TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 412/2024/HNGĐ-ST Ngày: 21-10-2024 Về việc tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: | |
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Văn Tuấn. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Phan Thanh Minh. |
| Ông Hồ Văn Cảm. | |
| - Thư ký phiên tòa: | Bà Hồ Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án |
| nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. | |
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: | |
| Ông Hà Thanh Bình - Kiểm sát viên. | |
Ngày 21 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 362/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5060/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14078/2024/QĐ-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Bùi Đức T, sinh năm 1962; địa chỉ: Số K Đường D, Phường N, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Bùi Thị P, sinh năm 1966; địa chỉ: Hoa Kỳ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn ông Bùi Đức T trình bày như sau: Ông và bà Bùi Thị P quen biết, tìm hiểu nhau và tự nguyện kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số X do UBND Phường N, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18 tháng 5 năm 1988. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông chung sống hạnh phúc. Đến khoảng năm 2005 thì vợ chồng ông phát sinh mâu thuẫn do không cùng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã. Mặc dù đã cố gắng giải quyết nhưng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, từ năm 2010 vợ chồng ông sống ly thân. Đến năm 2018, gia đình ông sang Mỹ sinh sống, nhưng do không thể tiếp tục chung sống với bà P nên năm 2021 ông trở về Việt Nam, hai người không còn liên hệ với nhau cho đến nay. Ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn bà Bùi Thị P.
Về con chung: Giữa ông và bà Bùi Thị P có 01 người con chung là Bùi Đình T1, sinh năm 2001, đã trưởng thành.
Về tài sản chung, nợ chung: Giữa ông và bà Bùi Thị P không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề tài sản.
Đối với bị đơn bà Bùi Thị P: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo thời gian và địa điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án thông qua thủ tục ủy thác tư pháp đến Cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ, theo địa chỉ của bị đơn do nguyên đơn cung cấp. Đồng thời, yêu cầu bà Bùi Thị P có văn bản gửi Tòa án trình bày ý kiến về việc ông Bùi Đức T khởi kiện yêu cầu ly hôn (theo Công văn ủy thác tư pháp số Y ngày 22 tháng 01 năm 2024). Đến ngày mở phiên tòa như đã định tại thông báo gửi đương sự, Tòa án không nhận được bản tự khai, tài liệu, chứng cứ của bị đơn và bị đơn vắng mặt, không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Để đảm bảo việc giải quyết vụ án theo đúng thời hạn luật định và bảo đảm quyền lợi của đương sự khác, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
[2] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ pháp luật tố tụng dân sự trong việc giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm có nêu: Thẩm phán, các thành viên Hội đồng xét xử sơ thẩm, đương sự trong vụ án đã thực hiện đầy đủ quy định pháp luật về tố tụng dân sự; quan hệ tranh chấp của vụ án đã được xác định đúng, chứng cứ được thu thập hợp lệ; vụ án có yếu tố nước ngoài, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền; thủ tục ủy thác tư pháp đã được tiến hành hợp lệ. Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa đã có văn bản trình bày ý kiến giao nộp cho Tòa án và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không có lời khai, tài liệu, chứng cứ, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án giải quyết vụ án theo luật định. Đề xuất về đường lối giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho ly hôn. Về con chung: Con chung đã trưởng thành; về nợ chung nguyên đơn xác định không có, không yêu cầu giải quyết vấn đề về tài sản nên đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra chứng cứ công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, giấy chứng nhận kết hôn; căn cứ lời trình bày của nguyên đơn tại bản tự khai, có cơ sở để xác định đây là vụ án về ly hôn.
Bị đơn trong vụ án là bà Bùi Thị P cư trú tại Hoa Kỳ; nguyên đơn ông Bùi Đức T cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35, Khoản 1 Điều 37, Điểm c Khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Trước khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, nguyên đơn đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tòa án đã tống đạt thông báo về thời gian và địa điểm mở phiên tòa cho bị đơn thông qua thủ tục ủy thác tư pháp nhưng bị đơn vắng mặt. Xét, yêu cầu và ý kiến của nguyên đơn đã được thể hiện rõ trong bản khai, sự vắng mặt của các bên đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 và 3 Điều 228, Khoản 4 và 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm quyết định xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Căn cứ đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn; Bản sao trích lục kết hôn số E ngày 01 tháng 8 năm 2023 của UBND Phường N, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, có cơ sở để xác định quan hệ hôn nhân giữa ông Bùi Đức T và bà Bùi Thị P là hợp pháp.
Theo trình bày của nguyên đơn ông Bùi Đức T thì sau khi kết hôn, vợ chồng ông chung sống hạnh phúc. Đến khoảng năm 2005 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, năm 2010 thì ly thân nhau. Từ năm 2021, bà P sinh sống tại Mỹ còn ông T sinh sống tại Việt Nam, hai người không còn liên hệ với nhau cho đến nay. Ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn bà Bùi Thị P.
Hội đồng xét xử xét thấy: Giữa ông T và bà P đã tồn tại mâu thuẫn trong thời gian dài mà không thể giải quyết, vợ chồng không còn chung sống hay liên hệ gì với nhau thể hiện cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, không thể hàn gắn, đoàn tụ. Do đó, có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Đức T, giải quyết cho ông T ly hôn bà Bùi Thị P như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa.
[3] Về con chung: Giữa ông Bùi Đức T và bà Bùi Thị P có 01 người con chung là Bùi Đình T1, sinh năm 2001, đã trưởng thành.
[4] Về quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng: Nguyên đơn trình bày giữa ông và bà Bùi Thị P không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản nên Hội đồng xét xử không xét.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm; lệ phí, chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và lệ phí, chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35, Khoản 1 Điều 37, Điểm c Khoản 1 Điều 40, Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 và 3 Điều 228, Khoản 4 và 5 Điều 477, Khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Khoản 1 Điều 56, Điều 121 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Áp dụng Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19 tháng 10 năm 2016 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Tòa án nhân dân tối cao quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự;
- Áp dụng Luật Thi hành án dân sự.
I. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Bùi Đức T:
1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Bùi Đức T được ly hôn bà Bùi Thị P.
Giấy chứng nhận kết hôn số X ngày 18 tháng 5 năm 1988 do UBND Phường N, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp (theo Bản sao trích lục kết hôn số E ngày 01 tháng 8 năm 2023 của UBND Phường N, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh) không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Ông Bùi Đức T và bà Bùi Thị P có 01 người con chung là Bùi Đình T1, sinh năm 2001, đã trưởng thành.
3. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Nguyên đơn ông Bùi Đức T trình bày giữa ông và bà Bùi Thị P không có nghĩa vụ chung về tài sản, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên Tòa án không xem xét.
II. Án phí dân sự sơ thẩm; lệ phí, chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài:
Nguyên đơn ông Bùi Đức T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đương sự đã nộp theo biên lai thu tiền số P ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, đương sự đã thi hành xong án phí sơ thẩm.
Nguyên đơn ông Bùi Đức T phải chịu lệ phí ủy thác tư pháp và chi phí thực tế thực hiện ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật.
III. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo để được xem xét lại vụ án theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; bị đơn cư trú ở nước ngoài không có mặt tại phiên tòa nên thời hạn kháng cáo là 01 (một) tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được áp dụng theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tuấn |
Bản án số 412/2024/HNGĐ-ST ngày 21/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 412/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông T và bà Bùi Thị P quen biết, tìm hiểu nhau và tự nguyện kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số X do UBND Phường N, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18 tháng 5 năm 1988. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông chung sống hạnh phúc. Đến khoảng năm 2005 thì vợ chồng ông phát sinh mâu thuẫn do không cùng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nên ông T khởi kiện, yêu cầu Tòa án cho ly hôn với bà P
