.000 đồng trên người và bị thu giữ.

Trần Kim L3 mang theo 1.200.000 đồng để đánh bạc và bị thua 1.100.000 đồng. Khi bị phát hiện, L3 để số tiền còn lại dưới chiếu bạc và bị thu giữ.

Đặng Thị Lệ H2 mang theo 750.000 đồng để đánh bạc và bị thua 100.000 đồng. Khi bị phát hiện, H2 để số tiền còn lại dưới chiếu bạc và bị thu giữ.

Trần Thị P mang theo 11.000.000 đồng. P sử dụng 1.000.000 đồng để xuống chiếu bạc đánh bạc và bị thua 300.000 đồng. Khi bị phát hiện, P để 700.000 đồng dưới chiếu bạc và bị thu giữ. Ngoài ra, P còn bị thu giữ trên người 10.000.000 đồng (số tiền này không sử dụng để đánh bạc).

Tất cả đánh bạc đến 15 giờ 15 phút cùng ngày, Lê Văn D thu tiền xâu được 400.000 đồng thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ K, L2, H, Như, H1, L3, H2, P, riêng D và các đối tượng còn lại chạy thoát. Đến ngày 01/4/2023, D ra đầu thú.

* Vật chứng, tài sản thu giữ gồm:

  • - Số tiền 21.130.000 đồng dùng vào việc đánh bạc (trong đó 9.200.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc, 2.000.000 đồng thu giữ trên người của Nguyễn Thị N mục đích là để đánh bạc; 30.000 đồng thu giữ trên người của Hà Thị H1 mục đích là để đánh bạc, 9.500.000 đồng thua giữ gần chiếu bạc của các con bạc dùng vào việc đánh bạc bỏ lại khi chạy thoát và 400.000 đồng của D thu tiền xâu mà có).
  • - 03 bộ bài tây là công cụ dùng để đánh bạc.
  • - 01 tấm bạt màu xanh dùng để sử dụng làm chiếu bạc.
  • - 10.000.000 đồng là tài sản cá nhân của Trần Thị P không dùng vào việc đánh bạc.

2. Quyết định của cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 103/2024/HS-ST ngày 09-5-2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch đã quyết định:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Lê Văn D phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính ngày 01/4/2023.

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố các bị cáo Trần Thị P, Trần Kim L3 phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Trần Thị P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 03 năm tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 21/2023/HS-ST ngày 16/02/2023 của Toà án nhân dân huyện Nhơn Trạch, buộc bị cáo phải chịu hành hình phạt chung của hai bản án là 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/3/2023.

Xử phạt bị cáo Trần Kim L3 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 24/3/2023 đến ngày 02/4/2023.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 (chỉ áp dụng cho bị cáo Nguyễn Thị N) Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố các bị cáo Bùi Thị L2 phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Bùi Thị L2 10 (mười) tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 06 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2024/HSST ngày 11/3/2024 của Toà án nhân dân huyện Nhơn Trạch, buộc bị cáo chấp hành phạt chung của hai bản án là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/5/2024, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 24/3/2023 đến ngày 02/4/2023.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 24/3/2023 đến ngày 02/4/2023.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017)

Tuyên bố bị cáo Trần Kim K phạm tội “Đánh bạc”

Xử phạt bị cáo Trần Kim K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/3/2023.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017)

Tuyên bố các bị cáo Đặng Thị Kim H, Hà Thị H1Đặng Thị Lệ H2 phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Đặng Thị Kim H 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng;

Xử phạt bị cáo Hà Thị H1 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng;

Xử phạt bị cáo Đặng Thị Lệ H2 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.

3. Kháng cáo:

Trong thời hạn luật định, bị cáo Lê Văn D, Nguyễn Thị N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

4. Quan điểm của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:

- Về tố tụng: Trước khi mở phiên tòa, bị cáo Lê Văn D có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo D.

- Về tội danh:

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị N về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

- Về kháng cáo và hình phạt:

Bị cáo N là người có nhân thân xấu, có 01 tiền sự về hành vi “Cố ý gây thương tích” nhưng không lấy đó làm bài học lại tiếp tục phạm tội; mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp không nặng như kháng cáo đã nêu. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.

5. Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị N:

- Về tội danh: Thống nhất với tội danh Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo.

- Về kháng cáo: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét các nội dung như sau:

Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo là có sai sót. Do đó, bị cáo N được 02 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo hiện là lao động chính trong gia đình, có 03 con nhỏ, chồng bị cáo thất nghiệp, đang phải nuôi mẹ chồng bị bệnh không có khả năng đi lại. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cũng đủ răn đe đối với bị cáo. Từ những cơ sở trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng

Kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Văn D có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo. Căn cứ Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Lê Văn D, tiếp tục xem xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Như .

[2] Về nội dung

2.1. Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nhận định, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội phạm; Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị N về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

2.2. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Tại cấp sơ thẩm: Bị cáo Như phạm thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đang nuôi con nhỏ là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

+ Tại cấp phúc thẩm: Bị cáo cung cấp đơn xác nhận hiện đang nuôi con nhỏ và mẹ chồng bị bệnh; tuy nhiên, tình tiết này đã được cấp sơ thẩm áp dụng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo nên không phải là tình tiết giảm nhẹ mới.

Ngoài ra, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là có thiếu sót về áp dụng pháp luật, Tòa án cấp phúc thẩm bổ sung cho phù hợp.

2.3. Về kháng cáo và hình phạt:

Bị cáo Nguyễn Thị N mặc dù có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nhưng nhân thân bị cáo có 01 tiền sự về hành vi “Cố ý gây thương tích” chưa hết thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính lại phạm tội mới, việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ. Bị cáo kháng cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên.

[3] Về án phí

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Nguyễn Thị N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm.

[5] Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị N có một phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử về tình tiết giảm nhẹ nên được chấp nhận phần phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 348; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 262/2024/TLPT-HS ngày 22 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Lê Văn D. Bản án hình sự sơ thẩm số: 103/2024/HS-ST ngày 09-5-2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch có hiệu lực thi hành đối với bị cáo Lê Văn D.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị N; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 103/2024/HS-ST ngày 09-5-2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch về hình phạt đối với bị cáo N.

1. Tội danh và hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành hình phạt tù; được trừ đi thời gian tạm giữ trước từ ngày 24/3/2023 đến ngày 02/4/2023.

2. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thị N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Quyết định của Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp và án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an huyện Nhơn Trạch;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Nhơn Trạch;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch;
  • - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 422/2024/HS-PT ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 422/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo của bị cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger