|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 421/2024/HS-ST Ngày 14 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Linh Thu Hồng
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tam
Ông Nguyễn Văn Năm
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trọng Duy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 352/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 377/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 375/TB-TA ngày 11/7/2024, đối với bị cáo:
Vũ Nam H, sinh năm 1999 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: Thôn C, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nơi sinh sống: Thôn M, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Đình T và bà Nguyễn Thị P; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 01/02/2024, bị Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung hai tội là 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 14/11/2023.
Hiện bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam S thuộc Bộ C1.
(Ngày 24/7/2024, bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Bị hại: Anh Trần Công D, sinh năm 1994 (vắng mặt).
Địa chỉ thường trú: 119/1, khu phố B, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Hoàng Phi L, sinh năm 1999 (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số A, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ hiện nay: Thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên.
- Người làm chứng: Anh Phạm Minh C, sinh năm 2000 (vắng mặt).
Địa chỉ: 1, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 31/7/2023, sau khi đi nhậu thì Vũ Nam H và bạn là anh Phạm Minh C, ngụ tại A, khu phố B, phường T, thành phố B cùng đến thuê phòng ngủ tại nhà nghỉ “Tuấn Phương Đ” ở khu phố F, phường T, thành phố B. Khoảng 09 giờ ngày 01/8/2023, anh C gọi điện thoại cho bạn là anh Trần Công D, ngụ tại khu phố B, phường Q, thành phố B hỏi mượn 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) để trả tiền phòng nên đến khoảng 14 giờ cùng ngày anh D điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha, biển số 60F4-268.53 đến nhà nghỉ “Tuấn Phương Đ” gặp anh C và H. Sau khi ngồi chơi tại phòng thì H nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của anh D để đem đi cầm lấy tiền tiêu xài nên H giả vờ hỏi mượn xe mô tô của anh D để đi chuyển tiền, do tin tưởng H là bạn của anh C nên anh D đã giao xe mô tô biển số 60F4-268.53 cho H mượn. Sau đó, H điều khiển xe đi đến tiệm cầm đồ “H" tại khu phố C, phường T, thành phố B và cầm cho anh Nguyễn Hoàng Phi L (là chủ tiệm) được 12.000.000đ (mười hai triệu đồng) rồi H bỏ trốn. Sau khi sự việc xảy ra, anh Trần Công D đã trình báo Công an phường T lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B điều tra, xác minh. Ngày 26/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Vũ Nam H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” để điều tra, xử lý.
Tại Kết luận định giá tài sản số 477/KL-HĐĐGTS ngày 11/9/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố B kết luận: “01 (một) xe mô tô biển số 60F4 -268.53 trị giá 17.765.000đ (mười bảy triệu, bảy trăm sáu mươi lăm ngàn đồng).
Về trách nhiệm dân sự.
Anh Trần Công D đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Anh Nguyễn Hoàng Phi L yêu cầu bị cáo Vũ Nam H bồi thường số tiền 12.000.000đ (mười hai triệu đồng), hiện bị cáo chưa bồi thường.
Tại Cáo trạng số 311/CT-VKSBH ngày 24 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Vũ Nam H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; tuyên bố bị cáo Vũ Nam H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và đề nghị:
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Nam H từ 12 (mười hai) tháng đến 14 (mười bốn) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Trần Công D đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.
Buộc bị cáo Vũ Nam H bồi thường cho anh Nguyễn Hoàng Phi L số tiền 12.000.000đ (mười hai triệu đồng).
Bị cáo Vũ Nam H vắng mặt tại phiên tòa, trong Đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 24/7/2024 bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng hình sự:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[1.2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt. Trong giai đoạn điều tra bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã có lời khai tại hồ sơ. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, trong đơn đề nghị đã trình bày ý kiến của mình. Do vậy việc vắng mặt của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 290, Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo có trong hồ sơ vụ án đều thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, không có sự mâu thuẫn, phù hợp với nội dung Bản Cáo trạng, lời khai của bị hại; người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở xác định: Vào ngày 01/8/2023, Vũ Nam H đã sử dụng thủ đoạn gian dối để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Trần Công D một xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha có biển số 60F-268.53 trị giá 17.760.000 đồng tại nhà nghỉ T1" ở khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Hành vi của bị cáo Vũ Nam H đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo theo tội danh và khoản, Điều nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác để lấy tiền tiêu xài cá nhân mà không phải lao động.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Hiện bị cáo đang chấp hành Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 01/02/2024 của Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận về các tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù và tội “Trộm cắp tài sản” xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt chung hai tội là 03 (ba) năm tù, vì vậy căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự cần tổng hợp hình phạt của hai bản án.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô biển số 60F-268.53, nhãn hiệu Honda Wave Alpha đã qua sử dụng là tài sản của bị hại Trần Công D. Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản này cho bị hại là đúng quy định.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Đối với xe mô tô biển số 60F-268.53, nhãn hiệu Honda Wave Alpha anh L giao nộp cho Cơ quan Công an để trả lại cho bị hại, anh Nguyễn Hoàng Phi L yêu cầu bị cáo Vũ Nam H trả lại số tiền 12.000.000đ (mười hai triệu đông). Xét thấy, yêu cầu của anh L là có căn cứ nên chấp nhận, buộc bị cáo Vũ Nam H bồi thường cho anh Nguyễn Hoàng Phi L số tiền 12.000.000đ (mười hai triệu đồng).
[9] Về vấn đề khác: Đối với hành vi anh Nguyễn Hoàng Phi L nhận cầm xe mô tô biển số 60F-268.53, nhãn hiệu Honda Wave Alpha, khi cầm anh L không biết đó là xe do H phạm tội mà có nên không xử lý đối với L.
[10] Về án phí: Bị cáo Vũ Nam H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[11] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về các vấn đề trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 56, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Vũ Nam H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Vũ Nam H: 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/11/2023.
Tổng hợp hình phạt với Bản án số 13/2024/HSST ngày 01/02/2024 của Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận (03 năm tù), buộc bị cáo Vũ Nam H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là: 04 (bốn) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/11/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 30 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 468, Điều 589 của Bộ luật dân sự:
Buộc bị cáo Vũ Nam H phải bồi thường cho anh Nguyễn Hoàng Phi L số tiền 12.000.000đ (mười hai triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán thì hàng tháng còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Vũ Nam H phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 600.000đ (sáu trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Linh Thu Hồng |
Bản án số 421/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 421/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Nam Hưng phạm tội trộm cắp tài sản
