|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 422/2025/DS-PT Ngày: 16.5 + 13.6.2025 V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Trần Thị Diệp Linh |
| Các Thẩm phán: | Bà Đặng Mai Hoa |
| Ông Đàm Văn Thuận |
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân: Bà Trịnh Thu Tân - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 16.05.2025 và ngày 13.06.2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 239/2025/TLST-DS ngày 04 tháng 04 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 202/2024/DS-ST ngày 24 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 321/2025/QĐPT-DS ngày 21 tháng 04 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 315/2025/QĐPT-HPTDS ngày 28 tháng 04 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H – sinh năm 1942, Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện C, Hà Nội. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Tống Nguyên T – sinh năm 1961, Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện C, Hà Nội (theo giấy ủy quyền ngày 15/7/2021)
Bị đơn: Ông Tống Nguyên T1 - sinh năm 1950. Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện C, Hà Nội. Ông T1 ủy quyền cho anh Tống Nguyên K theo Giấy ủy quyền lập ngày 24.04.2025.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Vũ Thị H1, sinh năm 1952 (vợ ông T1)
- Bà Tống Thị Đ, sinh năm 1956 (em gái ông T1)
- Chị Tống Thị Đ1, sinh năm 1977 (con gái ông T1)
- Chị Tống Thị N, sinh năm 1980 (con gái ông T1)
- Anh Tống Nguyên K, sinh năm 1983 (con trai ông T1) (có mặt)
- Anh Tống Nguyên D, sinh năm 1986 (con trai ông T1)
- Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1991 (vợ anh K)
- Cháu Tống Nguyên Q, sinh năm 2008 (con anh K)
- Cháu Tống Nguyên V, sinh năm 2011 (con anh K)
- Cháu Tống Nguyên D1, sinh năm 2019 (con anh K)
Đều trú tại: thôn T, xã T, huyện C, Hà Nội
Do có kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền Nguyên đơn (Bà Nguyễn Thị H) là: Ông Tống Nguyên T – sinh năm 1961.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án như sau:
Trong đơn khởi kiện và bản tự khai đại diện nguyên đơn trình bày:
Nguồn gốc thửa đất: Thửa đất số 62, tờ bản đồ số 2, diện tích 389m2 là do ông cha để lại và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Thị H vào năm 2002. Năm 1998, nhà ông T1 phá bếp và chuồng lợn để làm nhà mới. Khi đó, móng nhà ông T1 lấn sang phần đất nhà bà H, bà H không đồng ý nhưng ông T1 vẫn cố tình làm. Đến năm 2021, gia đình nhà tôi xây dựng lại nhà mới trên thửa đất, thấy việc lấn chiếm đất của nhà ông T1 ảnh hưởng tới việc xây dựng các công trình bên nhà tôi nên tôi đã làm đơn hoà giải ra UBND xã T. Tuy nhiên, hoà giải không thành nên tôi làm đơn khởi kiện lên Toà án huyện Chương Mỹ đề nghị giải quyết việc lấn chiếm của nhà ông T1 sang nhà tôi khoảng 20m2 phía nhà cấp 4 của nhà ông T1. Tôi đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật và theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình nhà tôi.
Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
Nguồn gốc thửa đất là do ông cha để lại cho gia đình ông đến năm 2002 các cụ bàn giao lại cho gia đình ông quản lý và sử dụng. Thửa đất số 63, tờ bản đồ số 2 diện tích 430m2 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2002 cho hộ ông Tống Nguyên T1. Trên thửa đất có một ngôi nhà bốn gian được xây dựng từ năm 1998 và một số công trình phụ được xây dựng sau đó vào năm 2017. Vào năm 1998 khi nhà tôi xây dựng nhà bốn gian, nhà bà H có bảo nhà ông lấn sang phần đất nhà bà, nhưng gia đình ông xây đúng theo Bìa đỏ, không có việc lấn chiếm đất. Thửa đất đã được sử dụng ổn định, không có tranh chấp với các hộ liền kề từ trước tới nay. Đến năm 2021, ông T về sau khi làm nhà thì có đơn lên xã về việc gia đình tôi lấn chiếm đất. Tuy nhiên, gia đình tôi đã sử dụng ổn định từ thời các cụ nên không có việc lấn chiếm sang nhà bà H. Trước yêu cầu khởi kiện của bà H, gia đình tôi không lấn chiếm đất sang nhà bà H. Vì vậy, ông đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật và theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình nhà ông.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 202/2024/DSST ngày 24.10.2024 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội đã xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Tống Nguyên T1.
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 24.10.2024 của người đại diện theo ủy quyền Nguyên đơn (Bà Nguyễn Thị H) là: Ông Tống Nguyên T – sinh năm 1961 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 202/2024/DSST ngày 24.10.2024 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo và xác nhận ngoài các tài liệu chứng cứ đã xuất trình cho Tòa án thì không còn chứng cứ nào khác xuất trình cho Tòa án. Nguyên đơn kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Nguyên đơn cho rằng cấp sơ thẩm đã không xem xét chi tiết nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thẩm định và đo đạc lại diện tích giữa 2 gia đình để xác định vị trí và diện tích nguyên đơn đang khởi kiện bị đơn.
Ngày 05.06.2025, tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định và đo đạc lại diện tích 02 thửa đất đang có tranh chấp.
Sau khi có kết quả đo đạc, ông T cho rằng diện tích mà gia đình ông được cấp không đúng so với thực tế ông đang sử dụng. Tuy nhiên, ông không có tài liệu chứng cứ chứng minh nào khác. Gia đình ông cũng không có khiếu nại khiếu kiện gì đối với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của chính quyền địa phương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:
Về tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự trong vụ án chấp hành quyền, nghĩa vụ theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Sau khi phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trình bày của đương sự tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử: không chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền Nguyên đơn (Bà Nguyễn Thị H) là: Ông Tống Nguyên T; Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 202/2024/DSST ngày 24.10.2024 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà H được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đơn kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền Nguyên đơn (Bà Nguyễn Thị H) là: Ông Tống Nguyên T đảm bảo về chủ thể, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 271, 272 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên việc kháng cáo là hợp lệ. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về nguồn gốc thửa đất số 62 tờ bản đồ số 2, diện tích 389m2 tại thôn T, xã T, huyện C. Đất được cấp cho hộ bà Nguyễn Thị H; nguồn gốc thửa đất số 63, tờ bản đồ số 2 diện tích 430m2 tại thôn T, xã T, huyện C, đất được cấp cho hộ ông Tống Nguyên T1.
Nguyên đơn cho rằng gia đình nhà ông T1 khi xây dựng có lấn chiếm diện tích đất của gia đình bà H.
Tại biên bản xem xét thẩm định ngày 05.06.2025, khi đo đạc đất tranh chấp tại thửa đất số 62, tờ bản đồ số 2 thì thấy diện tích đất của gia đình nhà bà H có diện tích 524,1m2, chênh lệch lớn so với diện tích đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 135,1m2. Theo như ông T chỉ mốc giới đối với phần nhà ông T1 lần chiếm thì diện tích nguyên đơn yêu cầu ông T1 trả lại là 25,8m2. Khi áp bản đồ thì thấy diện tích mà nguyên đơn đòi không nằm trong phần diện tích theo kích thước Giấy chứng nhận thửa 62 tờ bản đồ số 2 đã được cấp.
Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn kháng cáo nhưng không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ nào khác. Ông T cho rằng diện tích mà gia đình ông được cấp không đúng so với thực tế gia đình ông đang sử dụng. Tuy nhiên, ông không có tài liệu chứng cứ chứng minh nào khác. Gia đình ông cũng không có khiếu nại khiếu kiện gì đối với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của chính quyền địa phương từ thời điểm cấp năm 2002. Do đó, không có cơ sở xem xét chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Từ những phân tích, nhận định trên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 202/2024/DSST ngày 24.10.2024 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
Về án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị H.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q1;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 202/2024/DSST ngày 24.10.2024 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị H được miễn án phí.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Diệp Linh |
Bản án số 422/2025/DS-PT ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 422/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
