Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 422/2025/HNGĐ-ST

Ngày 18 - 6 - 2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Lệ Thu
Bà Nguyễn Thị Kim Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Triệu Nhựt Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 259/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2025, về Ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 444/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 481/2025/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích P, sinh năm 1997; nơi cư trú: Ấp L, xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang; nơi ở hiện tại: Tổ D, ấp L, xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1993; nơi cư trú: Ấp L, xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích P trình bày và có ý kiến như sau:

- Về hôn nhân: Giữa bà Nguyễn Thị Bích P và ông Nguyễn Văn D do quen biết, qua thời gian tự nguyện tìm hiểu, tiến tới hôn nhân, hôn nhân có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 11 cấp ngày 26/11/2022 tại Ủy ban nhân dân xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang. Trước khi kết hôn với ông D1 thì giữa bà P và ông D1 ai cũng có trước đó một lần hôn nhân nhưng không được hạnh phúc. Sau khi kết hôn đến đầu năm 2023 cả hai cùng nhau lên Bình Dương thuê nhà trọ ở để làm thuê kiếm sống. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã có thời gian ly thân từ năm 2024 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm của vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông D, bà cam kết từ trước đến nay vụ việc ly hôn giữa bà và ông D chưa được giải quyết bằng bản án hay quyết định nào.

- Về con chung: Có 01 (một) con chung chưa thành niên tên Nguyễn Thị Ngọc V sinh ngày 11/6/2021. Từ trước đến nay các con chung Ngọc V đang sống cùng bà, để ổn định cuộc sống của các con bà P yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Bích P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Nguyễn Văn D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông Nguyễn Văn D không có văn bản thể hiện ý kiến gửi cho Tòa án và không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cho đến việc diễn biến tại phiên tòa của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích P khởi kiện ông Nguyễn Văn D cư trú tại huyện C, tỉnh An Giang yêu cầu ly hôn, giải quyết về nuôi con chung. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xác định quan hệ pháp luật là Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về sự có mặt của các đương sự: Phiên tòa được mở lần thứ hai nhưng nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ghi ngày 14/5/2025, với nội dung đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Bích P. Ông Nguyễn Văn D đã được Tòa án triệu tập dự phiên tòa đúng theo quy định Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nhưng ông Nguyễn Văn D vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Bích P và ông Nguyễn Văn D.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Giữa bà Nguyễn Thị Bích P và ông Nguyễn Văn D là hôn nhân hợp pháp bởi ông, bà có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Xem xét yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Bích P, Hội đồng xét xử nhận thấy trong cuộc sống vợ chồng của ông, bà đã không còn hạnh phúc, do một bên không còn tình cảm, đã có khoảng thời gian ly thân, cả hai có những mâu thuẫn mà không thể hàn gắn được do giữa ông bà không có sự cảm thông cho nhau. Trong quá trình Tòa án xem xét giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn D không cung cấp ý kiến và không đến Tòa án tham dự phiên hòa giải, phiên tòa thể hiện không có sự quan tâm đối với yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Bích P. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Bích P là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, bà Nguyễn Thị Bích P được ly hôn với ông Nguyễn Văn D.

[2.2] Về quan hệ con chung: Theo giấy khai sinh của Nguyễn Thị Ngọc V sinh ngày 11/6/2021 cũng như lời trình bày của bà Nguyễn Thị Bích P và nội dung biên bản xác minh tại Văn phòng ấp L, xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang thì giữa bà P và ông Nguyễn Văn D có con 01 (một) con chung chưa thành niên là Nguyễn Thị Ngọc V sinh ngày 11/6/2021 hiện con chung chưa thành niên đang do bà Nguyễn Thị Bích P nuôi dưỡng, chăm sóc.

Xét thấy, theo tài liệu chứng cứ hồ sơ vụ án thể hiện con chung chưa thành niên Nguyễn Thị Ngọc V sinh ngày 11/6/2021 đã và đang được bà Nguyễn Thị Bích P giáo dục, chăm sóc, nuôi dưỡng nên để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của cháu, tạo điều kiện cho cháu V được ổn định về tâm sinh lý, chỗ ở, sinh hoạt nên bà Nguyễn Thị Bích P yêu cầu được nuôi con chung chưa thành niên Nguyễn Thị Ngọc V là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao con chung chưa thành niên tên Nguyễn Thị Ngọc V sinh ngày 11/6/2021 cho bà Nguyễn Thị Bích P tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Văn D có quyền và nghĩa vụ thăm nom con. Bà Nguyễn Thị Bích P và các thành viên trong gia đình của bà Nguyễn Thị Bích P không được cản trở ông Nguyễn Văn D thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Bà Nguyễn Thị Bích P không có ý kiến, yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Bích P trình bày giữa bà và ông Nguyễn Văn D về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay do không có mặt của ông Nguyễn Văn D để đối chất làm rõ các mối quan hệ này nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết. Nếu đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.

[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Bích P là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 143, khoản 4 Điều 147, Điều 179, Điều 186, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 và khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Bích P và ông Nguyễn Văn D.

Giấy chứng nhận kết hôn số 11 cấp ngày 26/01/2022 do Ủy ban nhân dân xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Nguyễn Thị Bích P và ông Nguyễn Văn D không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị Bích P và ông Nguyễn Văn D có 01 (một) con chung chưa thành niên Nguyễn Thị Ngọc V sinh ngày 11/6/2021. Giao con chung chưa thành niên tên Nguyễn Thị Ngọc V sinh ngày 11/6/2021 cho bà Nguyễn Thị Bích P được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng.

Ông Nguyễn Văn D có quyền và nghĩa vụ thăm nom con. Bà Nguyễn Thị Bích P và các thành viên trong gia đình của bà Nguyễn Thị Bích P không được cản trở ông Nguyễn Văn D thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Bà Nguyễn Thị Bích P không có ý kiến, yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Trường hợp nếu có tranh chấp liên quan đến tài sản chung hoặc nợ chung thì sẽ được giải quyết theo quy định của pháp luật.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Bích P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009661 ngày 23 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Bà Nguyễn Thị Bích P đã nộp đủ.

5. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Bích P và ông Nguyễn Văn D vắng mặt, thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Châu Phú;
  • - Chi Cục THADS huyện Châu Phú;
  • - UBND xã Ô Long Vĩ;
  • - Công an xã Ô Long Vĩ;
  • - Lưu hồ sơ, VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Tuyết Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 422/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 422/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phượng yêu cầu ly hôn Duẫn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger