|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 420/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25-9-2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Trần Ngọc Đăng
- 2. Ông Võ Duy Bảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Quyên – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Không tham gia phiên toà.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 374/2024/HNGĐST ngày 09 tháng 8 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 395/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Xuân T; sinh năm 1988; Hộ khẩu thường trú: Xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; Địa chỉ liên hệ: Số nhà C, đường số DN, thành phố K, tỉnh Saitama, Nhật Bản. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Chị Trần Thị Thanh H, sinh năm: 1988; Địa chỉ: số C, đường L, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. (Ủy quyền nhận, giao nộp văn bản, tài liệu)
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy H1; sinh năm 1992; Địa chỉ: Số A, ngõ A, khối P, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 20/6/2024, bản tự khai, đơn xin giải quyết vắng mặt (có xác nhận của Đ tại Nhật Bản), nguyên đơn anh Nguyễn Xuân T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Thúy H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 02/12/2013 tại UBND thị trấn N, huyện N, Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian. Tháng 9/2017 anh đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản đến nay, trong khoảng thời gian này anh có đi lại nhiều lần giữa Việt Nam và Nhật Bản để thăm gia đình. Do điều kiện khoảng cách địa lý xa xôi, hoàn cảnh vợ chồng không thường xuyên ở cạnh nhau nên dần nảy sinh mâu thuẫn, thiếu sự thấu hiểu chia sẻ với nhau. Kể từ khoảng tháng 3/2024 cho đến nay, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn gay gắt nên thường xuyên cãi vã nhau. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn sự tin tưởng, chung thuỷ với nhau. Nhận thấy rằng, tình cảm vợ chồng đến nay không còn, mâu thuẫn vợ chồng rạn nứt không thể hàn gắn được, việc tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân sẽ làm cho cuộc sống của hai người thêm mệt mỏi, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, để ổn định cuộc sống anh đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thúy H1.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Huyền T1, sinh ngày 24/06/2014 và cháu Nguyễn Xuân P, sinh ngày 04/9/2017. Ly hôn, anh và chị H1 đã thống nhất là anh được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Huyền T1 cho đến tuổi trưởng thành. Do cháu Nguyễn Xuân P đang còn nhỏ nên đồng ý giao cháu P ở với mẹ là chị H1 để tiện cho việc chăm sóc. Cả hai được đi lại thăm nom con chung, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Trong trường hợp anh được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Huyền T1, trong thời gian anh ở nước ngoài chưa về Việt Nam thì anh đồng ý tạm giao cháu T1 cho chị H1 nuôi con cho đến khi anh về Việt Nam. Anh đồng ý cấp dưỡng trong thời gian chị H1 nuôi cháu Nguyễn Thị Huyền T1 từ khi ly hôn cho đến khi anh về Việt Nam mỗi tháng là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đồng thời, do điều kiện công việc và địa lý nên anh không thể đi lại để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm và các buổi hòa giải tiếp cận công khai chứng cứ nên anh đề nghị Toà án xem xét giải quyết vắng mặt. Các văn bản tống đạt của Tòa án kính đề nghị Toà án tống đạt cho người đại diện theo uỷ quyền của anh là bà Trần Thị Thanh H (Sinh năm: 1988; địa chỉ: Số C, đường L, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An).
Tại bản tự khai ngày 16/8/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là chị Nguyễn Thị Thúy H1 trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T kết hôn vào năm 2013 đến nay có với nhau 2 cháu là Nguyễn Thị Huyền T1 (sinh năm 2014) và cháu Nguyễn Xuân P (sinh năm 2017). Năm 2017, anh T đi làm việc tại Nhật Bản, từ thời điểm đó đến nay, do khoảng cách địa lý xa xôi cách trở, chị và anh T thường xuyên xảy ra cãi vã, không thống nhất được các vấn đề trong cuộc sống. Vậy nên, chị và anh T thống nhất thỏa thuận ly hôn.
- Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Huyền T1, sinh ngày 24/06/2014 và cháu Nguyễn Xuân P, sinh ngày 04/9/2017. Chị đề nghị được chăm lo, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Xuân P; anh T chăm lo, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Huyền T1. Trong thời gian anh T đang đi làm ăn xa tại Nhật Bản, chị sẽ nuôi dưỡng cháu T1 và cháu P. Anh T phải cấp dưỡng số tiền nuôi dưỡng cháu T1 là 4.000.000 đồng/tháng.
- Về quan hệ tài sản: Vợ chồng tự thỏa thuận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 20 tháng 6 năm 2024, anh Nguyễn Xuân T có đơn khởi kiện gửi tới Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với chị Nguyễn Thị Thúy H1. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì chị H1 có nơi cư trú tại thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An; còn anh T trước khi xuất cảnh có địa chỉ cư trú tại xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An nhưng đã đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản từ năm 2017 cho đến nay nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Xuân T không thể tham gia hòa giải được do đang ở nước ngoài, xin vắng mặt tất cả các buổi làm việc nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Đồng thời, do trong vụ án ly hôn này, Tòa án không tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Xuân T:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: cuộc hôn nhân giữa anh Nguyễn Xuân T và chị Nguyễn Thị Thúy H1 được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hoà thuận và đã có hai người con chung nhưng hạnh phúc gia đình không xây dựng được lâu dài do hai anh chị có nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong cuộc sống, sau khi anh T đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản thì do khoảng cách địa lý xa xôi nên tình trạng vợ chồng càng trở nên trầm trọng, vợ chồng không quan tâm lẫn nhau cả về đời sống vật chất và tinh thần. Tại các bản tự khai, anh T và chị H1 đều thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên thống nhất giải quyết ly hôn. Hội đồng xét thấy, thời gian vợ chồng chung sống với nhau là chưa dài nhưng đã phát sinh mâu thuẫn một thời gian mà cả hai bên đương sự đều không có giải pháp gì để đoàn tụ, đều yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc anh T yêu cầu giải quyết ly hôn và chị H1 đồng ý ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 55 Luật Hôn nhân - Gia đình nên ghi nhận sự thuận tình ly hôn này của hai anh chị.
[2.2] Về quan hệ con chung: Tại các bản tự khai, anh T, chị H1 đều trình bày vợ chồng có hai con chung là: cháu Nguyễn Thị Huyền T1, sinh ngày 24/06/2014 và cháu Nguyễn Xuân P, sinh ngày 04/9/2017. Nay ly hôn, anh T và chị H1 đều thống nhất thoả thuận là giao cháu Nguyễn Thị Huyền T1 cho anh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Xuân P cho chị H1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Cả hai được đi lại thăm nom con chung, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên do anh T đang đi làm việc tại Nhật Bản nên anh T và chị H1 thống nhất thoả thuận trong thời gian anh T ở nước ngoài chưa về Việt Nam thì anh T đồng ý tạm giao cháu T1 cho chị H1 nuôi dưỡng cho đến khi anh về Việt Nam. Anh T đồng ý cấp dưỡng trong thời gian chị H1 nuôi cháu Nguyễn Thị Huyền T1 từ khi ly hôn cho đến khi anh T về Việt Nam mỗi tháng là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Chị H1 cũng đồng ý và thống nhất như đề nghị nuôi con của anh T. Xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con cũng như điều kiện hoàn cảnh của các bên và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84, 104 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên Tòa án ghi nhận sự thoả thuận này.
[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Tại các bản tự khai, anh T, chị H1 đều không yêu cầu Toà án giải quyết về phần tài sản nên miễn xét.
[3]. Về án phí: Anh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật; chị H1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37, Điều 40, Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 55, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Xuân T.
Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn anh Nguyễn Xuân T và chị Nguyễn Thị Thúy H1.
Về quan hệ con chung: Giao con chung là Nguyễn Thị Huyền T1, sinh ngày 24/6/2014 cho anh Nguyễn Xuân T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao con chung là Nguyễn Xuân P, sinh ngày 04/9/2017 cho chị Nguyễn Thị Thúy H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hai anh chị không phải cấp dưỡng nuôi con cùng nhau và có quyền có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở anh T, chị H1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Thúy H1 nhận trách nhiệm quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Huyền T1 cho đến khi anh T về Việt Nam với cháu. Anh Nguyễn Xuân T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Thị Huyền T1 cùng chị Nguyễn Thị Thúy H1 mỗi tháng là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) kể từ tháng 9 năm 2024 anh T về Việt Nam với cháu T1.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Xuân T và chị Nguyễn Thị Thúy H1 không yêu cầu nên Toà án không giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
Về án phí: Anh Nguyễn Xuân T phải chịu 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng anh đã nộp theo biên lai số 0013075 ngày 09/8/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Anh T phải nộp tiếp 75.000 đồng. Chị Nguyễn Thị Thúy H1 phải chịu 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn. (Chị H1 chưa nộp).
Kể từ ngày chị Nguyễn Thị Thúy H1 có đơn yêu cầu thi hành án cấp dưỡng nuôi con cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, nếu anh Nguyễn Xuân T không chịu thi hành thì hàng tháng anh T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau: Chị Nguyễn Thị Thúy H1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Xuân T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Nga |
Bản án số 420/2024/HNGĐ-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 420/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giải quyết ly hôn giữa anh T và chị H
