|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 421/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25 - 9 - 2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Trần Ngọc Đăng
- 2. Ông Võ Duy Bảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Quyên – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan; Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 282/2024/HNGĐST ngày 28 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 381/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024 và quyết định hoãn phiên toà số 105/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/9/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ngân Thị N; sinh năm 1996; Địa chỉ: Chung cư R, GWGH+M3C, Đại lộ H, thành phố P, Vương quốc Campuchia; Nơi ĐKHKTT trước khi xuất cảnh: Bản Pòng, xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Chị Trần Thị Thanh H, sinh năm: 1988; Địa chỉ: số C, đường L, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. (Ủy quyền nhận, giao nộp văn bản, tài liệu).
- Bị đơn: Anh Trương Văn T; sinh năm 1992; Địa chỉ: Xóm M, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (lần thứ hai).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Văn C, sinh năm 1962 và bà Cao Thị L, sinh năm 1965; Đều có địa chỉ: Xóm M, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An (là bố mẹ đẻ anh Trương Văn T). Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 02/5/2024, Bản tự khai, đơn xin vắng mặt (có xác nhận của Đ tại V Campuchia), nguyên đơn chị Ngân Thị N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trương Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 28/7/2014 tại UBND xã C, huyện Q, Nghệ An. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân của mâu thuẫn do anh T ham chơi, thiếu sự quan tâm, chia sẻ và chăm sóc gia đình nên giữa hai bên thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn, cãi vã gay gắt. Kể từ năm 2016 chị và anh T sống ly thân nhau, chị ra Hà Nội sinh sống và làm việc, còn anh T sống tại Q, Nghệ An cùng với bố mẹ đẻ. Đến năm 2020, chị đi xuất khẩu lao động và hiện nay đang sinh sống tại Campuchia. Từ năm 2016 đến nay chị và anh T rất ít khi liên lạc và nói chuyện với nhau, anh T đi làm không thường xuyên ở nhà. Nên chị chủ yếu liên lạc cho bố mẹ chồng là ông Trương Văn C và bà Cao Thị L để thăm hỏi tình hình con cái. Nhận thấy rằng, tình cảm vợ chồng đến nay không còn, mâu thuẫn rạn nứt không thể hàn gắn được, việc tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân sẽ làm cho cuộc sống của hai người thêm mệt mỏi, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, để ổn định cuộc sống chị làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị N được ly hôn với anh Trương Văn T.
- Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 (một) con chung là cháu Trương Đức T1, sinh ngày 31/7/2014. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay, do điều kiện chị đi làm ăn xa, công việc của anh T ít khi ở nhà thường xuyên, nên cháu Trương Đức T1 được ông bà nội là ông Trương Văn C và bà Cao Thị L trực tiếp chăm sóc. Ly hôn, chị đồng ý theo nguyện vọng của cháu Trương Đức T1 muốn được ở cùng với bố hoặc ở cùng với mẹ. Trong trường hợp cháu có nguyện vọng được ở cùng với mẹ, chị đồng ý trực tiếp nuôi cháu và không yêu cầu anh Trương Văn T cấp dưỡng nuôi con. Nếu chị được Toà án giao nuôi dưỡng con chung thì chị đề nghị Toà án tạm giao cháu Trương Đức T1 cho ông bà nội là ông Trương Văn C và bà Cao Thị L (cùng trú tại: xóm M, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An) trực tiếp nuôi dưỡng cháu cho đến khi chị về Việt Nam. Việc cấp dưỡng nuôi cháu T1 sẽ do chị và ông bà nội của cháu (là ông C, bà L) tự thực hiện với nhau. Trong trường hợp cháu có nguyện vọng được ở cùng với bố là anh Trương Văn T, chị đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi cháu đến tuổi trưởng thành.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đồng thời, do hiện nay chị đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài, việc đi lại khó khăn nên đề nghị Tòa án cho chị được vắng mặt tại các phiên hoà giải, tiếp cận và công khai chứng cứ cũng như phiên toà xét xử sơ thẩm. Mặt khác, vợ chồng đã ly thân nhiều năm nay, do đó chị đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải và đưa vụ án ra xét xử. Mọi văn bản tố tụng kính đề nghị Toà án tống đạt cho người đại diện theo uỷ quyền của chị là bà Trần Thị Thanh H (theo văn bản uỷ quyền đã giao nộp cho Toà án).
Tại phiên toà bị đơn là anh Trương Văn T vắng mặt, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Theo kết quả xác minh từ Công an xã C, huyện Q tại Công văn số 60/CV-CAX ngày 19/8/2024 và Công văn số 25/CV-CAX ngày 10/9/2024 thể hiện nội dung: Anh Trương Văn T, sinh ngày 04/8/1992, có vợ là Ngân Thị N, sinh năm: 1996, địa chỉ: Xóm M, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An hiện nay có đăng ký thường trú tại: Xóm M, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Thời điểm hiện tại anh Trương Văn T không có mặt, sinh sống cùng gia đình tại xóm M, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Từ tháng 3 năm 2024, anh T đi khỏi địa phương, anh T đi đâu, làm gì, chính quyền địa phương không xác định được. Trước khi vắng mặt tại địa phương anh Trương Văn T sống chung cùng bố mẹ đẻ là bà Cao Thị L và ông Trương Văn C tại xóm M, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vì vậy, sau khi thụ lý, Toà án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa... cho anh Trương Văn T thông qua ông Trương Văn C, bà Cao Thị L (bố mẹ đẻ anh T) và niêm yết các văn bản này nhưng anh T vẫn không có mặt, không có văn bản trình bày ý kiến để giải quyết nên vụ án không tiến hành hoà giải được.
Tại Bản tự khai ngày 12/8/2024, ông Trương Văn C và bà Cao Thị L (là bố mẹ đẻ anh T) trình bày: Ông C, bà L đã nhận được các thông báo của Tòa án về việc chị Ngân Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết thủ tục ly hôn, nuôi con đối với anh T. Về tình cảm: anh T là con đẻ của ông C, bà L. Ngày 28/7/2014, chị N và anh T đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An và sống ly thân với nhau nhiều năm nay. Anh T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm M, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Từ sau khi chị N và anh T ly thân đến nay anh T cũng đi làm ăn xa, thi thoảng có đi về thăm gia đình. Khoảng thời gian cuối năm 2023, anh T có trở về nhà trong thời gian ngắn sau đó tiếp tục đi làm xa cho đến nay không về. Anh T có liên hệ qua điện thoại cho ông C, bà L và con đẻ của anh T, tuy nhiên anh T không nói cho ông C, bà L biết anh T đang ở đâu và làm gì nên ông C, bà L không biết địa chỉ cụ thể của anh T ở đâu để cung cấp cho Tòa án. Việc chị N yêu cầu ly hôn đối với anh T thì ông C, bà L không có ý kiến gì. Ông C, bà L cũng đã thông báo cho anh T biết các thông báo của Tòa án về việc chị N yêu cầu giải quyết ly hôn và anh T đồng ý. Do đó, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định.
Về vấn đề nuôi con: Chị N và anh T có 01 con chung là cháu Trương Đức T1, sinh ngày 31/7/2014. Do chị N và anh T đều đi làm ăn xa nên cháu T1 sống cùng ông C, bà L và do ông C, bà L trực tiếp chăm sóc. Hiện nay, ông C, bà L không biết địa chỉ cụ thể của anh T đang ở đâu, làm gì nên ông C, bà L đề nghị Tòa án giao cháu T1 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Trong trường hợp chị N được Tòa án giao nuôi dưỡng cháu T1, ông C, bà L đồng ý trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1 cho đến khi chị N về Việt Nam. Ông C, bà L không yêu cầu chị N hay anh T phải thanh toán bất cứ khoản chi phí nào từ trước cho đến nay và kể cả sau này. Hiện nay, ông C, bà Lương T2 đã cao, việc đi lại khó khăn nên không thể trực tiếp tham gia các phiên hòa giải, tiếp cận và công khai chứng cứ cũng như phiên tòa xét xử sơ thẩm. Do đó, ông C, bà L xin phép được vắng mặt tại các buổi làm việc theo thông báo của Tòa án và phiên tòa xét xử sơ thẩm. Mọi văn bản tố tụng của Tòa án giao cho anh T thì ông C, bà L cam đoan sẽ thông báo, giao lại cho anh T được biết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự; việc thụ lý và giải quyết vụ án đúng các quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng quy định... Tại phiên toà, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 122, 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
+ Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Ngân Thị N được ly hôn anh Trương Văn T.
+ Về con chung: Giao con chung là cháu Trương Đức T1, sinh ngày 31/7/2014 cho chị Ngân Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Trương Văn T do chị N chưa có yêu cầu.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Toà án không xem xét.
+ Về án phí: Nguyên đơn chị Ngân Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 02 tháng 5 năm 2024, chị Ngân Thị N có đơn khởi kiện gửi tới Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Trương Văn T. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì anh T có đăng ký thường trú tại xóm M, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; còn chị N trước khi xuất cảnh có đăng ký thường trú tại xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An nhưng đã đi xuất khẩu lao động tại Vương quốc C từ năm 2020 cho đến nay nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Quá trình giải quyết vụ án, chị Ngân Thị N không thể tham gia hòa giải được do đang ở nước ngoài, xin vắng mặt tất cả các buổi làm việc nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về phía bị đơn anh Trương Văn T, có đăng ký thường trú tại xóm M, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Trương Văn T.
[2] Về nội dung: Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngân Thị N
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: cuộc hôn nhân giữa chị Ngân Thị N và anh Trương Văn T được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hoà thuận nhưng hạnh phúc gia đình không xây dựng được lâu dài do hai anh chị có nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong cuộc sống nên đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay, vợ chồng không liên lạc, không quan tâm lẫn nhau cả về đời sống vật chất và tinh thần. Quá trình giải quyết vụ án, anh T lại không có mặt tại Toà án để làm việc, cũng không cung cấp được chứng cứ gì về phương án khắc phục tình trạng vợ chồng. Hội đồng xét thấy, thời gian mà vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau là không dài nhưng đã sống ly thân nhiều năm nay nhưng cả hai bên đều không có giải pháp gì để đoàn tụ, nguyên đơn chị N vẫn kiên quyết yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị N yêu cầu giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận.
[2.2] Về quan hệ con chung: Theo lời khai của chị N, ông C, bà L và các tài liệu thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án thì chị N và anh T có một người con chung là Trương Đức T1, sinh ngày 31/7/2014. Từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay, do điều kiện chị N đi làm ăn xa, công việc của anh T ít khi ở nhà thường xuyên, nên cháu Trương Đức T1 được ông bà nội là ông Trương Văn C và bà Cao Thị L trực tiếp chăm sóc. Ly hôn, chị N đồng ý theo nguyện vọng của cháu Trương Đức T1, cháu có nguyện vọng được ở cùng với mẹ thì chị N đồng ý trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh Trương Văn T cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, do chị N đang đi làm ăn xa nên nếu được Toà án giao nuôi dưỡng con chung thì chị N đề nghị Toà án tạm giao cháu Trương Đức T1 cho ông bà nội là ông Trương Văn C và bà Cao Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cháu cho đến khi chị N về Việt Nam. Việc trợ cấp nuôi dưỡng sẽ do chị N và ông bà nội của cháu (là ông C, bà L) tự thực hiện với nhau. Hội đồng xét thấy: Căn cứ quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, yêu cầu được nuôi con của chị N là hoàn toàn chính đáng. Mặt khác, anh Trương Văn T hiện nay không có mặt ở địa phương, đi đâu, làm gì chính quyền địa phương và gia đình không biết nên cần giao cháu Trương Đức T1 cho chị Ngân Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tuy nhiên, do chị N đang đi xuất khẩu lao động tại Campuchia nên đồng ý tạm giao cháu T1 cho ông bà nội là ông Trương Văn C và bà Cao Thị L (cùng trú tại: xóm M, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An) trực tiếp nuôi dưỡng cháu cho đến khi chị N về Việt Nam. Ông Trương Văn C và bà Cao Thị L cũng đồng ý chăm sóc nuôi dưỡng cháu T1 cho đến khi chị N về Việt Nam. Do sự thỏa thuận này của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con cũng như điều kiện hoàn cảnh của các bên và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84, 104 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên Tòa án ghi nhận.
[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai, chị N không yêu cầu Toà án giải quyết; anh T cũng chưa có ý kiến gì nên Toà án chưa có cơ sở để xem xét. Các đương sự có quyền khởi kiện khi có yêu cầu.
[3]. Về án phí: Chị Ngân Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngân Thị N.
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Ngân Thị N được ly hôn với anh Trương Văn T.
Về quan hệ con chung: Giao con chung là Trương Đức T1, sinh ngày 31/7/2014 cho chị Ngân Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do chị Ngân Thị N đang ở nước ngoài nên ông Trương Văn C và bà Cao Thị L (bố, mẹ đẻ của anh T) nhận trách nhiệm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trương Đức T1, sinh ngày 31/7/2014 cho đến khi chị N về Việt Nam với cháu.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị Ngân Thị N không yêu cầu và anh Trương Văn T chưa có ý kiến nên Toà án chưa xem xét.
Anh Trương Văn T có quyền đi lại thăm nom, không ai được cản trở anh Trương Văn T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Ngân Thị N và anh Trương Văn T không yêu cầu nên Toà án không giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
Về án phí: Chị Ngân Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị đã nộp theo Biên lai số 0012966 ngày 25/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau: anh Trương Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Chị Ngân Thị N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Nga |
Bản án số 421/2024/HNGĐ-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 421/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giải quyết ly hôn giữa chị N và anh T
