Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 422/2024/HS-PT

Ngày 30 tháng 5 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Trinh

Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thanh Duyên

Ông Hà Huy Cầu

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 767/2023/TLPT-HS ngày 09 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Trần Quang T và bị cáo Nguyễn Quốc Bảo A; Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 28/2023/HS-ST ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1529/2023/QĐXXPT-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023; đối với:

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Họ và tên: Trần Quang T, sinh ngày 31/12/2005; Nơi cư trú: ấp F, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Huy H và bà Nguyễn Thị Kim D; A, chị, em ruột: 02 người (lớn nhất bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2007); Tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 12/8/2022 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Nguyễn Quốc Bảo A, sinh ngày 01/7/2004; Nơi cư trú: ấp P, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: kinh; Gới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Quốc T1 và bà Ngô Thị A1; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 20/8/2022 bị Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 007976/QĐ-XPHC số tiền 2.000.000 đồng, về hành vi “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của tổ chức, cá nhân”, bị cáo nộp phạt vào ngày 24/10/2022. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 12/8/2022 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Quang T:

  1. Ông Trần Huy H, sinh năm 1978; (cha ruột bị cáo - có mặt);
  2. Bà Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1978 (mẹ ruột bị cáo - có mặt);

Cùng cư trú tại: Ấp F, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Quang T: Luật sư Đoàn Trọng N – Văn phòng luật sư Đoàn luật sư Thành phố H, (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc Bảo A: Luật sư Trần Hoàng T2 – Văn phòng luật sư Trần Bá T3 thuộc Đoàn luật sư tỉnh V, (có mặt).

(Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Phạm Dũng M, Trần Quốc T4; Bị hại Hồ Hoàng L, Nguyễn Thanh H1, Lê Quang D1; Đại diện hợp pháp của bị cáo Tôn Minh L1, Trần Quốc T4, Lê Hữu T5; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Thanh D2, bà Ngô Thị A1; Không có kháng cáo, không bị kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo và bị cáo Tôn Minh L1, Lê Hữu T5 đã rút yêu cầu kháng cáo nên Tòa án không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 05/2021, bị cáo Phạm Dũng M, sinh ngày 12/11/2001, nơi cư trú: ấp H, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long có mượn bị hại Hồ Hoàng L, sinh năm 2002, nơi cư trú: ấp I, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long số tiền 1.000.000đ để mua điện thoại di động. Đến tháng 7/2021, bị hại Hồ Hoàng L đi đến quán L3 ấp E, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long lấy cọc tiền 5.000.000đ, mỗi tờ mệnh giá là 200.000₫ để trên bàn để làm thủ tục cho người khác vay. Lúc này, bị cáo Phạm Dũng M đi lại không nói gì tự ý lấy cọc tiền 5.000.000đ để trên bàn bỏ vào trong bóp của bị cáo M rồi bị cáo M lấy cọc tiền 5.000.000đ, mỗi tờ mệnh giá 500.000đ từ trong bóp của bị cáo M ra để lại trên bàn, bị hại L nghĩ là bị cáo M đổi tiền lẻ nên cũng không nói gì và làm thủ tục đưa số tiền 5.000.000đ đó cho người khác vay. Khoảng 10 ngày sau, bị hại L điện thoại đòi tiền bị cáo M 1.000.000₫ mà bị cáo M mượn bị hại L trước đó để mua điện thoại nên bị cáo M và bị hại L xảy ra mâu thuẫn cự cải nhau, bị cáo M nói là đã trả cho bị hại L rồi, trả ngay lúc bị cáo M đổi tiền lẻ của bị hại L để bị hại L cho người khác vay, bị cáo M nói với bị hại L cọc tiền mệnh giá mỗi tờ 200.000đ của L chỉ có 4.000.000đ. Sau đó, bị hại L nói cho Ngô Trí T6, sinh ngày 20/02/1997, nơi cư trú: ấp H, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long biết và nhờ T6 đòi tiền bị cáo M nợ bị hại L 1.000.000đ thì T6 đồng ý. Thức và bị hại L tìm gặp bị cáo M tại quán B1 thuộc ấp E, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, T6 kêu bị cáo M ra hỏi có thiếu bị hại Luân 1.000.000đ không, bị cáo M cho rằng vì muốn cho im chuyện và cho bị hại L luôn 1.000.000đ nên bị cáo M thừa nhận với T6 là có thiếu bị hại L 1.000.000đ và lấy tiền trả cho bị hại L 1.000.000đ.

Khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 10/08/2022, bị cáo M ngồi uống rượu cùng với bạn tại vỉa hè trước quán P thuộc ấp H, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long do bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1958, thường trú: ấp H, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long làm chủ. Khoảng 22 giờ 15 phút, ngày 10/8/20222 bị hại Hồ Hoàng L, bị hại Nguyễn Thanh H1, sinh ngày 12/02/2003, nơi cư trú: ấp F, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, bị hại Lê Quang D1, sinh ngày 11/12/2003, nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long và Nguyễn Quốc T7, sinh ngày 20/11/1999, nơi cư trú: ấp F, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long đến quán Phương T8 uống rượu tại bàn đá đặt phía trước cửa quán. Lúc này, bị cáo M nhìn thấy các bị hại L, H1, D1 và T7, bị cáo M nhớ lại mâu thuẫn trước đây với bị hại L nên bị cáo M nảy sinh ý định kêu các bị cáo khác đến đánh bị hại L để trả thù, bị cáo M điện thoại và nhắn tin qua tài khoản Facebook kêu bị cáo Trần Quang T, sinh ngày 31/12/2005,nơi cư trú: ấp F, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, bị cáo Nguyễn Quốc Bảo A, sinh ngày 01/7/2004, nơi cư trú: ấp P, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, bị cáo Lê Hữu T5, sinh ngày 19/11/2005, nơi cư trú: ấp P, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Long đến quán P để đánh bị hại L thì các bị cáo Bảo A, T và T5 đồng ý và bị cáo T có nói cho bị cáo M biết là đi lấy mã tấu. Sau đó, bị cáo T hỏi Dương Quốc T9, nơi cư trú: ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long mượn xe mô tô biển kiểm soát số 61G1 – 098.40 chạy về nhà của bị cáo T lấy 01 (một) con dao loại mã tấu (loại dao tự chế dài 68 cm, cán dao bằng kim loại màu đen có quấn vải màu trắng dài 21 cm, lưỡi dao dạng thẳng bằng kim loại màu đen dài 47 cm, nơi rộng nhất 3,2 cm, có 01 bề lưỡi sắc bén, mũi nhọn) và 01 (một) con dao loại cây kiếm N (dài 72 cm, cán dao có quấn vải màu xanh dài 24 cm, lưỡi dao dạng cong bằng kim loại màu trắng dài 48 cm, nơi rộng nhất 03 cm, có 01 bề lưỡi sắc bén, mũi nhọn) để lên baga xe rồi chạy lên hướng đầu lộ 16 tìm bị cáo Bảo A để đi chung. Lúc này, bị cáo Bảo A điện thoại qua mạng xã hội Facebook kêu bị cáo Trần Quốc T4, sinh ngày 21/4/2006, nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long cùng đi đánh bị hại L trả thù cho bị cáo M thì bị cáo T4 cũng đồng ý. Bị cáo Bảo A tự ý lấy xe mô tô biển kiểm soát số 64E1 – 508.24 của Nguyễn Ngọc S1, nơi cư trú: ấp P, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, điều khiển chở bị cáo T4 và bị cáo T5 đến đầu lộ 16 thì Phạm Quang L2, nơi cư trú: ấp H, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Long đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát số 51P7 – 8497 chở Nguyễn Thị Kim N1, nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long nhìn thấy nên điều khiển xe chở N1 chạy theo, đến địa phận ấp P, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Long thì gặp bị cáo T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát số 61G1 – 098.40 chạy lên. Lúc này, bị cáo T4 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát số 61G1 – 098.40 chở bị cáo T cầm hai con dao tự chế, bị cáo Bảo A điều khiển xe mô tô biển kiểm soát số 64E1 – 508.24 chở bị cáo T5, L2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát số 51P7 – 8497 chở N1 đi theo Tỉnh lộ 909 về hướng chợ C1, khi đến cầu R thì bị cáo Tôn Minh L1, sinh ngày 25/12/2005, nơi cư trú: ấp P, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long và Trần Huỳnh T10, nơi cư trú: ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long nhìn thấy nên T10 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát số 64E1 – 388.53 chở bị cáo L1 chạy theo đi về hướng Ngã tư C, đến đèn xanh đèn đỏ thì dừng lại. Bị cáo T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát số 61G1 – 098.40 đến quán Bi da “Ngói” tại ấp H, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long gặp Dương Quốc C, nơi cư trú: ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long xin 02 khẩu trang y tế, 01 cái bị cáo T lấy đeo còn 01 cái thì kêu C che biển số xe lại rồi điều khiển xe quay trở lại gặp bị cáo Bảo A, bị cáo T4, bị cáo T5, bị cáo L1, L2, T10 và N1. Lúc này, bị cáo T5 và bị cáo L1 nhìn thấy bị cáo T4, bị cáo T có mang theo mã tấu và kiếm N2 nên biết các bị cáo Bảo A, T4 và T đi tìm chém người khác nhưng vẫn đồng ý đi theo.

Sau đó, bị cáo T5 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát số 61G1 – 098.40 chở các bị cáo T và T4. Bị cáo L1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát số 64E1 – 508.24 chở bị cáo Bảo A đi đến quán “Phương T8” để chém người khác cho bị cáo M; còn L2, T10, N1 không tham gia và chạy xe bỏ đi nơi khác.

Đến quán “Phương Thùy”, các bị cáo T5, L1 ngồi trên xe chờ sẵn, bị cáo T trên tay cầm 01 cây mã tấu, bị cáo T4 trên tay cầm 01 cây kiếm N2 xuống xe chạy lại chỗ bị cáo M đang ngồi, bị cáo M nhìn thấy bị cáo T và T4 trên tay có cầm mã tấu và kiếm nên biết bị cáo T và T4 đến chém bị hại Hồ Hoàng L cho bị cáo M, bị cáo M chỉ tay qua quán “Phương Thùy” nơi bị hại Hồ Hoàng L đang ngồi uống rượu cùng với bị hại D1, bị hại H1 và T7 tại bàn ghế đá để cho các bị cáo Bảo A, T và T4 đi đến đánh và chém trả thù cho bị cáo M nhưng đánh và chém ai, chém như thế nào thì tùy các bị cáo Bảo A, T và T4.

Lúc này, các bị cáo T, T4 trên tay cầm hung khí chạy đến bàn ghế đá chém người để trả thù cho bị cáo M, bị cáo Bảo A cũng chạy đến bàn ghế đá lúc này T7 nhìn thấy nên bỏ chạy còn lại bị hại L, H1 và D1 bị bị cáo T và T4 chém.

Bị cáo T cầm mã tấu bằng tay phải chém liên tiếp 03 cái, 01 cái từ trên xuống trúng vào đầu bị hại L, 02 cái trúng vào tay phải của bị hại L. Bị cáo T chém liên tục 02 cái từ trên xuống, 01 cái trúng đầu của bị hại H1 và 01 cái trúng vào tay trái của bị hại H1.

Bị cáo T4 cầm kiếm nhật bằng tay phải chém liên tiếp 03 cái, 01 cái trúng lưng của bị hại D1, 01 cái trúng vào gối trái của bị hại D1 và 01 cái trúng vào vùng cổ bên trái của bị hại D1, chém liên tiếp 03 cái trúng vào tay phải của bị hại H1.

Bị cáo Bảo A lấy 01 vỏ chai nước ngọt ném về hướng bàn ghế đá chổ bị hại L, H1, D1 và T7 ngồi uống rượu.

Sau khi chém xong, các bị cáo T, T4 và Bảo A ra xe mô tô do các bị cáo T5 và L chờ sẵn chạy chở về nhà. Bị hại Hồ Hoàng L được gia đình đưa đến điều trị tại Bệnh viện Đ và Bệnh viện Đ1, đến ngày 22/8/2022 thì xuất viện, bị hại Nguyễn Thanh H1 được gia đình đưa đến điều trị tại Bệnh viện Đ đến ngày 13/8/2022 thì xuất viện, còn bị hại Lê Quang D1 khám và điều trị tại nhà.

Quá trình điều tra, các bị cáo Phạm Dũng M, Nguyễn Quốc Bảo A, Trần Quang T, Trần Quốc T4, Lê Hữu T5 và Tôn Minh L1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Hồ Hoàng L yêu cầu các bị cáo M, T, T4, Bảo A, T5, L và gia đình các bị cáo bồi thường tổng số tiền là 177.302.211 đồng, gồm các chi phí sau: chi phí khám và điều trị là 47.302.211 đồng, tổn thất tinh thần là 80.000.000 đồng và chi phí điều trị vết sẹo sau này là 50.000.000 đồng. Ngoài ra, bị hại L yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo Bảo A, T, T4, T5, L. Cha bị hại L là ông Hồ Hoàng T11 yêu cầu bồi thường tiền mất thu nhập là 1.200.000 đồng.

Hiện gia đình các bị cáo M, Bảo A, T, T4, L đã khắc phục cho bị hại Hồ Hoàng L số tiền 39.000.000 đồng, cụ thể như sau: cha bị cáo M là ông Phạm Thanh D2 khắc phục 7.000.000 đồng; mẹ ruột bị cáo Nguyễn Quốc Bảo A là bà Ngô Thị A1 khắc phục 5.000.000 đồng; gia đình bị cáo Trần Quang T khắc phục 13.000.000 đồng; gia đình bị cáo Trần Quốc T4 khắc phục 11.000.000 đồng; gia đình bị cáo Tôn Minh L1 khắc phục 3.000.000 đồng.

- Bị hại Nguyễn Thanh H1 yêu cầu 06 bị cáo và gia đình 06 bị cáo bồi thường tổng số tiền 118.423.600 đồng, gồm các chi phí: chi phí khám điều trị 17.323.600 đồng, ngày công lao động 51.100.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần 50.000.000 đồng. Ngoài ra, bị hại H1 xin giảm nhẹ hình phạt cho 06 bị cáo.

Gia đình 06 bị cáo đã bồi thường cho bị hại H1 tổng số tiền 85.000.000 đồng, mỗi gia đình bồi thường 14.166.000 đồng.

- Bị hại Lê Quang D1 yêu cầu 06 bị cáo và gia đình 06 bị cáo bồi thường tổng số tiền 77.930.000 đồng, gồm các chi phí sau: chi phí khám và điều trị 850.000 đồng, ngày công lao động 2.580.000 đồng; tổn thất tinh thần 74.500.000 đồng. Ngoài ra, yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Bảo A, T, T4.

Gia đình các bị cáo A, T, T4 đã khắc phục cho bị hại Danh số tiền 5.000.000 đồng, trong đó gia đình bị cáo Bảo A bồi thường 1.000.000 đồng; gia đình bị cáo T bồi thường 2.000.000 đồng, gia đình bị cáo T4 bồi thường 2.000.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2023/HS-ST ngày 18 tháng 8 năm 2023,

Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Phạm Dũng M, Trần Quang T, Nguyễn Quốc Bảo A, Tôn Minh L1, Trần Quốc Trọng phạm t “Giết người”.

  1. Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm o khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 57, Điều 17, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc Bảo A 14 (Mười bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/8/2022.
  2. Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 101, Điều 102 Điều 17, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
    • - Xử phạt bị cáo Trần Quang T 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/8/2022.
    • - Xử phạt bị cáo Lê Hữu T5 08 (T12) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/8/2022.
    • - Xử phạt bị cáo Tôn Minh L1 07 (B) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/8/2022.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với bị cáo Phạm Dũng M, bị cáo Trần Quốc T4; về trách nhiệm dân sự; về xử lý vật chứng; về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 19 tháng 8 năm 2023, bị cáo Nguyễn Quốc Bảo A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 28 tháng 8 năm 2023, bị cáo Trần Quang T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 31 tháng 8 năm 2023, bị cáo Tôn Minh L1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 28 tháng 8 năm 2023, bị cáo Lê Hữu T5 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 07 tháng 10 năm 2023, bị cáo Lê Hữu T5 có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo.

Ngày 06/02/2024, bị cáo Tôn Minh L1 có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Các bị cáo Nguyễn Quốc Bảo A và Trần Quang T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa, phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Do mẫu trước đây giữa bị cáo M với bị hại nên bị cáo M đã nhắn tin rủ các bị cáo khác đánh nhau, các bị cáo có hành vi sử dụng hung khí là mã tấu, dao sắc nhọn chém bị hại, việc bị hại không chết là người ngoài mong muốn của các bị cáo, hành vi của các bị cáo thể hiện tính hung hăng côn đồ và giết nhiều người. Ngoài ra, đối với bị cáo Bảo A bị cáo còn có tình tiết tăng nặng là xúi giục người chưa thành niên phạm tội; đối với bị cáo T khi phạm tội bị cáo chưa thành niên nhưng bị cáo là trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và tuyên xử bị cáo Bảo A mức án 14 năm tù, bị cáo T mức án 09 năm tù là phù hợp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo T và bị cáo Bảo A, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Luật sư Đoàn Trọng N bào chữa cho bị cáo Trần Quang T trình bày: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã xét xử. Các bị cáo dù ý thức giết người hay không thì vẫn là lỗi cố ý nên luật sư thống nhất với tội danh mà Tòa án ấp sơ thẩm đã quy kết. Về tình tiết giảm nhẹ bị cáo có công trong phòng chống dịch Covid 19 và tham gia bắt các tôi phạm ở địa phương được Ủy ban nhân dân xã xác nhận nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo tình tiết này. Ngoài ra, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại. Lẽ ra, tương lai bị cáo còn dài, nhưng bị cáo lại nghe theo lời xúi giục của bị cáo khác, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ; mặt khác, hình phạt không để trừng trị mà để bị cáo có cơ hội sữa chữa trở thành người tốt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Luật sư Trần Hoàng T2 bào chữa cho bị cáo Bảo A trình bày: Cấp sơ thẩm bị cáo không thừa nhận hành vi giết nhiều người, bị cáo chỉ nghe theo lời của người khác, bị cáo hoàn toàn bị động khi các bị cáo khác thực hiện hành vi giết người nên hậu quả do các bị cáo khác thực hiện nằm ngoài ý chí của bị cáo; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng nguyên tắc phân loại tội phạm, xem xét nhân thân của bị cáo vào thời điểm phạm tội, cha mẹ bị cáo đã ly hôn dẫn đến bị cáo có suy nghĩ lệch lạc. Ngoài ra, bị cáo cũng có nhiều tính tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng:
    • + Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Quang T, Nguyễn Quốc Bảo A, Lê Hữu T5, Tôn Minh L1 làm trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét tại cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • + Ngày 28 tháng 8 năm 2023, bị cáo Lê Hữu T5 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Sau đó, ngày 07 tháng 10 năm 2023, bị cáo Lê Hữu T5 có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo. Tòa án cấp phúc thẩm đã ban hành Quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm số 59/2023/HSPT-QĐ ngày 15 tháng 11 năm 2023 đối với kháng cáo của bị cáo Lê Hữu T5.
    • + Ngày 31 tháng 8 năm 2023, bị cáo Tôn Minh L1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 06/02/2024, bị cáo Tôn Minh L1 có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo. Tòa án cấp phúc thẩm đã ban hành Quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm số 23A/2024/HSPT-QĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với kháng cáo của bị cáo Tôn Minh L1.
  2. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, kết luận giám định, vật chứng thu giữ cùng các liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có cơ sở xác định:

    Xuất phát từ mâu thuẫn trong việc vay mượn tiền giữa bị cáo Phạm Dũng M và bị hại Hồ Hoàng L đã xảy ra trước đó. Nên vào khoảng 22 giờ 15 phút ngày 10/8/2022, khi thấy nhóm của bị hại Hồ Hoàng L, Nguyễn Thanh H1 và Lê Quang D1 đang uống rượu tại quán P thuộc ấp H, xã M, huyện T thì bị cáo Phạm Dũng M đã gọi điện thoại rủ Trần Quang T, Lê Hữu T5, Nguyễn Quốc Bảo A đến quán P để đánh trả thù bị hại Hồ Hoàng L; riêng Bảo A gọi thêm Trần Quốc T4 đi cùng. Khi đi đến gần quán P bị cáo T5 điều khiển xe mô tô chở Trần Quang T và Trần Quốc T4 còn bị cáo T thì mang theo dao loại mã tấu, bị cáo T4 mang theo kiếm N; bị cáo L điều khiển xe chở bị cáo Bảo A. Gặp nhau ở quán P, bị cáo M đã chỉ bàn của bị hại L; lúc này bị cáo T đã cầm mã tấu chém bị hại L 03 nhát liên tiếp vào đầu và tay và chém bị hại H1 03 nhát cũng vào đầu và tay, còn bị cáo T4 dùng kiếm N2 chém bị hại D1 03 nhát và bị hại H1 03 nhát; Riêng Bảo A dùng vỏ chai nước ngọt ném về chỗ bàn của các bị hại nhưng không trúng.

    Hậu quả bị hại Hồ Hoàng L bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ thương tật là 38%; bị hại Lê Quang D1 với bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ thương tật là 05%; bị hại Nguyễn Thanh H1 bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ thương tật là 29%.

    Với hành vi và hậu quả nêu trên; Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử các bị cáo Phạm Dũng M, Trần Quang T, Trần Quốc T4, Nguyễn Quốc Bảo A, Lê Hữu T5 phạm tội “Giết người” theo điểm a, n khoản 1 Điều 123 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

  3. Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trị an xã hội tại địa phương. Chỉ vì chút mâu thuẫn nhỏ trong việc vay mượn tiền mà bị cáo M đã gọi các bị cáo khác đi đánh bị hại để trả thù; các bị cáo L, Bảo A, T, T4 và T5 mới nghe bị cáo M gọi đi đánh bị hại thì đã hưởng ứng nhiệt tình, chở nhau mang hung khí nguy hiểm tìm đánh bị hại. Hành vi của các bị cáo thể hiện tính côn đồ, hiếu thắng, xem thường pháp luật. Do đó cần xử các bị cáo mức án tương xứng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội đặc biệt là nhóm thanh niên trẻ tuổi.
    • [3.1] Đối với bị cáo Nguyễn Quốc Bảo A: Trong vụ án này bị cáo Bảo A không trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nhưng bị cáo là người gọi điện thoại rủ Trần Quốc T4 đi đánh nhau khi T4 chưa đủ 18 tuổi. Bị cáo biết bị cáo T4 mang theo hung khí nguy hiểm là kiếm N2 để đánh nhau có thể gây ra chết người nhưng bị cáo vẫn không can ngăn. Khi đi bị cáo còn chở bị cáo Lê Hữu T5 (chưa đủ 18 tuổi) đi đánh nhau. Hành vi của bị cáo đã xúi giục, giúp sức tích cực cho các bị cáo chưa thành niên phạm tội.

      Khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, cụ thể: Bị cáo có tình tiết tăng nặng là xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội; Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tích cực tác động gia đình thăm hỏi xin lỗi bị hại và bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại, được các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; ngoài ra bị cáo còn là cháu ruột của liệt sỹ Trương Văn T13, Trương Văn T14, Nguyễn Văn T15 đã có công với cách mạng trong sự nghiệp chống Mỹ, chống Pháp cứu nước theo điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Theo đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo mức án 14 năm tù là tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội dồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo.

    • [3.2] Đối với bị cáo Trần Quang T: Bị cáo là người trực tiếp dùng dao chém bị hại, gây ra thương tích cho bị hại. Tuy nhiên, khi phạm tội bị cáo chưa tròn 18 tuổi; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

      Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, năn năn hối cải; Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục một phần hậu quả cho bị hại; được các bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Theo đó, bị cáo có thể được áp dụng thêm Điều 54 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét áp dụng cho bị cáo là thiếu sót. Ngoài, ra bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt, tham gia với vài trò đồng phạm, khi phạm tội bị cáo chưa tròn 18 tuổi. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo mức án 09 năm tù là nặng.

      Do đó, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với tội phạm vị thành niên.

  4. Từ những phân tích và nhận định nêu trên; Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Quốc Bảo A, giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo Bảo A; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quang T; Sửa bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Trần Quang T.
  5. Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Bảo A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm theo Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quốc Bảo A; Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 28/2023/HS-ST ngày 18/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đối với bị cáo Bảo A.
  2. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quang T; Sửa bản án sơ thẩm số 28/2023/HS-ST ngày 18/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về phần hình phạt đối với bị cáo Trần Quang T.
  3. Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm o khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 57, Điều 17, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc Bảo A 14 (Mười bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/8/2022.
  4. Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 123; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 54, Điều 101, Điều 102 của Bộ luật hình sự.
    • - Xử phạt bị cáo Trần Quang T 07 (B) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/8/2022.

Tiếp tục tạm giam các bị cáo theo quyết định giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.

  1. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Quốc Bảo A phải nộp 200.000 đồng; bị cáo Trần Quang T không phải nộp.
  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao; (1)
  • - VKSNDCC tại TP.HCM; (1)
  • - TAND tỉnh Vĩnh Long; (4)
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Long; (1)
  • - Công an tỉnh Vĩnh Long; (1)
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long; (1)
  • - Cục THADS tỉnh Vĩnh Long; (1)
  • - TTG Công an tỉnh Vĩnh Long; (4)
  • (để tống đạt cho các bị cáo)
  • - Lưu VT (5), HS (2) 21b (Án - Tâm).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Tuyết Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 422/2024/HS-PT ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự phúc thẩm (tội giết người)

  • Số bản án: 422/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm (Tội Giết người)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo của bị cáo A, chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Th
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger