Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 421/2024/DS-PT

Ngày: 17 - 6 - 2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất và

yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Tám

Các Thẩm phán: Ông Phạm Công Mười

Ông Chung Văn Kết

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao

tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 397/2023/TLPT-DS ngày 18 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 13/2023/DS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3101/2024/QĐ-PT ngày 28 tháng 5 năm 2024 đối với

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị S, sinh năm 1967. Địa chỉ: Thôn D, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng, (có mặt).

Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Hồ Thị P, sinh năm 1975. Địa chỉ: Số A N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, (có mặt).

- Bị đơn: Anh Dao Văn H, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, (vắng mặt).

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Vũ Văn B, sinh năm 1975. Địa chỉ: Số C, đường T, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Dao Văn B1. Địa Chỉ: Thôn A, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, (vắng mặt).
  2. Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Địa chỉ: Số B, đường N, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.

    Người đại diện hợp pháp:

    + Ông Nguyễn Ngọc N, là người đại diện theo pháp luật (Chủ tịch Ủy ban nhân dân).

    Người đại diện theo ủy quyền Ông Nguyễn Trung T, Phó chủ tịch, (có đơn xin vắng mặt).

  3. Anh Đào Ngọc T1, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, (vắng mặt).
  4. Anh Đào Văn T2, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, (vắng mặt).
  5. Chị Đào Thị Huyền T3, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, (vắng mặt).

    Người đại diện theo uỷ quyền của anh T1, anh T2, chị T3: Bà Phạm Thị S, sinh năm 1967. Địa chỉ: Thôn D, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng, (có mặt).

  6. Vợ chồng ông Nguyễn Anh T4, bà Nguyễn Thị Mai H1, sinh năm: 1962; cư trú tại số A, đường C, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).
  7. Cháu Giao Tấn H2, sinh năm 2005 và cháu Dao Tấn K, sinh năm 2007. Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

    Người đại diện hợp pháp của cháu H2, cháu K là anh Dao Văn H, sinh năm 1982 (cha của cháu H2 và cháu K), (vắng mặt).

Người kháng cáo: Dao Văn H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 22/4/2021, lời trình bày tại các bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng của bà Phạm Thị S thể hiện như sau:

Năm 2012 vợ chồng bà nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Mai H1 lô đất có diện tích là 25.011m², thuộc đất thửa 04, tờ bản đồ 00, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; đã được Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG408453 ngày 25/01/2007 mang tên bà Nguyễn Thị Mai H1, giá chuyển nhượng là 8.000.000đ/sào, vợ chồng bà đã trả đủ tiền và nhận đất để sử dụng, khi vợ chồng bà nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà H1 thì trên một phần diện tích đất có ông Dao Văn B1 đang canh tác trồng cây cà phê khoảng 1.400 cây. Ngày 20/9/2012 giữa bà S, bà H1 và ông B1 thoả thuận với nội dung “Bà S bồi thường cây cà phê cho ông B1 là 5.000.000đ, ông B1 đã nhận đủ số tiền 5.000.000đ..”, viết giấy bồi thường hoa màu, ký tên và đã giao đất cho vợ chồng bà sử dụng ổn định từ năm 2012 đến nay.

Năm 2014 gia đình bà S có nhu cầu vay vốn Ngân hàng để làm ăn nên Ngân hàng đề nghị cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì mới cho vay. Do đó, gia đình bà làm thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để được vay vốn, vợ chồng bà đã được Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng cấp đổi thành Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV199601 ngày 20/10/2014 đối với diện tích 14.636m², thuộc thửa số 05, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại thôn G, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên, gia đình bà đã phát hiện thiếu 10.375m², tuy nhiên do cần vốn làm ăn nên gia đình bà vẫn thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên, toàn bộ diện tích đất nhận chuyển nhượng của bà H1 thì gia đình bà vẫn canh tác, sử dụng từ đó cho đến nay. Năm 2015 bà phát hiện diện tích đất của gia đình bà còn thiếu nói trên đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Dao Văn H (là con trai ông Dao Văn B1). Gia đình bà gặp ông Dao Văn B1 để giải quyết thì ngày 18/10/2015 ông B1 viết và ký giấy “Giao kèo trả sổ” cam kết đến hết tháng 4/2016 sẽ trả lại đất nhưng đến nay ông B1 vẫn không thực hiện giao trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà.

Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • + Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH295581 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 04/11/2011 cho hộ ông Dao Văn H đối với diện tích 9.145m² thuộc thửa đất số 08, tờ bản đồ 06, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
  • + Công nhận diện tích 9.145m² (đo đạc thực tế là 10.794,1m²) thuộc một phần thửa đất số 08, tờ bản đồ số 06, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng thuộc quyền sử dụng của gia đình bà.

- Theo lời trình bày của ông Vũ Văn B, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Dao Văn H trình bày:

Khoảng năm 2005 ông H nhận chuyển nhượng của ông K’Ân trú tại phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng mảnh đất trồng cây lâu năm có diện tích khoảng 15.000m² gồm thửa số 01 tờ bản đồ 05 và thửa 08, tờ bản đồ 06, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Ông H đã trồng bắp và chanh dây, đến năm 2015 thì trồng cà phê. Năm 2011 ông H kê khai đăng ký quyền sử dụng đất thì được Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH295581 vào ngày 04/11/2011 đối với diện tích 9.145m² thuộc thửa 08, tờ bản đồ 06, tọa lạc tại xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng và thửa 01 tờ bản đồ 05 có diện tích 3.936m². Quá trình sử dụng đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không có ai tranh chấp. Đến năm 2018 vợ chồng ông H ly hôn nên ông H đi làm ăn xa để kiếm tiền nuôi con thì bà S lấn chiếm lô đất có diện tích 9.145m² mà hiện nay các bên đang tranh chấp. Do vậy nay ông H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà S; yêu cầu bà S phải trả lại diện tích 9.145m² thuộc thửa 08, tờ bản đồ 06, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng cho ông H.

- Theo lời trình bày của bà Nguyễn Thị Mai H1 thì: Trước năm 2007 bà có nhờ ông Dao Văn B1 tìm đất để bà nhận chuyển nhượng, khi ông B1 tìm được thì bà đã nhận chuyển nhượng thửa đất này và đã được Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG408453 ngày 25/01/2007 mang tên bà với diện tích là 25.011m², thuộc thửa 04, tờ bản số 00, thôn G, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; do chưa có nhu cầu sử dụng nên bà có cho ông Dao Văn B1 mượn để canh tác, trồng hoa màu trên đất, sau đó ông B1 đã trồng cây cà phê. Trong thời gian canh tác thì ông Dao Văn B1 và ông Dao Văn H làm thủ tục đăng ký kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 04/11/2011 cho ông H thửa đất số 08, tờ bản đồ 06, thôn G, xã L, huyện B có diện tích 9.145m², bà không biết việc ông H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất nói trên vì bà ở xa. Ngày 20/9/2012 bà và chồng là ông Nguyễn Anh T4 chuyển nhượng cho vợ chồng ông Đào Ngọc T1, bà Phạm Thị S, địa chỉ: thôn D, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng toàn bộ thửa đất nói trên. Hai bên đã ký hợp đồng chuyển nhượng và đã được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng và toàn bộ diện tích đất trên đã được hoàn tất thủ tục theo quy định của pháp luật và đã giao đất cho vợ chồng ông T1, bà S sử dụng. Cùng ngày 20/9/2012 giữa bà S với ông B1 có viết giấy “Giấy bồi thường hoa màu” với nội dung bà S bồi thường 1.400 cây cà phê cho ông B1 trồng năm 2010 với số tiền 5.000.000đ, khi viết giấy này bà có làm chứng và ký vào giấy.

- Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng có Văn bản trình bày: Việc Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất số BH295581 ngày 04/11/2011 cho hộ ông Dao Văn H đối với thửa đất số 08, tờ bản đồ 06, diện tích 9.145m², bản đồ địa chính xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng là đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Về nội dung đề nghị Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng trả lời tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH295581 ngày 04/11/2011 cho hộ ông Dao Văn H thì thành viên hộ gia đình gồm những ai thì hiện nay do trong quá trình sắp xếp lại kho lưu trữ tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B, tỉnh Lâm Đồng đã làm thất lạc Giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu kèm theo hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó không xác định được tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Dao Văn H thành viên hộ gia đình. Về trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất số BV199601 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 20/10/2014 cho ông Đào Ngọc T1, bà Phạm Thị S đối với thửa đất số 05, tờ bản đồ 06, diện tích 14.636m², bản đồ địa chính xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng được thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2023/DS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, quyết định :

  • - Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, các Điều 157, 161 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ các Điều 166, 188, 100, 203 Luật Đất đai năm 2013;
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị S về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất” đối với ông Dao Văn H.

Tuyên xử:

  1. Xác định lô đất có diện tích 8.855,3m² và toàn bộ tài sản trên đất thuộc một phần thửa 08 (04 cũ), tờ bản đồ số 06 (00); 43m² thuộc 01 phần thửa 106; 215,4m² thuộc 01 phần thửa 107, tờ bản đồ số 6 toạ lạc tại xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng là của bà Phạm Thị S và anh Đào Ngọc Tỉnh, anh Đào Văn T2, chị Đào Thị Huyền T3; tạm giao cho bà S và anh T1, anh T2, chị T3 quản lý, sử dụng 17,8m² thuộc 01 phần thửa 18; 17,8m² thuộc 01 phần thửa 18 tờ bản đồ số 6; 13,7m² thuộc 01 phần thửa 11; 582m² thuộc 01 phần thửa 40, tờ bản đồ số 02 và toàn bộ tài sản trên đất.
  2. Phạm Thị S, anh Đào Ngọc Tỉnh, anh Đào Văn T2, chị Đào Thị Huyền T3 có trách nhiệm liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký biến động và cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
  3. Tạm giao cho bà S và anh T1, anh T2, chị T3 quản lý, sử dụng 1.427,4m² không có số thửa (BĐĐC 2019) (trong đó có 360,2m² thuộc hành lang bảo vệ nguồn nước và toàn bộ tài sản trên đất); thuộc tờ bản đồ số 06 (00), xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; khi Nhà nước có chủ trương thu hồi thì phải thực hiện theo quy định của Luật Đất đai.

    (Có họa đồ đo vẽ hiện trạng sử dụng đất do Công ty trách nhiệm hữu hạn A thực hiện ngày 12/01/2023 kèm theo).

  4. Hủy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH295581 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng ngày 04/11/2011 cho hộ ông Dao Văn H đối với diện tích đất 9.145m², thuộc thửa số 08, tờ bản đồ số 06, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định chi phí tố tụng, về án phí, việc thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định

- Ngày 22/4/2023, ông Dao Văn H kháng cáo toàn bộ Bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Ngày 28/11/2023, ông Vũ Văn B là đại diện theo uỷ quyền của ông Dao Văn H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không đồng ý việc xác định đất tranh chấp là của bà Phạm Thị S và không đồng ý huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông H như Bản án sơ thẩm đã quyết định. Sau khi xét xử sơ thẩm, bà S cho máy cơ giới vào chặt phá cây trên đất tranh chấp, làm ảnh hưởng quyền lợi của ông H nên đề nghị huỷ án sơ thẩm để điều tra xét xử lại nhằm bảo vệ quyền lợi cho ông H.

- Bà Phạm Thị S và người đại diện theo uỷ quyền của bà S yêu cầu giữ nguyên án sơ thẩm vì diện tích đất tranh chấp là của bà S chuyển nhượng hợp pháp của bà Nguyễn Thị Mai H1, đã sử dụng đất ổn định, việc cho máy móc vào đất tranh chấp nhằm cải tạo các cây trồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm như sau: Sau khi phân tích nội dung vụ án, nội dung kháng cáo. Đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của ông Dao Văn H vì ông H không cung cấp chứng cứ chứng minh cho việc kháng cáo nên án sơ thẩm xét xử là phù hợp nên cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đại diện theo uỷ quyền của ông Dao Văn H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.

[2] Xét đơn kháng cáo của ông Dao Văn H và lời trình bày của đại diện theo uỷ quyền của ông H không đồng ý xác định diện tích đất đang tranh chấp cho bà S như án sơ thẩm đã tuyên, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1] Diện tích đất tranh chấp 9.145m² (đo đạc thực tế là 10.794,1m²) có nguồn gốc do bà Nguyễn Thị S1 nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Mai H1 vào năm 2012 trong tổng diện tích là 25.011m², thuộc thửa 04, tờ bản đồ số 00, tọa lạc tại xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng đã được Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG408453 ngày 25/01/2007 mang tên bà Nguyễn Thị Mai H1, bà H1 sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh nên cho ông Dao Văn B1 là cha của bị đơn Dao Văn H mượn diện tích đất của bà H1 để ông B1 quản lý canh tác đất. Khi bà S1 đến nhận đất phát hiện ông B1 có trồng cà phê trên đất nên ngày 20/9/2012, bà S1, bà H1 và ông B1 thống nhất lập biên bản thể hiện như sau: “Hôm nay ngày 20/9/2012 tại nhà ông B1, thôn D, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng có bà Phạm Thị S, chủ đất mới, bà Nguyễn Thị Mai H1, chủ đất cũ, ông Dao Văn B1, người canh tác trồng cà phê trên đất. Ba bên nay thống nhất như sau: Trên lô đất của bà H1 bán lại cho bà S, thời gian ông B1 canh tác đã trồng cà phê trên lô đất của bà H1. Nay bà H1 chuyển nhượng lại cho bà S hiện lô đất có trồng cà phê. Nay bà S và ông B1 thống nhất đền bù lại tiền số cây cà phê khoảng 1.400 cây cà phê trồng năm 2010 với giá trị 5.000.000đ (năm triệu đồng), sau này ông B1 không được canh tác và sử dụng lô đất và cây trồng trên đất mà bàn giao lại cho bà S chăm sóc và toàn quyền sử dụng lô đất và cà phê, hai bên thống nhất có ba bên làm chứng bên nào sai bên đó chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật...”.

[2.2] Ông Dao Văn H cho rằng nguồn gốc đất tranh chấp do nhận chuyển nhượng của ông K’Ân (hiện nay không biết ông K’Ân ở đâu) nhưng không xuất

trình được chứng cứ chứng minh. Ông Dao Văn B1 là cha của ông H xác định, khi ông B1 cho ông H đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là phần đất giáp đuôi vườn bà H1; phần đất ông H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đất của bà H1 sang nhượng lại cho bà S nên ông B1 mới viết giấy giao kèo hẹn chủ mới là bà S về việc khi nào lấy lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì giao lại diện tích đất cho bà S.

[2.3] Ngoài ra tại đơn trình bày ngày 11/3/2023 của bà Vũ Thị Thùy V thể hiện “Tôi và ông H đã ly hôn ngày 14/12/2017 theo Quyết định thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 108/2018/QĐST-HNGĐ ngày 22/5/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Tôi với ông H không có tài sản chung, việc ông H đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do ông Dao Văn B1 là bố của ông H làm thủ tục, tuy nhiên thực tế tôi và ông H cùng hai con không sử dụng phần đất tranh chấp. Hiện nay bà S và ông H tranh chấp thì tôi không liên quan gì, không tranh chấp và không yêu cầu gì trong vụ án này, đề nghị Tòa án không đưa tôi vào tham gia tố tụng...”.

[2.4] Tại giấy giao kèo trả sổ ngày 18/10/2015 thể hiện nội dung “Hôm nay ngày 18/10/2015 tôi Dao Văn B1, là bố của Dao Văn H, trước kia có mua lô đất của D Lộc Tiến nhưng nay bố để đứng tên Dao Văn H lô đất sau đuôi vườn chị Mai H1, giáp suối hẹn đến hết tháng 04 lấy lại sổ giao lại cho chị S (6.300m²). Nếu sai tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật”.

[2.5] Như vậy, diện tích đất tranh chấp 9.145m² (đo đạc thực tế là 10.794,1m²) do gia đình bà S trực tiếp quản lý, trồng cà phê từ năm 2012 cho đến nay, diện tích đất này nằm phía sau tiếp giáp phần đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà S, không có lối đi vào đất. Ông Dao Văn H không sử dụng từ khi bà S và ông B1 viết giấy bồi thường hoa màu và bà S thanh toán cho ông B1 số tiền 5.000.000đ, tương đương 1.400 cây cà phê mà ông B1 trồng trên đất tranh chấp. Diện tích đất này nằm trong tổng diện tích đất 25.011m², thuộc thửa 04, tờ bản đồ số 00, tọa lạc tại xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG408453 ngày 25/01/2007 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng cấp cho bà H1 nên Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị S đới với ông Dao Văn H là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Ông H kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ chứng minh diện tích đất tranh chấp là của ông nên không được chấp nhận.

[3] Đối với việc nguyên đơn yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH295581 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng cho hộ ông Dao Văn H ngày 04/11/2011, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 30/9/2011 ông H khai nguồn gốc đất “sang nhượng năm 2002” và tại Công văn số 1025/UBND ngày 29/3/2024 của Ủy ban nhân dân huyện B về việc trình bày ý kiến cho Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh khi thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng không trực tiếp xác minh nguồn gốc đất, ai là người đang thực tế quản lý, sử dụng nhưng lại

cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông H đối với diện tích đất đã được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho bà H1 là không đúng quy định, cấp trùng lên diện tích đất thuộc thửa đất số 04, tờ bản đồ số 00 cấp cho bà H1. Do đó bà S yêu cầu hủy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH295581 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 04/11/2011 cho hộ ông Dao Văn H đối với diện tích đất 9.145m², thuộc thửa 08, tờ bản đồ số 06, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng là có căn cứ.

[4] Về án phí: Ông Dao Văn H, kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định.

[5] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Toà án nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của ông Dao Văn H. Giữ nguyên Bản án số 13/2023/DS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, các Điều 157, 161 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 166, 188, 100, 203 Luật Đất đai năm 2013;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Xác định lô đất có diện tích 8.855,3m² và toàn bộ tài sản trên đất thuộc một phần thửa 08 (04 cũ), tờ bản đồ số 06 (00); 43m² thuộc một phần thửa 106; 215,4m² thuộc một phần thửa 107, tờ bản đồ số 6 lạc tại xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng là của bà Phạm Thị S và anh Đào Ngọc Tỉnh, anh Đào Văn T2, chị Đào Thị Huyền T3; tạm giao cho bà S và anh T1, anh T2, chị T3 quản lý, sử dụng 17,8m² thuộc một phần thửa 18; 17,8m² thuộc một phần thửa 18 tờ bản đồ số 6; 13,7m² thuộc một phần thửa 11; 582m² thuộc một phần thửa 40, tờ bản đồ số 02 và toàn bộ tài sản trên đất.
  2. Phạm Thị S, anh Đào Ngọc Tỉnh, anh Đào Văn T2, chị Đào Thị Huyền T3 có trách nhiệm liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký biến động và cấp đổi Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
  3. Tạm giao cho bà S và anh T1, anh T2, chị T3 quản lý, sử dụng 1.427,4m² không có số thửa (BĐĐC 2019) (trong đó có 360,2m² thuộc hành lang bảo vệ nguồn nước và toàn bộ tài sản trên đất); thuộc tờ bản đồ số 06 (00), xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; khi Nhà nước có chủ trương thu hồi thì phải thực hiện theo quy định của Luật Đất đai.

    (Có họa đồ đo vẽ hiện trạng sử dụng đất do Công ty trách nhiệm hữu hạn A thực hiện ngày 12/01/2023 kèm theo).

  4. Hủy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH295581 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng ngày 04/11/2011 cho hộ ông Dao Văn H đối với diện tích đất 9.145m², thuộc thửa số 08, tờ bản đồ số 06, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
  1. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Dao Văn H phải chịu 53.731.000đ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo vẽ và thẩm định giá tài sản.

    Buộc ông Dao Văn H phải trả lại cho bà Phạm Thị S số tiền 53.731.000₫ (năm mươi ba triệu bảy trăm ba mươi mốt nghìn đồng).

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị S không phải chịu, bà S được nhận lại số tiền 12.300.000đ tạm ứng án phí đã tạm nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0004929 ngày 04/5/2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng và Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013114 ngày 20/02/2023 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Lâm Đồng. Ông Dao Văn H phải chịu 300.000đ án phí Dân sự sơ thẩm.

5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Dao Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, ông H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại lai thu số 0014626 ngày 15/5/2023 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng nay được chuyển thu án phí.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nghị án kết thúc sau 30 phút cùng ngày và đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Cục THADS tỉnh Lâm Đồng;
  • - Nguyên đơn;
  • - Bị đơn;
  • - NCQL&NVLQ;
  • - Lưu: HS, VP, 22bBDQK.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Văn Tám

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chung Văn Kết

Phạm Công Mười

Cao Văn Tám

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn T5

Các Thẩm phán: Ông Chung Văn K2

Ông Phạm Công M

Tiến hành nghị án vụ án dân sự thẩm thụ lý số: 397/2023/TLPT-DS ngày 18 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị S, sinh năm 1967. Địa chỉ: Thôn D, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Hồ Thị P, sinh năm 1975. Địa chỉ: Số A N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị đơn: Anh Dao Văn H, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Vũ Văn B, sinh năm 1975. Địa chỉ: Số C, đường T, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Dao Văn B1. Địa Chỉ: Thôn A, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
  2. Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Địa chỉ: Số B, đường N, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.

    Người đại diện hợp pháp:

    + Ông Nguyễn Ngọc N, là người đại diện theo pháp luật (Chủ tịch Ủy ban nhân dân).

    Người đại diện theo ủy quyền Ông Nguyễn Trung T, Phó chủ tịch.

  3. Anh Đào Ngọc T1, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
  4. Anh Đào Văn T2, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
  5. Chị Đào Thị Huyền T3, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

    Người đại diện theo uỷ quyền của anh T1, anh T2, chị T3: Bà Phạm Thị S, sinh năm 1967. Địa chỉ: Thôn D, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.

  6. Vợ chồng ông Nguyễn Anh T4, bà Nguyễn Thị Mai H1, sinh năm: 1962; cư trú tại số A, đường C, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
  7. Cháu Giao Tấn H2, sinh năm 2005 và cháu Dao Tấn K, sinh năm 2007. Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

    Người đại diện hợp pháp của cháu H2, cháu K là anh Dao Văn H, sinh năm 1982 (cha của cháu H2 và cháu K).

Và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

Kết quả biểu quyết: 3/3.

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của ông Dao Văn H. Giữ nguyên Bản án số 13/2023/DS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, các Điều 157, 161 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 166, 188, 100, 203 Luật Đất đai năm 2013;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Xác định lô đất có diện tích 8.855,3m² và toàn bộ tài sản trên đất thuộc một phần thửa 08 (04 cũ), tờ bản đồ số 06 (00); 43m² thuộc một phần thửa 106; 215,4m² thuộc một phần thửa 107, tờ bản đồ số 6 lạc tại xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng là của bà Phạm Thị S và anh Đào Ngọc Tỉnh, anh Đào Văn T2, chị Đào Thị Huyền T3; tạm giao cho bà S và anh T1, anh T2, chị T3 quản lý, sử dụng 17,8m² thuộc một phần thửa 18; 17,8m² thuộc một phần thửa 18 tờ bản đồ số 6; 13,7m² thuộc một phần thửa 11; 582m² thuộc một phần thửa 40, tờ bản đồ số 02 và toàn bộ tài sản trên đất.
  2. Phạm Thị S, anh Đào Ngọc Tỉnh, anh Đào Văn T2, chị Đào Thị Huyền T3 có trách nhiệm liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký biến động và cấp đổi Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
  3. Tạm giao cho bà S và anh T1, anh T2, chị T3 quản lý, sử dụng 1.427,4m² không có số thửa (BĐĐC 2019) (trong đó có 360,2m² thuộc hành lang bảo vệ nguồn nước và toàn bộ tài sản trên đất); thuộc tờ bản đồ số 06 (00), xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; khi Nhà nước có chủ trương thu hồi thì phải thực hiện theo quy định của Luật Đất đai.

    (Có họa đồ đo vẽ hiện trạng sử dụng đất do Công ty trách nhiệm hữu hạn A thực hiện ngày 12/01/2023 kèm theo).

  4. Hủy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH295581 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng ngày 04/11/2011 cho hộ ông Dao Văn H đối với diện tích đất 9.145m², thuộc thửa số 08, tờ bản đồ số 06, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
  1. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Dao Văn H phải chịu 53.731.000đ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo vẽ và thẩm định giá tài sản.

    Buộc ông Dao Văn H phải trả lại cho bà Phạm Thị S số tiền 53.731.000₫ (năm mươi ba triệu bảy trăm ba mươi mốt nghìn đồng).

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị S không phải chịu, bà S được nhận lại số tiền 12.300.000đ tạm ứng án phí đã tạm nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0004929 ngày 04/5/2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng và Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013114 ngày 20/02/2023 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Lâm Đồng. Ông Dao Văn H phải chịu 300.000đ án phí Dân sự sơ thẩm.

5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Dao Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, ông H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại lai thu số 0014626 ngày 15/5/2023 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng nay được chuyển thu án phí.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nghị án kết thúc sau 30 phút cùng ngày và đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chung Văn Kết

Phạm Công Mười

Cao Văn Tám

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 421/2024/DS-PT ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 421/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Sang
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger