Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 421/2024/DS-PT

Ngày 16-8-2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

là lối đi chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền.

Các Thẩm phán: Ông Lê Sỹ Trứ;

Bà Ngô Thị Bích Diệp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Phước – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 15 và 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 251/2024/TLPT-DS ngày 19 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất là lối đi chung".

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2024/DS-ST ngày 02/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 282/2024/QĐ-PT, ngày 04 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 369/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

· Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1940; địa chỉ: số A khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lưu Văn S, sinh năm 1963; địa chỉ: khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ngày 14/10/2020); có mặt.

- Bị đơn:

1. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1944 (chết ngày 13/02/2022); địa chỉ: khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn N:

2

  1. Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1949; địa chỉ: khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1974; địa chỉ: tổ C, khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
  3. Bà Nguyễn Thị Anh P, sinh năm 1968; địa chỉ: tổ E, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
  4. Bà Nguyễn Thị Anh L, sinh năm 1969; địa chỉ: tổ C, khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
  5. Bà Nguyễn Thị Anh S1, sinh năm 1971; địa chỉ: tổ C, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
  6. Ông Nguyễn Thành T1, sinh năm 1973; địa chỉ: tổ C, khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
  7. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1976; địa chỉ: tổ C, khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
  8. Ông Nguyễn Thành T2, sinh năm 1978; địa chỉ: tổ C, khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
  9. Bà Nguyễn Thị Thu T3, sinh năm 1981; địa chỉ: tổ B, khu phố G, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
  10. Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1985; địa chỉ: tổ D, ấp V, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

2. Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1949; địa chỉ: khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị Q: Ông Phùng Văn H1, sinh năm 1992; địa chỉ: khu phố H, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 17/7/2024); có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Anh P, sinh năm 1968; địa chỉ: tổ E, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt
  2. Bà Nguyễn Thị Anh L, sinh năm 1969; địa chỉ: tổ C, khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt
  3. Bà Nguyễn Thị Anh S1, sinh năm 1971; địa chỉ: tổ C, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
  4. Ông Nguyễn Thành T1, sinh năm 1973; địa chỉ: tổ C, khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
  5. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1976; địa chỉ: tổ C, khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
  6. Ông Nguyễn Thành T2, sinh năm 1978; địa chỉ: tổ C, khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
  7. Bà Nguyễn Thị Thu T3, sinh năm 1981; địa chỉ: tổ B, khu phố G, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
  8. Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1985; địa chỉ: tổ D, ấp V, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

- Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Q.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết và tại phiên tòa, nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Bà Nguyễn Thị C là chủ sử dụng thửa đất số 943, tờ bản đồ số 44, tại khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương được Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH04050 ngày 27/9/2013. Đất có nguồn gốc do cha, mẹ của bà C là ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị T4 sử dụng từ trước năm 1945 để lại.

Khi cha mẹ bà C còn sống, thì cha mẹ và anh, em trong gia đình sinh sống trên thửa đất 943. Năm bà C được 06 tuổi thì mẹ của bà chết, năm bà C 13 tuổi thì cha của bà chết, nhà trên đất bị giặc xâm lược đốt cháy, do vậy gia đình bà chuyển về nơi ở khác nay là khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương sinh sống cho đến nay. Trước năm 1975, phần đất trên để trống, không ai canh tác. Sau năm 1975, bà C về chỉ đất cho các con làm đến năm 1985 thì cho người khác thuê canh tác đến năm 1990. Từ năm 1990 đến nay, đất để trống, không ai canh tác. Trước năm 1954, trên đất có nhà của ông C1, đã có lối đi chung vào thửa đất. Đến năm 1976, khi các con bà C canh tác thì vẫn còn lối đi, lối đi xe bò đi được, lối đi chung có chiều ngang khoảng 03m, bắt đầu từ đường Khánh Bình 07 cặp hông thửa 945 của bà Võ Thị Đ vào thửa đất 943. Tuy nhiên, khoảng năm 2019, ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Q là chủ sử dụng thửa 944 tự ý làm cổng sắt, nhà tiền chế trên phần lối đi chung nên dẫn tới tranh chấp.

Theo đơn khởi kiện ngày 14/10/2020, đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 30/10/2020, nguyên đơn bà Nguyễn Thị C yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Q tháo dỡ cổng sắt và nhà tiền chế trả lại diện tích lối đi chung khoảng 60m² (ngang khoảng 03m, dài khoảng 20m) thuộc thửa 944, tờ bản đồ số 44, tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu bà Nguyễn Thị Q, người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải tháo dỡ nhà tiền chế, cổng để trả lại lối đi chung có diện tích theo kết quả đo đạc thực tế là 40,5m² theo Mảnh trích lục địa chính số 21-2021 ngày 13/01/2021 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T.

2. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Q thống nhất trình bày:

4

Ông N, bà Q là chủ sử dụng thửa đất số 944, tờ bản đồ số 44, tại khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS07858 ngày 21/11/2016 cho hộ ông Nguyễn Văn N. Đất có nguồn gốc do ông, bà chết để lại. Sau giải phóng năm 1975, gia đình ông N, bà Q về sinh sống trên thửa đất này. Bà Nguyễn Thị C có bà con cô cậu ruột với ông N. Thửa đất 943 là của ông Nguyễn Văn C1 để lại, từ trước năm 1954, cha ông N là ông Nguyễn Văn Đ1 có cho ban tiếp liệu (nằm phía sau thửa 944) đánh xe bò kéo gạo vào khu tiếp liệu. Sau khi ban tiếp liệu không còn đong gạo nữa thì thửa 944 không có cho ai đi nhờ. Thời điểm năm 1954 thì ai muốn đi băng qua đất ai thì đi. Sau năm 1975, thửa đất 943 không ai canh tác và để trống cho đến nay, thửa 943 là đất lúa không có cất nhà. Khoảng 05 năm trước những thửa đất lân cận chưa ai rào đất, để đi vào thửa 943 thì đi qua các thửa đất khác để vào thửa 943. Đầu năm 2019, ông N, bà Q xây dựng cổng thì không ai tranh chấp hay khiếu nại gì. Vì là bà con với nhau nên ông N, bà Q có đề nghị đổi đất làm lối đi, ông N, bà Q chừa đất cho bà C đi đồng thời bà C phải chừa đất để ông N, bà Q xuống ruộng nhưng bà C không đồng ý. Trước yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Q không đồng ý.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị Anh P, bà Nguyễn Thị Anh L, ông Nguyễn Thành T2, bà Nguyễn Thị Thu T, bà Nguyễn Thị Anh S1, ông Nguyễn Thành T1, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị Thu T3 và bà Nguyễn Thị Thu H đồng thời là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn N trình bày:

Phần đất nguyên đơn khởi kiện là đất của gia đình được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Phần đất tranh chấp không phải là lối đi chung, không phải đường do nhà nước quản lý nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2024/DS-ST ngày 02/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C với bị đơn ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Q về việc tranh chấp quyền sử dụng đất là lối đi chung;

2. Mở lối đi qua bất động sản liền kề như sau:

Buộc bà Nguyễn Thị Q, bà Nguyễn Thị Thu T, bà Nguyễn Thị Anh S1, ông Nguyễn Thành T1, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị Thu T3 và bà Nguyễn Thị Thu H, bà Nguyễn Thị Anh P, bà Nguyễn Thị Anh L, ông Nguyễn Thành T2 phải mở lối đi cho bà Nguyễn Thị C trên 22,5m² đất (chiều ngang lối đi là 02m, cạnh hướng Tây là 1,23m + 0,77m, cạnh hướng Bắc là 10,56m, cạnh hướng Đông Bắc là 1,93m, cạnh hướng Nam là 10,38m, cạnh hướng Đông Nam là 02m) thuộc thửa số 944 tờ bản đồ số 44 tại khu phố L, phường K thành phố T, tỉnh Bình Dương (có sơ đồ kèm theo).

5

3. Buộc bà Nguyễn Thị C phải thanh toán giá trị phần đất mở lối đi và tài sản trên phần đất mở lối đi là 95.894.784 đồng (chín mươi lăm triệu tám trăm chín mươi bốn nghìn bảy trăm tám mươi bốn đồng) cho bà Nguyễn Thị Q, bà Nguyễn Thị Thu T, bà Nguyễn Thị Anh S1, ông Nguyễn Thành T1, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị Thu T3 và bà Nguyễn Thị Thu H, bà Nguyễn Thị Anh P, bà Nguyễn Thị Anh L, ông Nguyễn Thành T2.

4. Sau khi bà Nguyễn Thị C thanh toán số tiền nêu trên, bà Nguyễn Thị Q, bà Nguyễn Thị Thu T, bà Nguyễn Thị Anh S1, ông Nguyễn Thành T1, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị Thu T3 và bà Nguyễn Thị Thu H, bà Nguyễn Thị Anh P, bà Nguyễn Thị Anh L, ông Nguyễn Thành T2 có trách nhiệm tháo dỡ, di dời tài sản gồm: Một phần mái che có kết cấu nền bê tông, cột kèo sắt, vách có một phần tường gạch xây không tô, một phần bằng tôn, mái tôn, 01 trụ cổng, 01 mái tôn che trụ cổng, 02 cánh cổng sắt trên phần đất mở lối đi.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải trả tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

5. Các đương sự có nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cập nhật biến động giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất làm lối đi theo quyết định của Tòa án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, về chi phí tố tụng, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 02/5/2024 bị đơn bà Nguyễn Thị Q có đơn kháng cáo toàn bộ bản Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2024/DS-ST ngày 02/05/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa án theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị C do ông Lưu Văn S đại diện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Q do ông Phùng Văn H1 đại diện trình bày: Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 03/12/2020 thì trên diện tích lối đi đang tranh chấp có 03 trụ cổng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ ghi nhận có 02 trụ cổng là thiếu sót, ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm không nhân giá trị định giá với diện tích mét khối của các trụ cổng, cũng như không nhân giá trị định giá với diện tích mét vuông của mái che tôn, sân bê tông nhưng bản án sơ thẩm vẫn tính ra được tổng giá trị bồi thường là không có căn cứ. Hơn nữa, thửa đất của nguyên đơn giáp với thửa số 21 là đất trống nên nguyên đơn yêu cầu mở lối đi ra thửa 21 sẽ gần hơn, thuận tiện hơn và ít gây thiệt hại hơn mở lối đi qua phần đất của bị đơn. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoặc hủy án sơ thẩm do bản án xử lý các tài sản trên đất không đảm bảo đủ điều kiện để thi hành án.

6

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Nhận thấy, bị đơn bà Nguyễn Thị Q kháng cáo nhưng không xuất trình được chứng cứ gì chứng minh nên kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là phù hợp, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Thu T, bà Nguyễn Thị Anh S1, ông Nguyễn Thành T1, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị Thu T3 và bà Nguyễn Thị Thu H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự có tên trên theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị C: Thửa đất số 943, tờ bản đồ số 44, tại khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương được Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH04050 ngày 27/9/2013 cho bà Nguyễn Thị C. Nguồn gốc đất bà C kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do ông, bà ngoại để lại năm 1975, mục đích sử dụng là đất lúa. Tứ cận thửa đất số 943 chỉ thể hiện giáp ranh với các thửa đất liền kề gồm thửa 20, 942, 909, 78, 21, 945 và 944 (của bị đơn), không thể hiện giáp lối. Nguyên đơn trình bày từ trước năm 1954, lối đi vào thửa đất đã có và tồn tại liên tục cho đến nay nhưng sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng không có ý kiến hay khiếu nại về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng hiện trạng sử dụng.

[2.2] Về quá trình quản lý, sử dụng thửa đất 943: Nguyên đơn thừa nhận từ trước năm 1975 thửa đất này để trống, không ai canh tác; sau năm 1975 nguyên đơn về chỉ đất cho các con làm đến năm 1985 thì cho người khác thuê canh tác đến năm 1990, từ năm 1990 đến nay đất để trống, không ai canh tác.

Như vậy, có căn cứ xác định nguyên đơn không thường xuyên quản lý, sử dụng và canh tác thửa đất trên, đồng nghĩa với việc không thường xuyên sử dụng lối đi tranh chấp.

[2.3] Về quá trình quản lý, sử dụng thửa đất số 944: Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện thửa đất số 944 được cấp lần đầu cho hộ ông Nguyễn Văn N ngày 18/01/2002. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hộ ông Nguyễn Văn N gồm có ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Q, bà Nguyễn Thị Anh P, bà Nguyễn Thị Anh L, ông Nguyễn Thành T2, bà Nguyễn Thị Thu T, bà Nguyễn Thị Anh S1, ông Nguyễn Thành T1, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị Thu T3 và bà Nguyễn Thị Thu H. Bị đơn xác định sử dụng thửa đất số 944 từ năm 1975, cất nhà và sinh sống liên tục cho đến nay. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện phần đất lối đi đang tranh chấp là một phần đất nằm trong khuôn viên đất do bị đơn đang trực tiếp sử dụng, không có hiện trạng là lối đi chung.

7

[2.4] Theo Mảnh trích lục địa chính ngày 13/01/2021 thể hiện phần đất tranh chấp do nguyên đơn xác định có diện tích 40,5m², về kích thước cạnh tiếp giáp thửa đất số 943 của nguyên đơn là 2,52m, cạnh tiếp giáp đường bê tông là 3,86m và có chiều dài chưa đến 11m. Theo đơn khởi kiện nguyên đơn trình bày lối đi tranh chấp có diện tích 60m² có chiều ngang 03m, chiều dài 20m. Do vậy, có sự chênh lệch lớn về diện tích, hình thể lối đi tranh chấp theo đơn khởi kiện và hiện trạng thực tế. Nguyên đơn cho rằng lối đi chung hình thành từ lâu, là người trực tiếp sử dụng lối đi để vào thửa đất của mình nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh, không phù hợp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho nguyên đơn cũng như hiện trang đất trên thực tế đều thể hiện không giáp lối đi nào.

[2.5] Theo trích lục bản đồ địa chính thửa đất số 944 tờ bản đồ số 44 đã cấp cho hộ ông Nguyễn Văn N trích lục từ nguồn bản đồ địa chính đo đạc chỉnh lý năm 2012 do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T cung cấp về tứ cận thể hiện cạnh hướng Nam tiếp giáp đường đất, cạnh hướng Tây tiếp giáp thửa đất số 943 của nguyên đơn. Trong khi đó thửa đất số 943 nguyên đơn được cấp giấy chứng nhận ngày 27/9/2013. Như vậy, thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 943 cho nguyên đơn thì bản đồ địa chính đã được chỉnh lý thể hiện phần đường đất chỉ tiếp giáp thửa 944 của bị đơn, không tiếp giáp với thửa 943 của nguyên đơn. Qua đối chiếu phần đất nguyên đơn tranh chấp không trùng khớp với vị trí đường đất trên mảnh trích lục bản đồ địa chính.

[2.6] Theo biên bản xác minh ngày 08/4/2024 tại Ủy ban nhân dân phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương xác định “Thửa 943 của bà Nguyễn Thị C bị bao bọc bởi các thửa đất liền kề, thửa đất 943 không tiếp giáp lối đi, đường công cộng. Trước đây để đi vào thửa 943 thì chủ đất đi qua các bất động sản liền kề do chưa xây dựng nhà, tường rào như hiện nay. Thửa 944 của ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Q có hiện trạng tiếp giáp lối đi chung (đường bê tông) do người dân tự mở. Lối đi này hình thành từ lâu, hiện tại gia đình ông N, bà Q và một số người dân sử dụng lối đi này để ra đường công cộng. Trường hợp phải mở lối đi theo quy định thì có thể mở lối đi qua phần đất đang tranh chấp để vào lối đi chung hiện hữu là tiện nhất”.

Từ những phân tích trên, xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xác định 40,5m² đất tranh chấp là lối đi chung là không có căn cứ. Tuy nhiên, do thửa đất số 943 của nguyên đơn bị bao bọc bởi các bất động sản liền kề, để đảm bảo cho nguyên đơn có lối đi, cần thiết phải mở cho nguyên đơn một lối đi hợp lý qua bất động sản liền kề, để nguyên đơn đi từ thửa đất số 943 ra đường công cộng

8

thì mở lối đi qua phần đất tranh chấp thuộc thửa đất số 944 của bị đơn để kết nối đường bê tông hiện hữu là thuận tiện nhất.

[2.7] Căn cứ theo quy định tại Điều 254 của Bộ luật Dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm mở lối đi cho nguyên đơn qua một phần diện tích thửa đất số 944 của bị đơn với diện tích 22,5m², đồng thời tuyên buộc nguyên đơn phải thanh toán giá trị đất cùng với giá trị tài sản trên đất cho bị đơn là phù hợp. Tuy nhiên, cách tính giá trị tài sản trên đất của Tòa án cấp sơ thẩm là chưa phù hợp nên cần sửa một phần bản án sơ thẩm. Đối với phần mái che thuộc diện tích lối đi là 9,5m² nhưng nếu tháo dỡ phần diện tích này sẽ ảnh hưởng toàn bộ kết cấu xây dựng nên cần buộc nguyên đơn thanh toán cho bị đơn toàn bộ diện dích mái che là 41,9m²; giá trị các tài sản trên đất mà nguyên đơn phải bồi thường cho bị đơn căn cứ Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 03/12/2020 và Biên bản định giá tài sản ngày 02/11/2023 cụ thể như sau: Đất tranh chấp có giá 4.000.000 đồng/m² x 22,5m² = 90.000.000 đồng; mái che có kết cấu nền bê tông, cột kèo sắt, vách có một phần tường gạch xây không tô, một phần bằng tôn, mái tôn có giá 504.000 đồng/m² x 41,9m² x 70% giá trị sử dụng = 14.782.320 đồng; sân bê tông có giá 285.000/m² x 13m² x 70% giá trị sử dụng = 2.593.500 đồng, trụ cổng có giá 422.000 đồng/m³ x 2,7m³ x 70% giá trị sử dụng = 797.580 đồng, mái tôn che trụ cổng có giá 504.000 đồng/m² x 0,2m² x 70% giá trị sử dụng = 70.560 đồng; 02 cánh cổng sắt có chi phí di dời là 500.000 đồng. Tổng giá trị đất và tài sản trên đất mà nguyên đơn phải bồi thường cho bị đơn là 108.743.960 đồng.

[3] Đại diện bị đơn cho rằng theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 03/12/2020 thì trên diện tích lối đi đang tranh chấp có 03 trụ cổng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ ghi nhận có 02 trụ cổng là thiếu sót. Xét thấy, Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 03/12/2020 thể hiện trên diện tích lối đi đang tranh chấp có 03 trụ cổng là trên diện tích 40,5m² mà nguyên đơn yêu cầu trả lại lối đi chung, còn lối đi được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận mở cho nguyên đơn đi qua có diện tích là 22,5m² và trên diện tích này chỉ có 01 trụ cổng thể hiện trên sơ đồ bản vẽ kèm theo bản án. Ngoài ra, đại diện bị đơn còn cho rằng thửa đất của nguyên đơn giáp với thửa số 21 là đất trống nên nguyên đơn yêu cầu mở lối đi ra thửa đất số 21 sẽ gần hơn, thuận tiện hơn và ít gây thiệt hại hơn mở lối đi qua phần đất của bị đơn. Tuy nhiên, tại Biên bản xác minh ngày 08/4/2024 của Ủy ban nhân dân phường K đã xác định: “Thửa 944 của ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Q có hiện trạng tiếp giáp lối đi chung (đường bê tông) do người dân tự mở. Lối đi này hình thành từ lâu, hiện tại gia đình ông N, bà Q và một số người dân sử dụng lối đi này để ra đường công cộng. Trường hợp phải mở lối đi theo quy định thì có thể mở lối đi qua phần đất đang tranh chấp để vào lối đi chung hiện hữu là tiện nhất”. Do vậy, không có căn cứ để chấp nhận những lời trình bày trên của đại diện bị đơn.

Từ những phân tích trên, xét thấy có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Q.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương là có chấp nhận.

9

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Q là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 100 của Luật Đất đai; các Điều 245, 246, 254 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Q.

Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2024/DS-ST ngày 02/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương như sau:

1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C đối với bị đơn ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Q về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất là lối đi chung".

- Buộc bà Nguyễn Thị Q, bà Nguyễn Thị Thu T, bà Nguyễn Thị Anh S1, ông Nguyễn Thành T1, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị Thu T3 và bà Nguyễn Thị Thu H, bà Nguyễn Thị Anh P, bà Nguyễn Thị Anh L, ông Nguyễn Thành T2 phải mở lối đi cho bà Nguyễn Thị C trên phần đất có diện tích 22,5m² (chiều ngang lối đi là 02m, cạnh hướng Tây là 1,23m + 0,77m, cạnh hướng Bắc là 10,56m, cạnh hướng Đông Bắc là 1,93m, cạnh hướng Nam là 10,38m, cạnh hướng Đông Nam là 02m) thuộc thửa đất số 944, tờ bản đồ số 44, tại khu phố L, phường K thành phố T, tỉnh Bình Dương (có sơ đồ kèm theo).

- Buộc bà Nguyễn Thị C phải thanh toán giá trị phần diện tích đất mở lối đi và tài sản gắn liền trên phần diện tích đất mở lối đi là 108.743.960 đồng cho bà Nguyễn Thị Q, bà Nguyễn Thị Thu T, bà Nguyễn Thị Anh S1, ông Nguyễn Thành T1, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị Thu T3 và bà Nguyễn Thị Thu H, bà Nguyễn Thị Anh P, bà Nguyễn Thị Anh L, ông Nguyễn Thành T2.

- Sau khi bà Nguyễn Thị C thanh toán số tiền nêu trên, bà Nguyễn Thị Q, bà Nguyễn Thị Thu T, bà Nguyễn Thị Anh S1, ông Nguyễn Thành T1, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị Thu T3 và bà Nguyễn Thị Thu H, bà Nguyễn Thị Anh P, bà Nguyễn Thị Anh L, ông Nguyễn Thành T2 có trách nhiệm tháo dỡ, di dời tài sản gồm: Một phần mái che có kết cấu nền bê tông, cột kèo sắt, vách có một phần tường gạch xây không tô, một phần bằng tôn có diện tích 9,5m²; 01 trụ cổng, 01 mái tôn che trụ cổng, 02 cánh cổng sắt.

10

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải trả tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

- Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để cập nhật biến động xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

1.2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C với bị đơn ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Q về việc tranh chấp quyền sử dụng đất là lối đi chung có diện tích 18m².

1.3. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị C phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí định giá số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), bà Nguyễn Thị C đã thực hiện xong.

1.4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị C được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Q được miễn án phí.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
  • - TAND thành phố Tân Uyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HCTP, HSVA, Tòa Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Thanh Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 421/2024/DS-PT ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất là lối đi chung

  • Số bản án: 421/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất là lối đi chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa án ST
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger