Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 420/2023/DS-PT

Ngày: 25-10-2023

Về việc “Tranh chấp hợp đồng

vay tài sản và tranh chấp bồi

thường thiệt hại ngoài hợp đồng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Bà Phạm Thị Thu Trang
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Chí Đức
Ông Phạm Văn Ngọt

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Mai – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre: Bà Nguyễn Thị Minh Phượng – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 25 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 257/2023/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 75/2023/DS-ST ngày 13 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3396/2023/QĐXXPT-DS ngày 06 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh H, sinh năm: 1980;
  2. Địa chỉ: Số E, Khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (theo văn bản ủy quyền ngày 26/10/2022):

    Ông Võ Thanh D, sinh năm: 1992;

    Địa chỉ liên hệ: Số C, đường Đ, Phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre (có mặt).

  3. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1954;
  4. Địa chỉ: Số D, Khu phố F, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre (có mặt).

    Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn (theo văn bản ủy quyền ngày 24/10/2023):

    Ông Nguyễn Thanh H1, sinh năm: 1975;

    Địa chỉ: Số E, Khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre (có mặt).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bích H2 – Luật sư Chi nhánh Văn phòng Luật sư Võ Tấn T thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B.

    Địa chỉ liên hệ: Số D, Khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre (có mặt).

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  6. Ông Nguyễn Tấn L1, sinh năm: 1989;

    Địa chỉ: Số D, Khu phố F, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre (có yêu cầu xét xử vắng mặt).

- Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung bản án sơ thẩm,

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án, những lời trình bày tại các phiên hòa giải, đối chất, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Trần Thị Thanh H, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Võ Thanh D trình bày:

Do có mối quan hệ quen biết nên bà Trần Thị Thanh H có nhiều lần cho bà Nguyễn Thị L vay tiền, lãi suất theo mức lãi suất của Ngân hàng. Đến ngày 06/02/2022, bà H và bà L có thống nhất số tiền mà bà H đã cho bà L vay là 3.480.000.000 đồng, hai bên có lập thành biên nhận và bà L có ký tên vào biên nhận. Theo nội dung của biên nhận, bà H có cho bà L mượn số tiền 3.480.000.000 đồng và thời hạn trả là 02 tháng kể từ ngày mượn. Tuy nhiên, đến thời gian trả nợ nhưng bà L không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ đã ghi trong giấy biên nhận, bà H đã nhiều lần yêu cầu nhưng bà L cố tình không thực hiện.

Vì vậy, bà H khởi kiện yêu cầu bà L trả số tiền nợ gốc là 3.480.000.000 đồng và nợ lãi tính từ ngày 06/4/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 13/7/2023 với mức lãi suất 0,83%/tháng, số tiền lãi là 439.999.600 đồng. Tổng cộng số tiền bà H yêu cầu bà L trả là 3.919.999.600 đồng.

Đối với yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu bà Trần Thị Thanh H bồi thường thiệt hại do việc bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản là thửa đất số 86, tờ bản đồ số 48, tọa lạc tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre với mức lãi suất 1%/tháng trên tổng số tiền 1.313.000.000 đồng tính từ ngày 17/8/2022 cho đến ngày xét xử sơ thẩm là không có căn cứ, bởi việc bà H khởi kiện bà L là có căn cứ pháp luật và việc yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là cần thiết và bà H đã thực hiện biện pháp bảo đảm, trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Theo đơn phản tố, bản tự khai và các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án, những lời trình bày tại các phiên hòa giải, đối chất, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn bà Nguyễn Thị L, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Nguyễn Thanh H1 trình bày:

Nguyễn Thị L thống nhất chữ ký, chữ viết ghi họ, tên “Nguyễn Thị L” và chữ “đã nhận tiền” trong giấy biên nhận ngày 06/02/2022 là của bà Nguyễn Thị L. Tuy nhiên, bà L khẳng định không có vay tiền của bà H với số tiền 3.480.000.000 đồng như yêu cầu của bà H, bà L có ký vào biên nhận tiền nhưng chỉ là nhận nợ số tiền 80.000.000 đồng thay cho cháu của bà L là bà Lạc Diễm T1, bà Nguyễn Thị Diễm K và bà Huỳnh Thị Ngọc H3. Biên nhận chỉ lập 01 bản do bà Hồng g. Sau khi bà L ký tên vào biên nhận với số tiền 80.000.000 đồng thì bà Hồng t viết thêm để thành số tiền 3.480.000.000 đồng. Hiện bà L chưa trả số tiền 80.000.000 đồng theo biên nhận này cho bà H. Trước đây, cháu của bà L là bà T1, bà K và bà H3 có vay tiền của bà H 600.000.000 đồng, bà L có vay tiền của ông Nguyễn Tấn L1 số tiền 1.313.000.000 đồng với mức lãi suất 1%/tháng để trả nợ cho bà H thay cho cháu của bà L, việc này thể hiện qua việc bà L và bà H cùng nhau thỏa thuận hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào ngày 21/12/2021. Do bà L không có nợ tiền của bà H nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H, bà L chỉ đồng ý trả cho bà H số tiền 80.000.000 đồng theo biên nhận đã ký ngày 06/02/2022 và mức lãi suất 0,83%/tháng đối với số tiền trên.

Vào ngày 17/8/2022, bà H có gửi đơn yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản là thửa đất số 86, tờ bản đồ số 48, tọa lạc tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre của bà L, thửa đất này bà L đã dùng làm tài sản bảo đảm cho ông L1 để vay số tiền 1.313.000.000 đồng với mức lãi suất 1%/tháng và bà L có ý định chuyển nhượng thửa đất này cho ông L1 để lấy tiền trả nợ. Tuy nhiên, do việc bà H yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời dẫn đến bà L không thực hiện được việc chuyển nhượng đất cho ông L1, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà L. Vì vậy, bà L có yêu cầu phản tố đối với bà H, yêu cầu bồi thường thiệt hại với lãi suất 1%/tháng trên tổng số tiền 1.313.000.000 đồng tính từ ngày 17/8/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 13/7/2023 là 143.117.000 đồng.

Theo bản tự khai, lời trình bày tại biên bản đối chất, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn L1 trình bày:

Vào năm 2021, ông có cho bà Nguyễn Thị L vay số tiền 1.313.000.000 đồng, lãi suất 1%/tháng, thời hạn vay là 05 năm, mục đích vay để bà L trả nợ cho bà H, bà L có giao cho ông 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 86, tờ bản đồ số 48, tọa lạc tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre để làm tin. Đến nay, bà L chưa trả tiền cho ông và hiện bà L không thể thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến thửa đất của bà L do bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Ông đề nghị Tòa án hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời để bà L thực hiện các giao dịch đối với thửa đất trên để có tiền trả nợ vay cho ông. Vì lý do bận công việc nên ông đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ông.

Sau khi hòa giải không thành, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre đưa vụ án ra xét xử. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 75/2023/DS-ST ngày 13 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã tuyên:

Căn cứ khoản 3, khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 111, 114, 126, 136, 147, 200, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 116, 117, 119, 280, 357, 463, 466, 468, 470, 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 12 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thanh H đối với bà Nguyễn Thị L về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, cụ thể:
  2. Buộc bà Nguyễn Thị L có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị Thanh H số tiền 3.919.999.600 (Ba tỷ, chín trăm mười chín triệu, chín trăm chín mươi chín nghìn, sáu trăm) đồng.

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị L đối với bà Trần Thị Thanh H về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với số tiền 143.117.000 (Một trăm bốn mươi ba triệu, một trăm mười bảy nghìn) đồng.
  4. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 26/2022/QĐ-BPKCTT ngày 22 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 24 tháng 7 năm 2023, bị đơn bà Nguyễn Thị L kháng cáo. Theo đơn kháng cáo, bà Nguyễn Thị L kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Lý do bà L kháng cáo vì cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không phù hợp theo quy định của pháp luật, gây thiệt hại về quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn. Bà L yêu cầu đưa ông Phan Văn N là chồng của bà Trần Thị Thanh H vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Nếu Tòa án thấy chưa đủ cơ sở để xác định sự thật khách quan của vụ án thì đề nghị Tòa án trưng cầu giám định các biên nhận ngày 06/02/2022 và biên nhận ngày 21/10/2021. Bà L yêu cầu Tòa án tuyên sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thanh H, chấp nhận yêu cầu yêu cầu phản tố của bà L về việc yêu cầu bà Trần Thị Thanh H và ông Phan Thanh N1 có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bà L số tiền lãi phát sinh từ số tiền 1.313.000.000 đồng từ ngày 17/8/2022 đến ngày bản án có hiệu lực pháp luật với lãi suất 1%/tháng, tạm tính từ ngày 17/8/2022 đến ngày 17/5/2023 số tiền là 118.170.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà L giữ nguyên kháng cáo; người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị Thanh H không đồng ý nội dung kháng cáo của bà Nguyễn Thị L, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre phát biểu:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng đã thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị L, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng; xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị L và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị L kháng cáo và thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Bà Trần Thị Thanh H khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị L trả số tiền nợ vay là 3.480.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 06/4/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 13/7/2023 với mức lãi suất 0,83%/tháng, số tiền lãi là 439.999.600 đồng. Căn cứ khởi kiện là biên nhận ngày 06/02/2022 có nội dung bà H có cho bà L mượn số tiền 3.480.000.000 đồng và thời hạn trả là 02 tháng kể từ ngày mượn.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị L thống nhất chữ ký, chữ viết ghi họ, tên “Nguyễn Thị L” và chữ “đã nhận tiền” trong giấy biên nhận ngày 06/02/2022 là của bà Nguyễn Thị L. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh được quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án sơ thẩm, Tòa án sơ thẩm có ban hành Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ số 239/2022/QĐ-CCCC ngày 23 tháng 11 năm 2022 yêu cầu cung cấp đơn yêu cầu giám định nhưng phía bị đơn không nộp đơn yêu cầu giám định (BL173, 175). Theo đơn kháng cáo, bị đơn có trình bày nếu Tòa án thấy chưa đủ cơ sở để xác định sự thật khách quan của vụ án thì đề nghị Tòa án trưng cầu giám định các biên nhận ngày 06/02/2022 và biên nhận ngày 21/10/2021, yêu cầu giám định các chữ viết trong biên nhận ngày 06/02/2022 có tương đồng về thời gian viết hay không. Xét thấy, việc yêu cầu giám định của bị đơn tại cấp phúc thẩm không phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 102 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Hội đồng xét xử cũng xét thấy không cần thiết phải thực hiện giám định.

[3] Về việc bà L yêu cầu đưa ông Phan Văn N là chồng của bà Trần Thị Thanh H vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Hội đồng xét xử xét thấy: Việc cho vay tiền và viết, ký giấy biên nhận ngày 06/02/2022 chỉ giữa bà H và bà L. Bà H là người khởi kiện và là người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, ông N không có tham gia cùng bà H. Bên cạnh đó, khi bị đơn làm đơn phản tố, trong đơn không có yêu cầu ông N liên đới cùng bà H bồi thường thiệt hại. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, cả nguyên đơn và bị đơn dều không có yêu cầu đưa đưa thêm người tham gia tố tụng. Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày số tiền bà H cho bà L vay là tiền của cá nhân bà H, ông N không có liên quan đến vụ án này. Vì vậy, về việc phía bị đơn yêu cầu đưa ông N vào tham gia tố tụng là không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Theo giấy biên nhận ngày 06/02/2022 có chữ ký, chữ viết ghi họ và tên của bà Nguyễn Thị L thể hiện bà L có mượn của bà Trần Thị Thanh H số tiền 3.480.000.000 đồng và cam kết trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày mượn, bà L sẽ trả tiền cho bà H. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị L cho rằng chỉ mượn của bà H số tiền 80.000.000 đồng do nhận nợ thay cho cháu của bà L, đối với số tiền 3.480.000.000 đồng theo biên nhận ngày 06/02/2022 là do bà Hồng t viết thêm các số “3.4” và các chữ “ba tỷ bốn trăm” sau khi bà L đã ký tên.

Xét thấy, bà Nguyễn Thị L thừa nhận chữ ký, chữ viết ghi họ, tên “Nguyễn Thị L” và chữ “đã nhận tiền” trong giấy biên nhận ngày 06/02/2022 là của bà L, bà L cho rằng khi ký tên vào biên nhận tiền thì số tiền chỉ là 80.000.000 đồng, số tiền 3.480.000.000 đồng là do bà H viết thêm sau khi bà L đã ký tên nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình. Mặt khác, lời trình bày của bà L là không phù hợp, bởi ngoài số tiền 3.480.000.000 được ghi bằng số thì số tiền còn được ghi bằng chữ và viết liên tục với nhau. Bà L trình bày không có vay số tiền 3.480.000.000 đồng của bà H nhưng lời trình bày này của bà L không phù hợp với nội dung giấy biên nhận ngày 06/02/2022 có chữ ký, ghi họ và tên của bà L nên lời trình bày của bà L là không có căn cứ. Giao dịch vay tiền của bà H và bà L là đúng theo quy định tại các điều 116, 117 và 119 Bộ luật Dân sự, các bên có đủ năng lực hành vi dân sự và tự nguyện tham giao giao dịch dân sự nên có đủ cơ sở khẳng định bà L có vay của bà H tổng số tiền 3.480.000.000 đồng và đã quá thời hạn trả nợ như thỏa thuận trong giấy biên nhận tiền nhưng bà L chưa trả tiền cho bà H. Vì vậy, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H về việc yêu cầu bà L trả số tiền vốn gốc 3.480.000.000 đồng là có căn cứ.

[5] Về tiền lãi:

H cho rằng bà cho bà L vay nhiều lần, tổng số tiền là 3.480.000.000 đồng, đến ngày 06/02/2022 hai bên ghi giấy biên nhận tổng số nợ và ghi thời hạn trả là trong vòng hai tháng kể từ ngày mượn. Như vậy, ngày mượn là trước ngày 06/02/2022. Vì vậy, việc nguyên đơn yêu cầu tính tiền lãi từ ngày 06/4/2022 đến ngày xét xử là phù hợp. Bà H yêu cầu bà L trả tiền lãi với mức lãi suất 0,83%/tháng tính từ ngày 06/4/2022 (tương đương 10%/năm). Mức lãi suất bà H yêu cầu là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự và thời điểm bà H yêu cầu tính lãi phù hợp theo thỏa thuận trong biên nhận tiền, phù hợp với quy định tại Điều 357 nên cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu tính lãi từ ngày 06/4/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 13/7/2023 thời gian 15 tháng 07 ngày và buộc bà L phải trả cho bà H số tiền lãi 439.999.600 đồng là có căn cứ.

[6] Về yêu cầu phản tố của bị đơn:

H khởi kiện bà L yêu cầu trả tiền vay là có căn cứ. Bà H có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp theo quy định tại Điều 111 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, theo kết quả xác minh tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố B thể hiện thửa đất số 86, tờ bản đồ số 48, tọa lạc tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre không có đăng ký giao dịch bảo đảm nên trình tự, thủ tục yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được thực hiện đúng theo quy định tại các điều 126 và 136 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, không có căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại nên cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu bà H bồi thường thiệt hại là phù hợp.

[7] Đối với giao dịch vay tiền giữa ông L1 và bà L không liên quan đến vụ án này, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

[8] Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 26/2022/QĐ-BPKCTT ngày 22 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ. Việc hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện theo quy định tại Điều 138 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[9] Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[10] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[11] Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí. Tuy nhiên, bà L là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị L.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 75/2023/DS-ST ngày 13 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Cụ thể tuyên:

Áp dụng các điều 116, 117, 119, 280, 357, 463, 466, 468, 470, 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng các điều 147, 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thanh H đối với bà Nguyễn Thị L về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
  2. Buộc bà Nguyễn Thị L có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị Thanh H số tiền 3.919.999.600đ (ba tỷ, chín trăm mười chín triệu, chín trăm chín mươi chín nghìn, sáu trăm đồng), trong đó, tiền nợ gốc là 3.480.000.000đ (ba tỷ, bốn trăm tám mươi triệu đồng) và tiền lãi là 439.999.600đ (bốn trăm ba mươi chín triệu, chín trăm chín mươi chín nghìn, sáu trăm đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị L đối với bà Trần Thị Thanh H về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với số tiền 143.117.000đ (một trăm bốn mươi ba triệu, một trăm mười bảy nghìn đồng).
  4. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 26/2022/QĐ-BPKCTT ngày 22 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ.

4. Về án phí:

  • - Án phí dân sự sơ thẩm:
  • Nguyễn Thị L được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

    Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoàn trả lại cho bà Trần Thị Thanh H số tiền 52.042.000đ (năm mươi hai triệu, không trăm bốn mươi hai nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005598 ngày 03 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

  • - Án phí dân sự phúc thẩm:
  • Nguyễn Thị L được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Bến Tre;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Tre;
  • - Các đương sự;
  • - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 420/2023/DS-PT ngày 25/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

  • Số bản án: 420/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger