Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 421/2023/DS - PT

Ngày 26 - 10 - 2023

Về việc tranh chấp quyền

sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Lê Văn Phận
Các Thẩm phán:Ông Lê Minh Đạt
Ông Phạm Văn Ngọt

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Mai – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phượng – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 264/2023/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” do Bản án dân sự sơ thẩm số 140/2023/DS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3397/2023/QĐXXPT-DS ngày 06 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Bà Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1963
  2. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1963

Cùng địa chỉ: Ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T: Bà Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm: 1963 (Tại hợp đồng ủy quyền ngày 24/10/2023)

Địa chỉ: Ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn:

  1. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1971
  2. Bà Đào Thị S, sinh năm 1968

Cùng địa chỉ: Ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Đào Thị S: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1971 (Tại hợp đồng ủy quyền ngày 02/6/2023)

Địa chỉ: Ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Nguyễn Văn T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm,

Tại đơn khởi kiện, văn bản trình bày ý kiến, biên bản hòa giải và phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Nguyễn Văn T trình bày:

Ông, bà đang sở hữu phần đất có diện tích 1.306,8 m² thửa đất số 264, tờ bản đồ số 6, tọa lạc ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre. Ông, bà được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 17/5/2013, có số CH02606. Phần đất ông, bà sử dụng phía Nam Tây giáp ranh với đất của ông Nguyễn Văn L, bà Đào Thị S thuộc thửa 627, tờ bản đồ số 6. Nguồn gốc đất của ông, bà và vợ chồng ông L là do cha mẹ để lại. Từ trước đến nay hai bên sử dụng đất ổn định; ranh đất của ông, bà giáp với đất của ông L không thay đổi, ranh đất là ranh thẳng có chiều dài khoảng là 38 m; trụ ranh làm bằng trụ đá.

Khoảng tháng 6/2021 ông L, bà S có xây hàng rào lưới B40, cao khoảng 1,5 m chạy dài thửa đất (từ điểm số 6 đến điểm số 1). Ông, bà và ông L, bà S thống nhất trụ ranh đầu trên giáp đường đi (điểm số 6 theo sơ đồ mô tả kết quả đo đạc) là đúng ranh đất. Phần hàng rào còn lại thì có một đoạn từ giữa hàng rào (16 m) chạy dài đến đầu giáp ranh với thửa đất 263 của ông Nguyễn Văn Mười M (điểm số 1 theo sơ đồ mô tả kết quả đo đạc) đã xây lấn qua thửa đất của ông, bà khoảng 0,35 m. Khi ông, bà phát hiện ông L, bà S có hành vi xây hàng rào lấn qua phần đất ông, bà thì ông, bà có ngăn cản yêu cầu ông L, bà S dừng việc xây dựng nhưng việc này hai bên chỉ nói miệng không có làm giấy tờ gì. Năm 2021 ông, bà phát sinh tranh chấp với ông L, bà S tại Ủy ban nhân dân xã S nhưng hai bên không hòa giải thỏa thuận được và phát sinh tranh chấp cho đến nay.

Trước đây ông, bà yêu cầu ông Nguyễn Văn L và bà Đào Thị S phải giao trả cho ông bà phần đất có diện tích 19 m² (chiều ngang khoảng 05 tấc, chiều dài khoảng 38 m), thuộc một phần thửa đất số 264, tờ bản đồ số 6, tọa lạc ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre. Đồng thời ông, bà yêu cầu ông Nguyễn Văn L, bà S phải tự di dời phần kéo hàng rào lưới B40 trên đất tranh chấp, ông bà không đồng ý bồi thường.

Nay qua đo đạc thực tế ông, bà yêu cầu ông L, bà S giao trả phần đất thể hiện điểm số 1, 2, 3, 4 có diện tích 0,4 m² thuộc một phần thửa 627 tờ bản đồ 06.

Ông, bà yêu cầu ông L, bà S tự di dời hàng rào đoạn từ giữa hàng rào (dài 16 m) chạy dài đến đầu giáp ranh với thửa đất 263 của ông Nguyễn Văn Mười M (điểm số 4 theo sơ đồ mô tả kết quả đo đạc) đã xây lấn qua thửa đất số 264 của ông bà chiều ngang khoảng 0,35 m; ông bà không đồng ý bồi thường.

Đối với điểm số 6 thì ông, bà và ông L, bà S đã thống nhất ranh phần đất này nên ông bà không tranh chấp

Nguyên đơn thống nhất về việc thu thập chứng cứ của Tòa án, đối với chi phí tố tụng thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình tố tụng bị đơn ông Nguyễn Văn L đồng thời được sự ủy quyền của bà Đào Thị S trình bày:

Ông, bà đang sở hữu phần đất có diện tích 4.001,6 m² thửa đất số 627, tờ bản đồ số 06, tọa lạc ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre; phần đất này ông, bà được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2012. Phần đất của ông, bà sử dụng có ranh đất giáp với thửa đất số 264 của ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Thúy H. Nguồn gốc đất của vợ chồng ông là do cha mẹ để lại cho ông trực tiếp sử dụng từ lâu; quá trình sử dụng đất ổn định không có tranh chấp.

Năm 2021 ông, bà thường xuyên đi làm nên có xây dựng hàng rào B40 để bảo vệ đất. Quá trình làm hàng rào thì ông T không có ngăn cản gì. Việc ông T, bà H nói có ngăn cản là không đúng. Ông, bà xác định đất ông, bà sử dụng đúng ranh không có lấn chiếm đất của bà H, ông T.

Ông, bà không đồng ý giao trả cho ông T, bà H phần đất thuộc điểm số 1, 2, 3, 4 có diện tích 0,4 m² thuộc một phần thửa 627 tờ bản đồ 06, do đây là phần đất thuộc sở hữu hợp pháp của ông, bà.

Đối với trụ ranh tại điểm số 6 thì ông, bà và ông T, bà H đã thống nhất phần đất này ông, bà không tranh chấp.

Ông T, bà H cho rằng hàng rào đoạn từ giữa hàng rào có chiều dài 16 m chạy dài đến đầu giáp ranh với thửa đất 263 của ông Nguyễn Văn Mười M (điểm số 4 theo sơ đồ mô tả kết quả đo đạc) đã xây lấn qua thửa đất của ông T, bà H khoảng 0,35 m là không đúng. Ông, bà đã xây hàng rào đúng ranh đất nên ông bà không đồng ý di dời hàng rào theo yêu cầu của ông T, bà H.

Bị đơn thống nhất về việc thu thập chứng cứ của Tòa án, đối với chi phí tố tụng thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Sau khi hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách đưa vụ án ra xét xử với quyết định:

Căn cứ vào Điều 26, Điều 34, điểm b khoản 1 Điều 35, 39, 147, 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Các điều 26, 166, 170, 203 Luật Đất đai 2013;

Căn cứ Điều 158, 166 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ các Điều 12, 26, 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Thúy H về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn L, bà Đào Thị S giao trả phần đất vị trí điểm 1, 2, 3, 4 diện tích 0,4 m² thuộc thửa 627, tờ bản đồ 06, tọa lạc tại xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Thúy H về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn L, bà Đào Thị S tự di dời hàng có chiều dài 16 m (đoạn từ giữa hàng rào chạy dài đến điểm số 4 theo sơ đồ mô tả kết quả đo đạc) đã xây lấn qua thửa đất số 264 của ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Thúy H chiều ngang khoảng 0,35m.
  3. Bị đơn là ông Nguyễn Văn L, bà Đào Thị S được tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất và các tài sản trên đất có vị trí điểm 1, 2, 3, 4 diện tích 0,4 m² thuộc thửa 627, tờ bản đồ 06 tọa lạc tại xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre.
  4. Đối với điểm số 6 (phần 5 - 6 - 7 có diện tích 5.0 m²) theo sơ đồ mô tả kết quả đo đạc ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Thúy H; ông Nguyễn Văn L, bà Đào Thị S thống nhất hai bên sử dụng đất đúng ranh, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về độ dài tứ cận, vị trí các phần đất nêu trên có họa đồ kèm theo.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 28 tháng 7 năm 2023, bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Nguyễn Văn T kháng cáo.

Theo đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thúy H, ông Nguyễn Văn T và tại phiên tòa phúc thẩm bà H đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của ông T giữ nguyên nội dung kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Bà H yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Nguyễn Văn L không đồng ý nội dung kháng cáo của bà bà Nguyễn Thị Thúy H, ông Nguyễn Văn T yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre phát biểu: Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng đã thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thúy H, ông Nguyễn Văn T, giữ nguyên nội dung Bản án dân sự sơ thẩm số 140/2023/DS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng. Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thúy H, ông Nguyễn Văn T và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre. Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Nguyễn Văn T kháng cáo và thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm. Theo đơn kháng cáo của bà H và ông T yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Nguyễn Văn L không đồng ý nội dung kháng cáo của nguyên đơn, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[2] Về nội dung: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Thúy H yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn L, bà Đào Thị S giao trả phần đất theo đo đạc thực tế vị trí thể hiện điểm số 1, 2, 3, 4 có diện tích 0,4 m² thuộc một phần thửa 627 tờ bản đồ 06. Đồng thời ông, bà yêu cầu ông L, bà S tự di dời hàng rào đoạn từ giữa hàng rào dài 16 m chạy dài đến đầu giáp ranh với thửa đất 263 của ông Nguyễn Văn Mười M (điểm số 4) đã xây lấn qua thửa đất của ông, bà khoảng 0,35 m; ông T, bà H không đồng ý bồi thường. Ông L, bà S không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T, bà H.

[3] Về quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Ông T, bà H được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/6/1995, có diện tích 5.260 m² thuộc thửa 822, tờ bản đồ số 01, tọa lạc xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre. Ngày 11/5/2013 ông T, bà H được cấp đổi phần đất trên thuộc thửa 264, tờ bản đồ 06. Ông L, bà S được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/12/2012, có diện tích 4.152 m² thuộc thửa 282, tờ bản đồ số 01, tọa lạc xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre. Ngày 26/3/2021 ông L, bà S xin tách thửa và chuyển mục đích sử dụng thành thửa 627, 628 theo Quyết định số 981/QĐ – UBND huyện C ngày 07/4/2021. Các đương sự thống nhất hồ sơ quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật, nguyên đơn, bị đơn không có khiếu nại hay tranh chấp gì.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[4.1] Ông T, bà H yêu cầu ông L, bà S giao trả phần đất vị trí thể hiện điểm số 1, 2, 3, 4 có diện tích 0,4 m² thuộc một phần thửa 627 tờ bản đồ 06. Xét thấy: Căn cứ vào kết quả xem xét thẩm định thực tế ngày 28/3/2023; kết quả đo đạc ngày 10/5/2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C cung cấp thì vị trí đất vị trí tranh chấp tại điểm 1,2,3,4 diện tích 0,4 m² thuộc thửa 627 tờ bản đồ 06 của ông L, bà S được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/12/2012; ông T, bà H không có tài liệu chứng cứ chứng mình vị trí đất tranh chấp nằm trong thửa 264 của ông T, bà H. Diện tích sử dụng của hai bên qua kết quả đo đạc bà H sử dụng không bị giảm diện tích, hình thể hai thửa đất số 627, 264 qua thẩm định phù hợp quá trình quản lý sử dụng đất của bị đơn. Mặt khác nguyên đơn, bị đơn thống nhất quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 264, 627 là đúng quy định pháp luật. Quá trình quản lý sử dụng đất phía ông L, bà S không bị cơ quan có thẩm quyền lập biên bản hay xử lý gì liên quan đến việc vi phạm khi quản lý sử dụng đất. Đồng thời ông L, bà S đã xây dựng hàng rào ranh giữa hai thửa đất, phía bị đơn không ngăn cản, không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh việc ngăn cản đối với bị đơn. Do đó việc ông T, bà H cho rằng ông L, bà S lấn chiếm đất là không có cơ sở nên không được chấp nhận.

[4.2] Ông T, bà H yêu cầu ông L, bà S tự di dời hàng rào đoạn từ giữa hàng rào (dài 16 m) chạy dài đến đầu giáp ranh với thửa đất 263 của ông Nguyễn Văn Mười M (điểm số 4 theo sơ đồ mô tả kết quả đo đạc) đã xây lấn qua thửa đất số 264 của ông, bà chiều ngang khoảng 0,35 m; ông bà không đồng ý bồi thường. Xét thấy: Căn cứ vào kết quả xem xét thẩm định thực tế ngày 28/3/2023; kết quả đo đạc ngày 10/5/2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C cung cấp, lời trình bày của các đương sự nguyên đơn, bị đơn thống nhất trụ ranh đầu giáp đường lộ là điểm số 6 (theo sơ đồ mô tả kết quả đo đạc). Đồng thời vị trí hàng rào trụ sắt, xây tường lửng cao 0,5 m, phía trên kéo lưới B40 cao 1,5 m ông L, bà S xây dựng trùng với đường ranh từ điểm số 6 đến điểm số 4 (theo sơ đồ mô tả kết quả đo đạc); ông T, bà H cho rằng đoạn giữa hàng rào dài 16 m chạy dài đến điểm số 4 theo sơ đồ mô tả kết quả đo đạc đã xây lấn qua thửa đất số 264 của ông, bà có chiều ngang khoảng 0,35 m là không có cơ sở nên không được chấp nhận.

Ông T, bà H, ông L, bà S thống nhất trụ hàng rào của ông L, bà S tại điểm số 6 (theo sơ đồ mô tả kết quả đo đạc) là đúng ranh, hai bên không tranh chấp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Từ những phân tích trên, thấy rằng yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Thúy H về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn L, bà Đào Thị S giao trả phần đất vị trí điểm 1,2,3,4 diện tích 0,4 m² thuộc thửa 627, tờ bản đồ 06 tọa lạc tại xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre va ông Nguyễn Văn L, bà Đào Thị S tự di dời hàng có chiều dài 16m (đoạn từ giữa hàng rào chạy dài đến điểm số 4 theo sơ đồ mô tả kết quả đo đạc) đã xây lấn qua thửa đất số 264 của ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Thúy H chiều ngang khoảng 0,35 m là không có căn cứ. Bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Nguyễn Văn T khởi kiện nhưng không cung cấp được chứng cứ có giá trị chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ nên không được chấp nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị Thúy H, ông Nguyễn Văn T phải chịu, tuy nhiên bà H thuộc diện người cao tuổi nên được miễn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo

của bà Nguyễn Thị Thúy H, ông Nguyễn Văn T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 140/2023/DS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

Áp dụng các điều 26, 166, 170, 203 Luật đất đai 2013; các điều 158, 166 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Thúy H về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn L, bà Đào Thị S giao trả phần đất vị trí điểm 1, 2, 3, 4 diện tích 0,4 m² thuộc thửa một phần thửa đất số 627, tờ bản đồ 06, tọa lạc tại xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Thúy H về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn L, bà Đào Thị S tự di dời hàng có chiều dài 16 m (đoạn từ giữa hàng rào chạy dài đến điểm số 4 theo sơ đồ mô tả kết quả đo đạc) đã xây lấn qua thửa đất số 264 của ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Thúy H chiều ngang khoảng 0,35m.
  3. Bị đơn là ông Nguyễn Văn L, bà Đào Thị S được tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất và các tài sản trên đất có vị trí điểm 1, 2, 3, 4 diện tích 0,4 m² thuộc thửa 627, tờ bản đồ 06, tọa lạc tại xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre.
  4. Đối với điểm số 6 (phần 5-6-7 có diện tích 5,0 m²) theo sơ đồ mô tả kết quả đo đạc ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Thúy H; ông Nguyễn Văn L, bà Đào Thị S thống nhất hai bên sử dụng đất đúng ranh, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về độ dài tứ cận, vị trí các phần đất nêu trên có họa đồ kèm theo.

2. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Thúy H phải chịu là 2.593.000 đồng (Hai triệu năm trăm chín mươi ba nghìn đồng) và đã nộp xong.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Thúy H được miễn.

Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Thúy H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001613 ngày 22 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Nguyễn Văn T được miễn.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - TAND huyện Chợ Lách;
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Lách;
  • - Các đương sự;
  • - Phòng KTNV&THAHS tỉnh Bến Tre;
  • - Chánh án TAND tỉnh Bến Tre;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Phận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 421/2023/DS - PT ngày 26/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 421/2023/DS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/10/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger