TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 421/2024/DS-ST Ngày: 25-9-2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Như Nhiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đỗ Thị A.
- Ông Phạm Minh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Quỳnh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 17 và ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 107/2023/TLST-DS ngày 21 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 473/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 239/2024/QÐST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N3.
Địa chỉ trụ sở chính: Số B đường L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Phạm Toàn V.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Phạm Văn C, sinh năm 1994 (có mặt).
Địa chỉ chi nhánh: Số A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
(theo Giấy uỷ quyền số 465/GUQ-NHNo.LTK-KTKSNB ngày 30/3/2023, Giấy uỷ quyền số 198/ GUQ-NHNo.LTK-KTKSNB ngày 13/02/2023, Giấy uỷ quyền số 196/ GUQ-NHNo.LTK-KTKSNB ngày 13/02/2023 và Giấy uỷ quyền số 194/GUQ-NHNo.LTK-KTKSNB ngày 13/02/2023).
- Bị đơn:
- Bà Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1962 (có mặt).
Địa chỉ: Số A Khu phố H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Trần Thị Mỹ L:
Luật sư Nguyễn Duy C1, sinh năm 1946 (có mặt).
Thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.
Theo Giấy giới thiệu của Văn phòng Luật sư Nguyễn Duy C1.
Địa chỉ: Số A đường N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Ngô Vũ L1, sinh năm 1995 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số D đường Q, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Trần Do T, sinh năm 1967 (có đơn đề nghị Toà xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số C đường Q, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Phạm Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1997 (có đơn đề nghị Toà xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số A đường H, tổ C, khu phố C, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1962 (có mặt).
Địa chỉ: Số A Khu phố H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Trần Thị Mỹ L:
Luật sư Nguyễn Duy C2, sinh năm 1946.
Thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.
Theo Giấy giới thiệu của Văn phòng Luật sư Nguyễn Duy C2.
Địa chỉ: Số A đường N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Anh Đỗ Ngọc H (có đơn đề nghị Toà xét xử vắng mặt).
- Chị Trần Thị Kim K (vắng mặt).
- Chị Đỗ Thị Bảo H1 (có đơn đề nghị Toà xét xử vắng mặt).
- Chị Phạm Ngọc L2 (vắng mặt).
- Chị Ông Thị Tố S1 (vắng mặt).
- Anh Phạm Đặng Nhật K1 (có đơn đề nghị Toà xét xử vắng mặt).
- Chị Lê Thị Diệu Á (có đơn đề nghị Toà xét xử vắng mặt).
- Chị Lê Thị Ái M (có đơn đề nghị Toà xét xử vắng mặt).
- Anh Phan Duy T1 (có đơn đề nghị Toà xét xử vắng mặt).
- Anh Nguyễn Hữu N (có đơn đề nghị Toà xét xử vắng mặt).
- Anh Trịnh Xuân Đ (có đơn đề nghị Toà xét xử vắng mặt).
- Anh Nguyễn Văn Đ1 (vắng mặt).
- Anh Đỗ Xuân K2 (có đơn đề nghị Toà xét xử vắng mặt).
- Anh Nguyễn Minh L3 (có đơn đề nghị Toà xét xử vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị Kim L4 (có đơn đề nghị Toà xét xử vắng mặt).
- Chị Nguyễn Kim T2 (có đơn đề nghị Toà xét xử vắng mặt).
- Chị Trang Nhật Thiên H2 (có đơn đề nghị Toà xét xử vắng mặt).
- Anh Ngô Minh Nam V1 (vắng mặt).
- Anh Trần Anh T3 (vắng mặt).
- Anh Bùi Tấn T4 (vắng mặt).
- Chị Lê Dịu T5 (vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị T6 (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Quốc T7 (có đơn đề nghị Toà xét xử vắng mặt).
- Anh Hoàng Quốc L5 (có đơn đề nghị Toà xét xử vắng mặt).
- Anh Hồ Minh T8 (có đơn đề nghị Toà xét xử vắng mặt).
- Anh Nguyễn Quang T9 (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Tấn L6 (vắng mặt).
- Anh Mông Văn H3 (vắng mặt).
- Chị Châu Kim S2 (vắng mặt).
- Anh Thạch Hoàng P (vắng mặt).
- Anh Phùng Quang T10 (vắng mặt).
- Anh Trà Đông N1 (vắng mặt).
- Anh Phan Hữu T11 (có đơn đề nghị Toà xét xử vắng mặt).
- Anh Nguyễn Minh T12 (có đơn đề nghị Toà xét xử vắng mặt).
- Chị Huỳnh Gia B (có đơn đề nghị Toà xét xử vắng mặt).
- Anh Nguyễn Tấn T13 (vắng mặt).
- Anh Lê Văn H4 (có đơn đề nghị Toà xét xử vắng mặt).
Cùng cư trú tại Thửa đất số 816, 817, tờ bản đồ số 38, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các đơn khởi kiện ngày 13/02/2023; ngày 30/3/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn Ngân hàng N3 (sau đây gọi tắt là A) trình bày về việc thoả thuận ký kết các hợp đồng tín dụng với các bị đơn như sau:
- Đối với bị đơn bà Trần Thị Mỹ L:
Ngày 21/01/2019, A - Chi nhánh L7 và bà Trần Thị Mỹ L ký kết Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-201900102, nội dung cơ bản trong hợp đồng như sau:
- Số tiền cho vay: 14.500.000.000 đồng;
- Dư nợ vay đến thời điểm hiện tại là: 12.995.000.000 đồng;
- Thời hạn vay: 60 tháng. Ngày trả nợ cuối cùng 22/01/2024;
- Mục đích sử dụng tiền vay: Thanh toán tiền mua nhà đất để ở.
- Lãi suất cho vay tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng là 11%/năm; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; Lãi chậm trả: 10%/năm; Lãi suất điều chỉnh định kỳ vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07, 01/10; trong năm tiến hành điều chỉnh lãi suất cho vay, lãi suất điều chỉnh được xác định bằng lãi suất tiết kiệm VNĐ 12 tháng trả lãi sau áp dụng tại A - chi nhánh L7 (+) 4,2%/năm. Trong trường hợp lãi suất cơ bản do Ngân hàng N4 công bố tăng thì lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh tương ứng.
- Tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay là quyền sử dụng Thửa đất số 816, 817, Tờ bản đồ số 38 tại phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sử dụng, quản lý của bà Trần Thị Mỹ L, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-201900080 ngày 21/01/2019, số công chứng 003122, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD; Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-201900080/01 ngày 11/11/2020, số công chứng 033164, quyển số 11 TP/CC-SCC/HDGD; Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-201900080/02 ngày 28/03/2022, số công chứng 009322, quyển số 03/2022 TP/CC-SCC/HDGD và Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-201900080/03 ngày 20/7/2022, số công chứng 023202, quyển số 07/2022 TP/CC-SCC/HDGD được chứng nhận tại Văn phòng C3; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 22/01/2019.
- Đối với bị đơn ông Trần Do T:
Ngày 21/01/2019, A - Chi nhánh L7 và ông Trần Do T ký kết Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-201900103, nội dung cơ bản trong hợp đồng như sau:
- Số tiền cho vay: 13.500.000.000 đồng;
- Dư nợ vay đến thời điểm hiện tại là: 11.990.000.000 đồng;
- Thời hạn vay: 60 tháng. Ngày trả nợ cuối cùng 22/01/2024;
- Mục đích sử dụng tiền vay: Thanh toán tiền mua nhà đất để ở.
- Lãi suất cho vay tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng là 11%/năm; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; Lãi chậm trả: 10%/năm; Lãi suất điều chỉnh định kỳ vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07, 01/10, trong năm tiến hành điều chỉnh lãi suất cho vay, lãi suất điều chỉnh được xác định bằng lãi suất tiết kiệm VNĐ 12 tháng trả lãi sau áp dụng tại A chi nhánh L7 (+) 4,2%/năm. Trong trường hợp lãi suất cơ bản do Ngân hàng N4 công bố tăng thì lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh tương ứng.
- Tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay là quyền sử dụng Thửa đất số 816, 817, Tờ bản đồ số 38 tại phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sử dụng, quản lý của bà Trần Thị Mỹ L, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người khác số 1603-LCP-201900081 ngày 21/01/2019, số công chứng 003123, quyển số 12 TP/CC-SCC/HĐGD; Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người khác số 1603-LCP-201900081/01 ngày 11/11/2020, số công chứng 033165, quyển số 11 TP/CC-SCC/HDGD; Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người khác số 1603-LCP-201900081/02 ngày 28/03/2022, số công chứng 009323, quyển số 03/2022 TP/CC-SCC/HDGD và Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người khác số 1603-LCP-201900081/03 ngày 20/7/2022, số công chứng 023203, quyển số 07/2022 TP/CC-SCC/HDGD được chứng nhận tại Văn phòng C3; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 22/01/2019.
- Đối với bị đơn ông Ngô Vũ L1:
Ngày 11/11/2020, A - Chi nhánh L7 và ông Ngô Vũ L1 ký kết Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202001098, nội dung cơ bản trong hợp đồng như sau:
- Số tiền cho vay: 10.000.000.000 đồng;
- Dư nợ vay đến thời điểm hiện tại là: 8.980.000.000 đồng;
- Thời hạn vay: 60 tháng kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng. Ngày trả nợ cuối cùng 11/11/2025;
- Mục đích sử dụng tiền vay: Thanh toán tiền mua nhà, đất để hoạt động dịch vụ phục vụ cá nhân khác.
- Lãi suất cho vay tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng là 10%/năm; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; Lãi chậm trả: 10%/năm. Lãi suất điều chỉnh định kỳ vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07, 01/10, trong năm tiến hành điều chỉnh lãi suất cho vay, lãi suất điều chỉnh được xác định bằng lãi suất tiết kiệm VNĐ 12 tháng trả lãi sau áp dụng tại A - chi nhánh L7 (+) 5%/năm. Trong trường hợp lãi suất cơ bản do Ngân hàng N4 công bố tăng thì lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh tương ứng.
- Tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay là quyền sử dụng Thửa đất số 816, 817, Tờ bản đồ số 38 tại phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sử dụng, quản lý của bà Trần Thị Mỹ L, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-201901044 ngày 17/12/2019, số công chứng 043156, quyển số 12 TP/CC-SCC/HĐGD; Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-201901044/01 ngày 11/11/2020, số công chứng 033166, quyển số 11 TP/CC-SCC/HDGD; Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-201901044/02 ngày 28/03/2022, số công chứng 009324, quyển số 03/2022 TP/CC-SCC/HDGD và Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-201901044/03 ngày 20/7/2022, số công chứng 023204, quyển số 07/2022 TP/CC-SCC/HDGD được chứng nhận tại Văn phòng C3; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 18/12/2019.
- Đối với bị đơn ông Phạm Nguyễn Ngọc S:
Ngày 30/3/2022, A - Chi nhánh L7 và ông Phạm Nguyễn Ngọc S ký kết Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202200270, nội dung cơ bản trong hợp đồng như sau:
- Số tiền cho vay: 8.000.000.000 đồng;
- Dư nợ vay đến thời điểm hiện tại là: 7.995.000.000 đồng;
- Thời hạn vay: 60 tháng. Ngày trả nợ cuối cùng 30/03/2027;
- Mục đích sử dụng tiền vay: Thanh toán tiền mua đất để làm kho bãi và các hoạt động hỗ trợ cho vận tải.
- Lãi suất cho vay tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng là 10%/năm; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; Lãi chậm trả: 10%/năm. Lãi suất điều chỉnh định kỳ vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07, 01/10, trong năm tiến hành điều chỉnh lãi suất cho vay, lãi suất điều chỉnh được xác định bằng lãi suất tiết kiệm VNĐ 12 tháng trả lãi sau áp dụng tại A chi nhánh L7 (+) 5%/năm. Trong trường hợp lãi suất cơ bản do Ngân hàng N4 công bố tăng thì lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh tương ứng.
- Tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay là quyền sử dụng Thửa đất số 816, 817, Tờ bản đồ số 38 tại phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sử dụng, quản lý của bà Trần Thị Mỹ L, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-202200233 ngày 28/3/2022, số công chứng 009325, quyển số 03/2022 TP/CC-SCC/HĐGD, được chứng nhận tại Văn phòng C3; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 28/3/2022.
Hiện tại, bà Trần Thị Mỹ L, ông Trần Do T, ông Phạm Nguyễn Ngọc S, ông Ngô Vũ L1 đã vi phạm cam kết trả nợ trong hợp đồng tín dụng với A - chi nhánh L7. Do vậy, nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết những vấn đề sau:
- Buộc bà Trần Thị Mỹ L thanh toán số nợ tạm tính đến ngày 17/9/2024 tổng số tiền là: 15.591.988.631 đồng, chi tiết như sau:
- Nợ gốc: 12.995.000.000 đồng.
- Tiền lãi trong hạn: 2.596.988.631 đồng.
- Và toàn bộ số tiền lãi, lãi quá hạn, lãi chậm trả, phí, phí phạt theo lãi suất đã thỏa thuận và phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết đến ngày tất toán nợ vay.
- Buộc ông Trần D Thu thanh toán số nợ tạm tính đến ngày 17/9/2024 tổng số tiền là: 14.388.275.891 đồng, chi tiết như sau:
- Nợ gốc: 11.990.000.000 đồng.
- Tiền lãi trong hạn: 2.398.275.891 đồng.
- Và toàn bộ số tiền lãi, lãi quá hạn, lãi chậm trả, phí, phí phạt theo lãi suất đã thỏa thuận và phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết đến ngày tất toán nợ vay.
- Buộc ông Ngô Vũ L1 thanh toán số nợ tạm tính đến ngày 17/9/2024 tổng số tiền là: 10.708.695.036 đồng, chi tiết như sau:
- Nợ gốc: 8.980.000.000 đồng.
- Tiền lãi trong hạn: 1.716.321.644 đồng.
- Tiền lãi chậm trả: 12.373.392 đồng
- Và toàn bộ số tiền lãi, lãi quá hạn, lãi chậm trả, phí, phí phạt theo lãi suất đã thỏa thuận và phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết đến ngày tất toán nợ vay.
- Buộc ông Phạm Nguyễn Ngọc S thanh toán số nợ tạm tính đến ngày 17/9/2024 tổng số tiền là: 9.314.691.027 đồng, chi tiết như sau:
- Nợ gốc: 7.995.000.000 đồng.
- Tiền lãi trong hạn: 1.319.691.027 đồng.
- Và toàn bộ số tiền lãi, lãi quá hạn, lãi chậm trả, phí, phí phạt theo lãi suất đã thỏa thuận và phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết đến ngày tất toán nợ vay.
- Trường hợp bà Trần Thị Mỹ L, ông Trần Do T, ông Ngô Vũ L1, ông Phạm Nguyễn Ngọc S không thanh toán hoặc thanh toán nhưng không đầy đủ. Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng Thửa đất số 816, 817, Tờ bản đồ số 38 tại phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sử dụng, quản lý của bà Trần Thị Mỹ L, theo các hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ.
Bị đơn bà Trần Thị Mỹ L, ông Trần Do T và ông Phạm Nguyễn Ngọc S trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà như sau:
Bà L, ông T và ông S xác nhận có thoả thuận ký kết các Hợp đồng tín dụng; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất như nguyên đơn trình bày là đúng. Do tình hình kinh tế khó khăn, nguồn thu giảm sút nên bà L, ông T, ông S không có khả năng trả nợ đúng hạn. Nay, bà L, ông T và ông S thống nhất còn nợ nguyên đơn số tiền gốc và lãi như nguyên đơn đã trình bày và đồng ý toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Ngoài ra, bà L, ông T và ông S không có yêu cầu phản tố, không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Mỹ L trình bày tại phiên toà như sau:
Thửa đất số 816, 817, Tờ bản đồ số 38 tại phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sử dụng, quản lý của bà. Bà có ký các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng sử đổi bổ sung hợp đồng thế chấp để bảo đảm khoản vay của bà, ông Trần Do T, ông Ngô Vũ L1 và ông Phạm Nguyễn Ngọc S tại A chi nhánh L7 như phía nguyên đơn trình bày là đúng. Nay bà, ông Trần Do T, ông Ngô Vũ L1 và ông Phạm Nguyễn Ngọc S vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng, bà đồng ý yêu cầu của nguyên đơn về việc phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Ngoài ra, bà L không có ý kiến và yêu cầu nào khác. Bà L không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
Bị đơn ông Ngô Vũ L1; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang ở trọ trên tài sản thế chấp là chị Trần Thị Kim K, chị Phạm Ngọc L2, chị Ông Thị Tố S1, anh Nguyễn Văn Đ1, anh Ngô Minh Nam V1, anh Trần Anh T3, anh Bùi Tấn T4, chị Lê Dịu T5, chị Nguyễn Thị T6, anh Nguyễn Quang T9, anh Nguyễn Tấn L6, anh Mông Văn H3, chị Châu Kim S2, anh Thạch Hoàng P, anh Phùng Quang T10, anh Trà Đông N1 và anh Nguyễn Tấn T13 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Đồng thời, triệu tập bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến Tòa để trình bày ý kiến đối với yêu cầu của người khởi kiện và để hòa giải nhưng bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không rõ lý do trong suốt quá trình Tòa án tiến hành tố tụng, không có bản khai và cũng không có văn bản trình bày ý kiến.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang ở trọ trên tài sản thế chấp có cùng ý kiến như sau:
Anh Đỗ Ngọc H, chị Đỗ Thị Bảo H1, anh Phạm Đặng Nhật K1, chị Lê Thị Diệu Á, chị Lê Thị Ái M, anh Phan Duy T1, anh Nguyễn Hữu N, anh Trịnh Xuân Đ, anh Đỗ Xuân K2, anh Nguyễn Minh L3, chị Nguyễn Thị Kim L4, chị Nguyễn Kim T2, chị Trang Nhật Thiên H2, anh Nguyễn Quốc T7, anh Hoàng Quốc L5, anh Hồ Minh T8, anh Phan Hữu T11, anh Nguyễn Minh T12, chị Huỳnh Gia B, anh Lê Văn H4 hiện đang ở trọ tại Thửa đất số 816, 817, tờ bản đồ số 38, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình thuê trọ, các anh, chị không có bất kỳ công sức hay đóng góp gì đối với tài sản trên đất. Mọi người không biết gì về quan hệ tín dụng giữa chủ nhà là bà Trần Thị Mỹ L và Ngân hàng N3, nên không có ý kiến gì về việc giải quyết vụ án. Các anh, chị ở trọ xin từ chối tham gia tố tụng trong vụ án và xin được vắng mặt trong tất cả quá trình Toà án tiến hành tố tụng và xét xử vụ án.
3. Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Bị đơn ông Ngô Vũ L1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng các văn bản tố tụng, nhưng vẫn vắng mặt không lý do tại phiên tòa lần thứ hai và cũng không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến.
- Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh:
- Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, ra Thông báo thụ lý vụ án đúng pháp luật, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp. Thẩm phán ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn. Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng những quy định về thủ tục tố tụng.
- Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Toà án nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ pháp luật tranh chấp:
Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N3 yêu cầu các bị đơn bà Trần Thị Mỹ L, ông Trần Do T, ông Ngô Vũ L1 và ông Phạm Nguyễn Ngọc S trả số tiền nợ còn thiếu phát sinh từ hợp đồng tín dụng, có cơ sở xác định quan hệ tranh chấp giữa hai bên là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại Điều 463 của Bộ luật Dân sự. Xét, nguyên đơn có địa chỉ chi nhánh tại Quận A và tranh chấp giữa hai bên phát sinh từ hoạt động của chi nhánh, nên trên cơ sở yêu cầu của nguyên đơn, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về tư cách tham gia tố tụng và xét xử vụ án vắng mặt đương sự:
Căn cứ Quyết định về việc uỷ quyền thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng và thi hành án số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022 và các Giấy uỷ quyền số 465/GUQ-NHNo.LTK-KTKSNB ngày 30/3/2023, Giấy uỷ quyền số 198/ GUQ-NHNo.LTK-KTKSNB ngày 13/02/2023, Giấy uỷ quyền số 196/GUQ-NHNo.LTK-KTKSNB ngày 13/02/2023 và Giấy uỷ quyền số 194/GUQ-NHNo.LTK-KTKSNB ngày 13/02/2023, ông Phạm Văn C được đại diện nguyên đơn là Ngân hàng N3 tham gia tố tụng.
Xét, bị đơn ông Ngô Vũ L1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang ở trọ trên tài sản thế chấp là chị Trần Thị Kim K, chị Phạm Ngọc L2, chị Ông Thị Tố S1, anh Nguyễn Văn Đ1, anh Ngô Minh Nam V1, anh Trần Anh T3, anh Bùi Tấn T4, chị Lê Dịu T5, chị Nguyễn Thị T6, anh Nguyễn Quang T9, anh Nguyễn Tấn L6, anh Mông Văn H3, chị Châu Kim S2, anh Thạch Hoàng P, anh Phùng Quang T10, anh Trà Đông N1, anh Nguyễn Tấn T13 đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt; bị đơn ông Trần Do T, ông Phạm Nguyễn Ngọc S và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang ở trọ trên tài sản thế chấp là anh Đỗ Ngọc H, chị Đỗ Thị Bảo H1, anh Phạm Đặng Nhật K1, chị Lê Thị Diệu Á, chị Lê Thị Ái M, anh Phan Duy T1, anh Nguyễn Hữu N, anh Trịnh Xuân Đ, anh Đỗ Xuân K2, anh Nguyễn Minh L3, chị Nguyễn Thị Kim L4, chị Nguyễn Kim T2, chị Trang Nhật Thiên H2, anh Nguyễn Quốc T7, anh Hoàng Quốc L5, anh Hồ Minh T8, anh Phan Hữu T11, anh Nguyễn Minh T12, chị Huỳnh Gia B, anh Lê Văn H4 có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương nêu trên.
[2]. Về yêu cầu của nguyên đơn:
[2.1] Xét, các Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-201900102 ngày 21/01/2019 giữa A - Chi nhánh L7 với bà Trần Thị Mỹ L; Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-201900103 ngày 21/01/2019 giữa A - Chi nhánh L7 với ông Trần Do T; Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202001098 ngày 11/11/2020 giữa A - Chi nhánh L7 với ông Ngô Vũ L1; Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202200270 ngày 30/3/2022 giữa A - Chi nhánh L7 với ông Ngô Vũ L1 và các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đối với Thửa đất số 816, 817, Tờ bản đồ số 38 tại phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh được giao kết trên sự tự nguyện, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật nên hợp đồng đã phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
[2.2] Về tiền nợ gốc và nợ lãi:
[2.2.1] Đối với khoản vay tín dụng của bà Trần Thị Mỹ L, ông Trần Do T và ông Phạm Nguyễn Ngọc S: Các bên đương sự thống nhất về tiền nợ gốc, nợ lãi, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai của hai bên đương sự, đối chiếu với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và bảng kê tính lãi của ngân hàng, xác định số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 17/9/2024 như sau:
- Bà Trần Thị Mỹ L còn nợ ngân hàng số tiền tổng cộng là 15.591.988.631 đồng (trong đó bao gồm: Nợ gốc là 12.995.000.000 đồng và nợ lãi trong hạn là 2.596.988.631 đồng).
- Ông Trần Do T còn nợ ngân hàng số tiền tổng cộng là 14.388.275.891 đồng (trong đó bao gồm: Nợ gốc là 11.990.000.000 đồng và nợ lãi trong hạn là 2.398.275.891 đồng).
- Ông Phạm Nguyễn Ngọc S còn nợ ngân hàng số tiền tổng cộng là 9.314.691.027 đồng (trong đó bao gồm: Nợ gốc là 7.995.000.000 đồng và nợ lãi trong hạn là 1.319.691.000 đồng).
[2.2.2] Xét lời khai của nguyên đơn về việc ông Ngô Vũ L1 còn nợ số tiền gốc và lãi, tổng cộng là 10.708.695.036 đồng (trong đó bao gồm: Nợ gốc là 8.980.000.000 đồng và nợ lãi trong hạn là 1.716.321.644 đồng), Hội đồng xét xử nhận thấy:
Tại khoản 2 Điều 91 và Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản. Một bên đương sự không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Xét thấy bị đơn đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, trong đó có ghi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn nộp cho Tòa án, nhưng bị đơn không nộp cho Tòa án văn bản thể hiện sự phản đối của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện, cũng như không có văn bản trình bày về số tiền đã thanh toán nợ gốc, nợ lãi, nên Hội đồng xét xử căn cứ Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202001098 ngày 11/11/2020, khế ước nhận nợ, bảng kê tính lãi, các Thông báo của ngân hàng do nguyên đơn nộp cho Tòa án, xác định số tiền nợ gốc ông Ngô Vũ L1 còn nợ là 8.980.000.000 đồng.
Tại khoản 2 Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng quy định: “Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ theo hợp đồng tín dụng”. Xét thấy ông Ngô Vũ L1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo như cam kết trong hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ dẫn đến nợ quá hạn, nên nguyên đơn yêu cầu thu hồi nợ trước hạn là có cơ sở chấp nhận.
Tại khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Xét thấy, các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn theo quy định tại Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202001098 ngày 11/11/2020 là không trái pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ bảng kê tính lãi do nguyên đơn nộp cho Toà án, xác định số tiền lãi tạm tính đến ngày 17/9/2024 mà ông Ngô Vũ L1 còn nợ là 1.716.321.644 đồng.
[2.3] Về nghĩa vụ trả nợ của bên vay:
Căn cứ Điều 466 của Bộ luật Dân sự quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
- Buộc bà Trần Thị Mỹ L thực hiện nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N3 số tiền nợ gốc là 12.995.000.000 đồng và tiền nợ lãi tính đến ngày 17/9/2024 là 2.596.988.631 đồng, tổng cộng là 15.591.988.631 đồng.
- Buộc ông Trần Do T thực hiện nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N3 số tiền nợ gốc là 11.990.000.000 đồng và tiền nợ lãi tính đến ngày 17/9/2024 là 2.398.275.891 đồng, tổng cộng là 14.388.275.891 đồng.
- Buộc ông Ngô Vũ L1 thực hiện nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N3 số tiền nợ gốc là 8.980.000.000 đồng và tiền nợ lãi tính đến ngày 17/9/2024 là 1.716.321.644 đồng, tổng cộng là 10.708.695.036 đồng.
- Buộc ông Phạm Nguyễn Ngọc S thực hiện nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N3 số tiền nợ gốc là 7.995.000.000 đồng và tiền nợ lãi tính đến ngày 17/9/2024 là 1.319.691.027 đồng, tổng cộng là 9.314.691.027 đồng.
Căn cứ điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, thì kể từ ngày 18/9/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong hợp đồng.
[2.4] Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của nguyên đơn:
Theo khoản 1 Điều 299 của Bộ luật Dân sự quy định về việc xử lý tài sản bảo đảm, theo đó: “đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ“.
Theo khoản 7 Điều 323 của Bộ luật Dân sự quy định bên nhận thế chấp có quyền: “xử lý tài sản thế chấp khi thuộc trường hợp quy định tại Điều 299 của Bộ Luật này".
Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp, các bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Mỹ L, ông Trần Do T và ông Phạm Nguyễn Ngọc S đồng ý yêu cầu của nguyên đơn về việc phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ; riêng ông Ngô Vũ L1 vắng mặt trong quá trình Toà án giải quyết vụ án và tại phiên toà. Xét thấy, kể từ ngày giải ngân đến nay, bà Trần Thị Mỹ L, ông Trần Do T, ông Ngô Vũ L1 và ông Phạm Nguyễn Ngọc S không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ cho Ngân hàng N3 đã làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do vậy, nguyên đơn yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo là quyền sử dụng Thửa đất số 816, 817, Tờ bản đồ số 38 tại phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh phát sinh từ các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3]. Chi phí tố tụng về việc xem xét thẩm định tại chỗ:
Theo khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự: “Đương sự phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận”. Do yêu cầu của nguyên đơn được Toà án chấp nhận, nên bị đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự: “Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thì người phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quyết định của Tòa án phải hoàn trả cho người đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ”, các bị đơn bà Trần Thị Mỹ L, ông Trần Do T, ông Ngô Vũ L1 và ông Phạm Nguyễn Ngọc S, mỗi người có trách nhiệm hoàn trả số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 7.500.000 đồng cho nguyên đơn.
[4]. Án phí dân sự sơ thẩm:
Xét, yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Xét, bà Trần Thị Mỹ L là người cao tuổi và có đơn yêu cầu được miễn tiền án phí, nên bà L được miễn nộp tiền án phí theo quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và Điều 2 của Luật người cao tuổi.
[5] Về thời hạn kháng cáo:
Theo khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án”,
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Mỹ L đã tham gia phiên toà nhưng vắng mặt khi Toà tuyên án. Xét, bà Trần Thị Mỹ L có đơn xin vắng mặt do tuổi cao, sức yếu và nhà xa trụ sở của Toà án là có lý do chính đáng, nên bà Trần Thị Mỹ L có thời hạn kháng cáo là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 40; khoản 2 Điều 91; Điều 92; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158; khoản 1 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
- Căn cứ khoản 1 Điều 299; khoản 7 Điều 323; khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự,
- Căn cứ khoản 2 Điều 91 và khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng,
- Căn cứ Điều 2 của Luật người cao tuổi.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm,
- Căn cứ khoản 1 Điều 6 ; điểm đ, khoản 1 Điều 12 và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Tuyên xử :
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn :
- Buộc bà Trần Thị Mỹ L thanh toán cho Ngân hàng N3 số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-201900102 ngày 21 tháng 01 năm 2019 tạm tính đến ngày 17 tháng 9 năm 2024, tổng cộng là 15.591.988.631 (mười lăm tỷ, năm trăm chín mươi mốt triệu, chín trăm tám mươi tám nghìn, sáu trăm ba mươi mốt) đồng. [Trong đó bao gồm: nợ gốc là 12.995.000.000 (mười hai tỷ, chín trăm chín mươi lăm triệu) đồng, nợ lãi trong hạn là 2.596.988.631 (hai tỷ, năm trăm chín mươi sáu triệu, chín trăm tám mươi tám nghìn, sáu trăm ba mươi mốt) đồng].
- Buộc ông Trần D Thu thanh toán cho Ngân hàng N3 số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-201900103 ngày 21 tháng 01 năm 2019 tạm tính đến ngày 17 tháng 9 năm 2024, tổng cộng là 14.388.275.891 (mười bốn tỷ, ba trăm tám mươi tám triệu, hai trăm bảy mươi lăm nghìn, tám trăm chín mươi mốt) đồng. [Trong đó bao gồm: nợ gốc là 11.990.000.000 (mười một tỷ, chín trăm chín mươi triệu) đồng, nợ lãi trong hạn là 2.398.275.891 (hai tỷ, ba trăm chín mươi tám triệu, hai trăm bảy mươi lăm nghìn, tám trăm chín mươi mốt) đồng].
- Buộc ông Ngô Vũ L1 thanh toán cho Ngân hàng N3 số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202001098 ngày 11 tháng 11 năm 2020 tạm tính đến ngày 17 tháng 9 năm 2024, tổng cộng là 10.708.695.036 (mười tỷ, bảy trăm lẻ tám triệu, sáu trăm chín mươi lăm nghìn, ba mươi sáu) đồng. [Trong đó bao gồm: nợ gốc là 8.980.000.000 (tám tỷ, chín trăm tám mươi triệu) đồng, nợ lãi trong hạn là 1.716.321.644 (một tỷ, bảy trăm mười sáu triệu, ba trăm hai mươi mốt nghìn, sáu trăm bốn mươi bốn) đồng].
- Buộc ông Phạm Nguyễn Ngọc S thanh toán cho Ngân hàng N3 số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202200270 ngày 30 tháng 3 năm 2022 tạm tính đến ngày 17 tháng 9 năm 2024, tổng cộng là 9.314.691.027 (chín tỷ, ba trăm mười bốn triệu, sáu trăm chín mươi mốt nghìn, hai mươi bảy) đồng. [Trong đó bao gồm: nợ gốc là 7.995.000.000 (bảy tỷ, chín trăm chín mươi lăm triệu) đồng, nợ lãi trong hạn là 1.319.691.027 (một tỷ, ba trăm mười chín triệu, sáu trăm chín mươi mốt nghìn, hai mươi bảy) đồng].
- Kể từ ngày 18 tháng 9 năm 2024 cho đến khi thi hành án xong, bà Trần Thị Mỹ L, ông Trần Do T, ông Ngô Vũ L1 và ông Phạm Nguyễn Ngọc S còn phải tiếp tục trả các khoản tiền lãi trong hạn và tiền lãi quá hạn phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-201900102 ngày 21 tháng 01 năm 2019; Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-201900103 ngày 21 tháng 01 năm 2019; Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202001098 ngày 11 tháng 11 năm 2020 và Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202200270 ngày 30 tháng 3 năm 2022. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng N3 thì lãi suất mà bà Trần Thị Mỹ L, ông Trần Do T, ông Ngô Vũ L1 và ông Phạm Nguyễn Ngọc S phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng N3 theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng N3.
- Thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Sau khi bà Trần Thị Mỹ L, ông Trần Do T, ông Ngô Vũ L1 và ông Phạm Nguyễn Ngọc S thanh toán hết số nợ trên, Ngân hàng N3 có trách nhiệm làm thủ tục giải chấp tài sản bảo đảm đã thế chấp là quyền sử dụng Thửa đất số 816, 817, Tờ bản đồ số 38 tại phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về việc xử lý tài sản bảo đảm:
Trường hợp bà Trần Thị Mỹ L không thanh toán nợ theo quyết định nêu trên của Tòa án, thì Ngân hàng N3 được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm đã thế chấp là quyền sử dụng Thửa đất số 816, 817, Tờ bản đồ số 38 tại phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-201900080 ngày 21/01/2019, số công chứng 003122, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD; Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-201900080/01 ngày 11/11/2020, số công chứng 033164, quyển số 11 TP/CC-SCC/HDGD; Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-201900080/02 ngày 28/03/2022, số công chứng 009322, quyển số 03/2022 TP/CC-SCC/HDGD và Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-201900080/03 ngày 20/7/2022, số công chứng 023202, quyển số 07/2022 TP/CC-SCC/HDGD được chứng nhận tại Văn phòng C3; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 22/01/2019.
Trường hợp ông Trần Do T không thanh toán nợ theo quyết định nêu trên của Tòa án, thì Ngân hàng N3 được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm đã thế chấp là quyền sử dụng Thửa đất số 816, 817, Tờ bản đồ số 38 tại phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người khác số 1603-LCP-201900081 ngày 21/01/2019, số công chứng 003123, quyển số 12 TP/CC-SCC/HĐGD; Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người khác số 1603-LCP-201900081/01 ngày 11/11/2020, số công chứng 033165, quyển số 11 TP/CC-SCC/HDGD; Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người khác số 1603-LCP-201900081/02 ngày 28/03/2022, số công chứng 009323, quyển số 03/2022 TP/CC-SCC/HDGD và Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người khác số 1603-LCP-201900081/03 ngày 20/7/2022, số công chứng 023203, quyển số 07/2022 TP/CC-SCC/HDGD được chứng nhận tại Văn phòng C3; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 22/01/2019.
Trường hợp ông Ngô Vũ L1 không thanh toán nợ theo quyết định nêu trên của Tòa án, thì Ngân hàng N3 được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm đã thế chấp là quyền sử dụng Thửa đất số 816, 817, Tờ bản đồ số 38 tại phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-201901044 ngày 17/12/2019, số công chứng 043156, quyển số 12 TP/CC-SCC/HĐGD; Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-201901044/01 ngày 11/11/2020, số công chứng 033166, quyển số 11 TP/CC-SCC/HDGD; Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-201901044/02 ngày 28/03/2022, số công chứng 009324, quyển số 03/2022 TP/CC-SCC/HDGD và Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-201901044/03 ngày 20/7/2022, số công chứng 023204, quyển số 07/2022 TP/CC-SCC/HDGD được chứng nhận tại Văn phòng C3; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 18/12/2019.
Trường hợp ông Phạm Nguyễn Ngọc S không thanh toán nợ theo quyết định nêu trên của Tòa án, thì Ngân hàng N3 được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm đã thế chấp là quyền sử dụng Thửa đất số 816, 817, Tờ bản đồ số 38 tại phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1603-LCP-202200233 ngày 28/3/2022, số công chứng 009325, quyển số 03/2022 TP/CC-SCC/HĐGD, được chứng nhận tại Văn phòng C3; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 28/03/2022.
Sau khi trừ đi các khoản chi phí theo quy định của pháp luật, số tiền phát mãi được dùng để thanh toán cho Ngân hàng N3. Trường hợp còn dư thì hoàn trả lại cho bà Trần Thị Mỹ L; nếu không đủ thì bà Trần Thị Mỹ L, ông Trần Do T, ông Ngô Vũ L1 và ông Phạm Nguyễn Ngọc S tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán số tiền mà ông, bà còn thiếu theo quyết định của Toà án cho Ngân hàng N3 cho đến khi hết nợ.
- Chi phí tố tụng về việc xem xét, thẩm định tại chỗ: Bà Trần Thị Mỹ L, ông Trần Do T, ông Ngô Vũ L1 và ông Phạm Nguyễn Ngọc S, mỗi người có trách nhiệm hoàn trả số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 7.500.000 đồng cho Ngân hàng N3.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Trần Thị Mỹ L chịu án phí dân sự sơ thẩm là 123.591.989 đồng. Bà Trần Thị Mỹ L được miễn nộp toàn bộ số tiền án phí phải chịu nêu trên.
Ông Trần Do T chịu án phí dân sự sơ thẩm là 122.388.276 đồng.
Ông Ngô Vũ L1 chịu án phí dân sự sơ thẩm là 118.708.695 đồng.
Ông Phạm Nguyễn Ngọc S chịu án phí dân sự sơ thẩm là 117.314.691 đồng.
Ngân hàng N3 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng N3 được nhận lại các khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp là: số tiền 58.075.046 đồng, theo biên lai thu tiền số AA/2022/0001411 ngày 20 tháng 4 năm 2023; số tiền 60.094.531 đồng, theo biên lai thu tiền số AA/2022/0001304 ngày 16 tháng 3 năm 2023; số tiền 58.644.998 đồng, theo biên lai thu tiền số AA/2022/0001302 ngày 16 tháng 3 năm 2023 và số tiền 60.601.735 đồng, theo biên lai thu tiền số AA/2022/0001303 ngày 16 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án đối với Ngân hàng N3 và kể từ ngày đương sự nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với các đương sự còn lại trong vụ án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Lê Như N2 |
Bản án số 421/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 421/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án sơ thẩm
