Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 421/2025/HS-ST

Ngày: 18/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - TP . HCM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đỗ Thị Thu Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Huỳnh Thị Thanh Thảo;
  2. Ông Dương Hoàng Chinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Linh – Thư ký

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Lê Thanh Đức- Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 294/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 440/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Đức H; Sinh năm 1993; tại Nghệ An; Thường trú: Xóm M, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An (nay là xóm M, xã Q, tỉnh Nghệ An); Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá (học vấn): 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức P và bà Thái Thị H1; Chưa có vợ con; tiền sự: không;

Tiền án: 03

  • Bản án số 68/2013/HSST ngày 31/7/2013, Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong phạt tù ngày 29/02/2016, chưa chấp hành xong thi hành án dân sự.
  • Bản án số 149/2016/HSST ngày 23/10/2016, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/7/2017, chấp hành xong thi hành án dân sự ngày 10/9/2024.
  • Bản án 323/2017/HSST ngày 15/8/2017, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/10/2018, đã nộp án phí ngày 05/6/2018, chưa bồi thường nghĩa vụ dân sự.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/5/2024 (có mặt tại phiên tòa).

  1. Nguyễn Đức H2; Sinh năm 1989; tại Nghệ An; Thường trú: Xóm M, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An (nay là xóm M, xã Q, tỉnh Nghệ An); Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá (học vấn): 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đức P và bà Thái Thị H1; có vợ 01 con sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: không

Nhân thân:

  • Ngày 14/5/2005, Công an huyện Y xử phạt cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản” do bị cáo dưới 16 tuổi.
  • Ngày 28/9/2005, Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Ngày 19/4/2006, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù về tội “Cướp tài sản” (06 tháng tù ngày 28/9/2005, tổng cộng là 21 tháng), chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/5/2007, chấp hành xong thi hành án dân sự ngày 30/01/2007.
  • Bản án số 60/2010/HSST ngày 16/3/2010, Tòa án nhân dân huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/11/2010, chấp hành xong thi hành án dân sự ngày 16/7/2015.
  • Ngày 01/12/2016, Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/3/2017, chấp hành xong thi hành án dân sự ngày 01/02/2016.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/5/2024 (có mặt tại phiên tòa).

  1. Hoàng Văn Q; Sinh năm 1990; tại Nghệ An; Thường trú: Xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An (nay là xóm Đ, xã Q, tỉnh Nghệ An); Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn H3 và bà Lê Thị N; Chưa có vợ con;

Tiền án:

  • Bản án số 171/2020/HSPT ngày 20/5/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/12/2020, chưa chấp hành xong thi hành án dân sự.
  • Tại Bản án số 302/2022/HSST ngày 20/7/2022 Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/5/2023, chưa chấp hành xong thi hành án dân sự.

Nhân thân:

  • Tại bản án số 51/2016/HSPT ngày 29/02/2016 Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/6/2016, chấp hành xong thi hành án dân sự ngày 05/5/2016. (Bản án số 670/2015/HSST ngày 24/11/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai)

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/4/2024 (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại:

  • Anh Đỗ Đình M – sinh năm 1995; Địa chỉ: E đường N, khu phố L, phường L, thành phố T, (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
  • Anh Huỳnh Văn S – sinh năm 1985; Địa chỉ: 1 đường L, phường T, thành phố T (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh)
  • Anh Lê Văn B – sinh năm 1994; Địa chỉ: số B đường B, phường P, thành phố T (nay là phường P), Thành phố Hồ Chí Minh
  • (Tất cả vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Chị Nguyễn Thị H4 – sinh năm 1985; Địa chỉ: số G tổ D, khu phố E, phường L, tỉnh Đồng Nai(có mặt)
  • Chị Ngô Thị H5 – sinh năm 1994; Địa chỉ: Chung cư C, B đường M, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

Người làm chứng:

  • anh Vũ Ngọc T – sinh năm 2007; anh Lương Mạnh D – sinh năm 2001 (tất cả vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1] Hoàng Văn Q và Nguyễn Đức H2, Nguyễn Đức H (em ruột H2) là bạn bè quen biết nhau. Trong quá trình quen biết, từ ngày 14/4/2024 đến ngày 24/4/2024, Q, H2, H đã rủ nhau (không nhớ người rủ) trộm cắp 03 xe môtô trên địa bàn thành phố T để bán lấy tiền tiêu xài, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 12 giờ 20 phút ngày 14/4/2024, H2 điều khiển xe môtô, biển số 60F4-436.38 chở Q đi đến sảnh B, chung cư T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) thì H2 nhìn thấy xe môtô hiệu Honda Wave Blade, biển số 72C2-012.55 của anh Đỗ Đình M đang để trước Sảnh đang còn chìa khóa cắm trên xe, H2 quan sát không có người trông coi nên điều khiển xe mô tô quay lại rồi ngồi trên xe môtô cảnh giới, Q xuống xe đi bộ rồi lén lút leo lên xe môtô biển số 72C2-012.55 nổ máy tẩu thoát cùng với H2. Trên đường tẩu thoát, H2 liên lạc với 01 người đàn ông tên H6 (không rõ lai lịch) thỏa thuận việc bán xe môtô do H2 và Q vừa lấy trộm được, H6 đồng ý và hẹn gặp nhau trước siêu thị B1, đường Q, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh) để giao dịch mua bán. Tại đây, H2 và Q đã bán xe môtô biến số 72C2-012.55 cho H6 với giá 2.000.000 đồng, H2 và Q chia nhau mỗi người 1.000.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ hai: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 21/4/2024, H2 điều khiển xe môtô biển số 60F4-436.38 nhưng gắn biển số giả 59L1-364.32 chở H đi đến trước số B, đường H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) thì H2 nhìn thấy xe môtô hiệu Yamaha Exciter, biển số 64D1-547.19 vẫn đang còn cắm chìa khóa của anh Huỳnh Văn S (Sinh năm: 1985), trên xe của anh S còn có 01 giỏ hàng gồm 81 gói hàng đang để phía trước, H2 quan sát không có người trông coi nên dừng xe lại cảnh giới, H đi bộ đến nổ máy xe môtô biển số 64D1-547.19 (cùng giỏ hàng của anh S) tẩu thoát cùng với H2. Trên đường đi, Hoàng liên H7 cho một người thanh niên (không rõ lai lịch) để thỏa thuận việc bán xe môtô do H, H2 vừa lấy trộm được, người thanh niên đồng ý và hẹn gặp tại khu vực siêu thị B1, Quốc lộ A, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh) để giao dịch mua bán. Sau đó, H2 và H đi đến bãi đất trống, đường N, khu Quảng trường xanh, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh) và bán xe biển số 64D1-547.19 cho người thanh niên trên với giá 6.000.000 đồng. H2 và H chia nhau mỗi người 3.000.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết. Đối với các gói hàng của anh S thì một số gói hàng H2 và H đã vứt bỏ ở khu vực Đại học Quốc gia Thành phố H còn một số gói hàng thì H mang về Căn hộ A, chung cư T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) sử dụng.

Vụ thứ ba: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 24/4/2024, Q đón xe ôm của 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) đi đến khu vực chung cư T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) thì xuống xe. Q đi bộ 01 mình đến sân để xe ôtô trước Block B chung cư T thì nhìn thấy 01 xe môtô hiệu Honda Wave màu đỏ đen bạc, biển số 36M5-094.92 của anh Lê Văn B (Sinh năm:1994) đang để không có người trong coi nên lén lút đi lại gần, Q sử dụng 01 cây đoản hình chữ "T" bẻ khóa công tắc điện rồi dắt bộ xe môtô biển số 36M5-094.92 để tẩu thoát thì bị anh B cùng anh Vũ Ngọc T (bảo vệ Chung cư T) phát hiện tri hô, chạy bộ đuổi theo Q khoảng 30 mét thì bắt giữ được Q cùng tang vật và giao cho Công an phường T (nay là Công an phường T) xử lý.

Quá trình điều tra, Nguyễn Đức H, Nguyễn Đức H2, Hoàng Văn Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Đối với 81 gói hàng của anh Huỳnh Văn S, do không thu giữ được và không có chứng từ hóa đơn chứng minh nguồn gốc nên không đủ cơ sở để định giá tài sản. Ngô Thị H5 khai nhận: Chung cư T, căn hộ C, phường T, thành phố T là Ngô Thị H5 đại diện đứng ra thuê từ cuối tháng 9/2023 đến tháng 5/2024 giá 5.000.000 đồng/1 tháng. H5 và Nguyễn Đức H có mối quan hệ yêu nhau từ năm 2022 cho đến nay. Khi ở chung với H tại căn hộ C thì H5 không biết Hoàng chơi ma túy, không thấy Hoàng chơi ma túy, không biết H có mua bán ma túy hay không.

Quá trình điều tra, H khai 0,5067g Ketamine là ma túy do H mua để sử dụng một mình, không sử dụng chung với ai, H5 không biết việc H sử dụng ma túy.

Kết luận định giá tài sản số 96-KV2/KLÐG-HĐĐGTS ngày 02/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận:

  • 01 xe môtô hiệu Honda Wave Blade, biển số 72C2-012.55, số máy: JA36E0575866, số khung: 365XGY105100 có giá trị 9.800.000 đồng;
  • 01 xe môtô hiệu Honda Wave màu đỏ-đen-bạc, biển số 36M5-094.92, số máy: JA39E1153429, số khung: 3914KY291444 (đã qua sử dụng) có giá trị 12.000.000 đồng;

Kết luận định giá tài sản số 97-KV2/KLÐG-HĐĐGTS ngày 02/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 01 xe môtô hiệu Yamaha Exciter, biển số 64D1-547.19, số máy: G3D4E1009285, số khung: 1010KY238252 có giá trị 20.833.000 đồng.

Ngày 24/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Nguyễn Đức H tại Căn hộ A, chung cư T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) do Ngô Thị H5 thuê.

Kết quả thu giữ:

  • 01 túi ni lông kích thước (2,5x2,5)cm bên trong có chứa tinh thể không màu;
  • 01 bình nhựa kích thước (18x6)cm có gắn ống nhựa, ống thủy tinh;
  • 01 biển số giả xe môtô 59L1-364.32;
  • 01 thanh kim loại (đoản) kích thước (9,5x7)cm;
  • 01 thanh kim loại có gắn đầu từ kích thước (4x5)cm;
  • 01 đôi dép có quai hậu màu đen.

Ngày 27/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, TP . Hồ Chí Minh ra Quyết định trưng cầu giám định chất ma túy đối với 01 túi ni lông kích thước (2,5x2,5) cm bên trong có chứa tinh thể không màu. Kết quả: Tinh thể không màu là loại Ketamine khối lượng 0,506/g.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định trưng cầu giám định ADN đối với 01 (một) túi ni lông kích thước (2,5x2,5) cm và mẫu niêm mạc của Nguyễn Đức H, Nguyễn Đức H2, Ngô Thị H5. Kết quả: Trên gói nylon rỗng có ADN người, không phân tích được kiểu gen (ADN) do lượng ADN thấp nên không truy nguyên được cá thể.

Vật chứng, đồ vật thu giữ:

  • 01 xe môtô hiệu Honda Wave màu đỏ-đen-bạc, biển số 36M5- 094.92, số máy: JA39E1153429, số khung: 3914K Y291444.
  • 01 xe môtô hiệu Wave Alpha màu đen, biển số 60F4-436.38, số máy: JA39E3127861, số khung: RLHJA3926PY722897.
  • 01 cây đoản hình chữ "T" (thu giữ của Hoàng Văn Q);
  • 01 biển số giả xe mô tô 59L1-364.32 (là công cụ của H2 và H sử dụng thực hiện hành vi phạm tội; thu giữ khi khám xét);
  • 01 nón bảo hiểm màu đỏ có chữ Hoàng Cầu, 01 đôi dép màu đen (H2 sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội);
  • 01 nón bảo hiểm màu xanh có chữ GRS, 01 đôi dép màu xanh (là công cụ của H sử dụng thực hiện hành vi phạm tội);
  • 01 túi nilon kích thước (2,5x2,5) cm bên trong có chứa tinh thể
  • 01 bình nhựa kích thước (18x6) cm có gắn ống nhựa, ống thủy tinh;
  • 01 thanh kim loại (đoản) kích thước (9,5x7) cm;
  • 01 thanh kim loại có gắn đầu từ kích thước (4x5) cm;
  • 01 điện thoại di động hiệu iPhone 7, 01 điện thoại di động hiệu OPPO A15S (thu giữ của Hoàng Văn Q);
  • 01 điện thoại di động hiệu iPhone (thu giữ của H2);
  • 01 điện thoại di động hiệu iPhone và 01 điện thoại di động hiệu Nokia (thu giữ của H);
  • Tiền Ngân hàng N1: 1.000.000 đồng (thu giữ của H);
  • 01 USB màu đỏ chứa đoạn video nội dung ghi lại hình ảnh Hoàng Văn Q lấy trộm tài sản.
  • 01 đĩa DVD chứa đoạn video nội dung hình ảnh vụ việc.

Về trách nhiệm dân sự:

  • Anh Huỳnh Văn S yêu bồi thường số tiền 12.000.000 đồng là số tiền mà anh S đã bồi thường cho công ty S1 về 81 gói hàng đã bị mất và yêu cầu bồi thường giá trị xe môtô bị mất.
  • Anh Đỗ Đình M yêu cầu bồi thường xe môtô đã bị mất trộm.
  • Anh Lê Văn B không yêu cầu bồi thường.

[2] Bản Cáo trạng số 241/CT-VKSKV2 ngày 22/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố:

Bị cáo Nguyễn Đức H2 bị Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Bị cáo Nguyễn Đức H, Hoàng Văn Q bị Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo phạm tội như cáo trạng đã truy tố nêu trên.

Áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo Nguyễn Đức H, Nguyễn Đức H2, Hoàng Văn Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Đức H2, Hoàng Văn Q phạm tội 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Vật chứng đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: buộc các bị cáo phải bồi thường theo yêu cầu của các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Mức án đề nghị:

  1. Bị cáo Nguyễn Đức H: từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.
  2. Bị cáo Hoàng Văn Q: từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.
  3. Bị cáo Nguyễn Đức H2: từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận và bào chữa.

Các bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để các bị cáo sớm trở về với xã hội, làm lại cuộc đời và chăm sóc gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định:

Trong khoảng thời gian từ ngày 14/4/2024 đến ngày 24/4/2024, do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên Hoàng Văn Q, Nguyễn Đức H2 và Nguyễn Đức H đã cùng nhau thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản là các xe mô tô trên địa bàn thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh bán lấy tiền tiêu xài, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 12 giờ 20 phút ngày 14/4/2024, Nguyễn Đức H2 điều khiển xe chở Hoàng Văn Q đến chung cư T. Lợi dụng sơ hở, Q đã trộm cắp 01 xe mô tô Honda Wave Blade, biển số 72C2-012.55 của anh Đỗ Đình M (trị giá 9.800.000 đồng). Sau đó, H2 và Q đã bán xe này cho một người tên H6 (không rõ lai lịch) với giá 2.000.000 đồng và chia nhau tiêu xài.

Vụ thứ hai: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 21/4/2024, Nguyễn Đức H2 sử dụng xe mô tô gắn biển số giả chở Nguyễn Đức H đến đường H, phường L. Tại đây, H đã trộm cắp 01 xe mô tô Yamaha Exciter, biển số 64D1-547.19 (trị giá 20.833.000 đồng) cùng với một số gói hàng của anh Huỳnh Văn S. Hai bị cáo đã bán xe cho một người thanh niên (không rõ lai lịch) với giá 6.000.000 đồng. Đối với số gói hàng, một phần bị vứt bỏ, phần còn lại H mang về căn hộ của mình để sử dụng.

Vụ thứ ba: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 24/4/2024, một mình Hoàng Văn Q đi đến chung cư T và sử dụng đoản bẻ khóa, trộm cắp 01 xe mô tô Honda Wave, biển số 36M5-094.92 của anh Lê Văn B (trị giá 12.000.000 đồng) nhưng đã bị anh B và bảo vệ phát hiện, bắt giữ cùng tang vật.

Hành vi trên của Hoàng Văn Q, Nguyễn Đức H2 và Nguyễn Đức H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt, hành vi thực hiện tội phạm và nhân thân của các bị cáo có cơ sở kết luận:

Bị cáo Nguyễn Đức H2 đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo Nguyễn Đức H và Hoàng Văn Q đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Vì động cơ vụ lợi, các bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội. Vì vậy, cần xử lý các bị cáo với hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của từng bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét các bị cáo Nguyễn Đức H2, Hoàng Văn Q phạm tội 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc về hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo để quyết định hình phạt khi lượng hình.

[3] Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[4] Đối với hai người thanh niên (không rõ lai lịch) đã mua xe mô tô, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với hành vi tàng trữ Ketamine khối lượng 0,5067g của Nguyễn Đức H, do chưa đủ định lượng để xử lý hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển hồ sơ đến phường T (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) để xử phạt hành chính.

Đối với Ngô Thị H5, do không biết và không liên quan đến việc H sử dụng ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý. Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Vật chứng vụ án:

  • Xe mô tô Honda Wave màu đỏ-đen-bạc, biển số 36M5-094.92: Đã thu hồi và trả lại cho bị hại là anh Lê Văn B
  • 01 xe môtô hiệu Wave Alpha màu đen, biển số 60F4-436.38, số máy: JA39E3127861, số khung: RLHJA3926PY722897. Kết quả điều tra xác định xe trên của chị Nguyễn Thị H4 (chị của H2), chị H4 đã cho H2 mượn xe môtô để đi công chuyện sau đó H2 tự ý sử dụng thực hiện hành vi phạm tội. Xét thấy chị H4 không biết và không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị H4. Hội đồng xét xử ghi nhận.
  • 01 cây đoản hình chữ "T", 01 biển số giả xe mô tô 59L1-364.32, 01 nón bảo hiểm màu đỏ, 01 đôi dép màu đen, 01 nón bảo hiểm màu xanh, 01 đôi dép màu xanh, 01 túi nilon chứa tinh thể không màu là ma túy còn lại sau giám định, 01 bình nhựa, 01 thanh kim loại (đoản), 01 thanh kim loại có gắn đầu từ là công cụ phạm tội và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • 01 điện thoại di động hiệu iPhone 7, 01 điện thoại di động hiệu OPPO A15S, thu giữ của Hoàng Văn Q; 01 điện thoại di động hiệu iPhone, thu giữ của H2; 01 điện thoại di động hiệu iPhone; 01 điện thoại di động hiệu N2 và số tiền 1.000.000 đồng, thu giữ của H. Các tài sản này không liên quan đến vụ án, do đó trả lại cho các bị cáo, nhưng được giữ lại để đảm bảo thi hành án.
  • USB và đĩa DVD: Lưu giữ các đoạn video ghi lại hình ảnh các vụ trộm, được tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

*Về trách nhiệm dân sự:

  • Buộc bị cáo Nguyễn Đức H2 và Hoàng Văn Q liên đới bồi thường cho anh Đỗ Đình M toàn bộ giá trị xe mô tô bị mất trộm 9.800.000 đồng (chín triệu tám trăm nghìn đồng).
  • Buộc bị cáo Nguyễn Đức H2 và Nguyễn Đức Hoàng liên Đ bồi thường cho anh Huỳnh Văn S số tiền 12.000.000 đồng là số tiền anh S đã bồi thường cho công ty S1 về 81 gói hàng bị mất và toàn bộ giá trị xe mô tô bị mất trộm 20.833.000 đồng (hai mươi triệu tám trăm ba mươi ba nghìn đồng).

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức H, Nguyễn Đức H2, Hoàng Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng Điều 38, điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

  1. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn Q 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2024.

Áp dụng Điều 38, điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

  1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức H 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2024.

Áp dụng Điều 38, khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức H2 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2024.

Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 357; khoản 2 Điều 468; Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Buộc bị cáo Nguyễn Đức H2 và Hoàng Văn Q liên đới bồi thường cho anh Đỗ Đình M giá trị xe mô tô bị mất trộm là 9.800.000 đồng (chín triệu tám trăm nghìn đồng) (liên đới theo phần, mỗi phần 4.900.000 đồng).

Buộc bị cáo Nguyễn Đức H2 và Nguyễn Đức Hoàng liên Đ bồi thường cho anh Huỳnh Văn S số tiền 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng) và giá trị xe mô tô bị mất trộm là 20.833.000 đồng (hai mươi triệu tám trăm ba mươi ba nghìn đồng), tổng cộng 32.833.000 đồng (liên đới theo phần, mỗi phần 16.416.500 đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa trả số tiền nêu trên, thì người phải thi hành án còn phải trả tiền lãi của số tiền gốc chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Tiếp tục lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án: 01 USB lưu giữ các đoạn video và 01 đĩa DVD ghi lại hình ảnh các vụ trộm.
  • Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn Q: 01 điện thoại di động hiệu iPhone 7, 01 điện thoại di động hiệu OPPO A15S; Trả cho bị cáo Nguyễn Đức H: 01 điện thoại di động hiệu iPhone; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1.000.000 đồng; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức H2 01 điện thoại di động hiệu iPhone. Tất cả tài sản trả lại cho các bị cáo được lưu giữ lại để đảm bảo thi hành án cho các bị hại Đỗ Đình M và Huỳnh Văn S.
  • Tịch thu tiêu hủy: 01 cây đoản hình chữ "T", 01 biển số giả xe mô tô 59L1-364.32, 01 nón bảo hiểm màu đỏ, 01 đôi dép màu đen, 01 nón bảo hiểm màu xanh, 01 đôi dép màu xanh, 01 túi nilon chứa tinh thể, 01 bình nhựa, 01 thanh kim loại (đoản), 01 thanh kim loại có gắn đầu từ.

(Vật chứng tại Phiếu nhập kho số NK25/171C ngày 22/01/2025, của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh)

Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án phí dân sự sơ thẩm: bị cáo Nguyễn Đức H2 phải nộp 1.120.825 đồng (một triệu một trăm hai mươi nghìn tám trăm hai mươi lăm đồng); bị cáo Hoàng Văn Q phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Bị cáo Nguyễn Đức H phải nộp 820.825 đồng (tám trăm hai mươi nghìn tám trăm hai mươi lăm đồng).

Quyền kháng cáo: các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; BH; NCQLNVLQ;
  • - VKSND KV2, Phòng
  • THADS KV2;
  • - PC10;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TAND TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp Tp.HCM;
  • - Lưu HS

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)




Đỗ Thị Thu Thảo

Các Hội thẩm nhân dânChủ tọa phiên tòa




Đỗ Thị Thu T1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 421/2025/HS-ST ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 421/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức H và đồng bọn- Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger