|
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 420/2025/HS-PT
Ngày: 13/10/2025
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Phương Hạnh; |
| Các Thẩm phán: | Ông Bùi Xuân Trọng; |
| Ông Nguyễn Trọng Đoàn. |
Thư ký phiên tòa:
Bà Nguyễn Mỹ Duyên - Thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân tối cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Hoàng Giang, Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 305/2025/TLPT-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo Lại Thị H do có kháng cáo của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/HS - ST ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Bị cáo bị kháng cáo:
Lại Thị H, sinh năm 1986; HKTT: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn C, xã T, tỉnh Bắc Ninh); giới tính: Nữ; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lại Đắc H1 và bà Dương Thị X; gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ nhất; có chồng là Dương Đình T và có 02 con (con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2013); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/7/2024 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo do Toà án chỉ định: Luật sư Khương Thị Thùy T1 - Công ty L4 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B, vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và gửi bản bào chữa đến phiên tòa.
Bị hại có kháng cáo:
- Chị Nguyễn Thu H2, sinh năm 1988; địa chỉ: Phố K, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh (nay là phố K, phường T, tỉnh Bắc Ninh), có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo:
- Ông Nguyễn Bá S, sinh năm 1963; địa chỉ: Phố K, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh (nay là phố K, phường T, tỉnh Bắc Ninh), có mặt.
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1964; địa chỉ: Phố K, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh (nay là phố K, phường T, tỉnh Bắc Ninh), có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà N, ông S, chị H2: Luật sư Đặng Hồng D và Luật sư Nguyễn Thùy D1 - Công ty L5 thuộc Đoàn luật sư thành phố H (có mặt Luật sư Hồng D, vắng mặt Luật sư Thùy D1).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo:
- Chị Nguyễn Thị S1, sinh năm 1990; trú tại: Chung cư H, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Mạnh Đ, sinh năm 1991; trú tại: KTT G đường T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội (nay là KTT G đường T, phường Đ, thành phố Hà Nội); vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chị Nguyễn Thu H2, sinh năm 1988, HKTT và địa chỉ: Phố K, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh có quen biết và chơi thân với Lại Thị Hương từ năm 2016. Từ năm 2018 đến năm 2023, chị H2 làm công cho H tại cơ sở S3 ở thị trấn H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (nay là phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh); tại văn phòng K1 tại tỉnh Bắc Giang rồi lại quay trở lại làm dịch vụ Spa tại thành phố B cho H.
Đầu tháng 6/2023, do nợ tiền nhiều người không có khả năng chi trả, để có tiền H đã nói dối chị H2 về việc sẽ mở chuỗi kinh doanh dịch vụ Spa và đầu tư mua đất tại tỉnh Bắc Giang, đồng thời rủ chị H2 góp tiền làm chung với H. Thời điểm này giá đất tại Bắc Giang không cao có thể đầu tư chờ giá đất tăng trở lại sẽ bán kiếm lời. Tiền đầu tư mở Spa khoảng 1.000.000.000đ và tiền đầu tư đất khoảng 6.000.000.000đ, nhưng chị H2 không có tiền. Lúc này, H nói với chị H2 về việc sẽ mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bố mẹ đẻ chị H2 và nhờ hai ông bà đứng ra thế chấp vay tiền Ngân hàng. Tuy nhiên, chị H2 nói nếu vay 7.000.000.000₫ sợ bố mẹ chị H2 không đồng ý vì số tiền quá lớn thì H nói với chị H2 sẽ nhờ Ngân hàng chia nhỏ gói vay mỗi gói 1.000.000.000đ để bố mẹ chị H2 không biết mà vẫn ký hồ sơ vay. Chị H2 đồng ý.
Ngày 08/6/2023, H và chị H2 đến nhà ông Nguyễn Bá S và bà Nguyễn Thị N (là bố mẹ đẻ của chị H2) ở phố K, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh hỏi mượn ông S, bà N Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DY 695960 của thửa đất số 35, tờ bản đồ 20, diện tích 306,8m² tại phố K, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh để thế chấp Ngân hàng vay tiền. H nói dối ông S, bà N về việc chị H2 góp số tiền 1.000.000.000₫ đầu tư mở Spa với H tại tỉnh Bắc Giang, tỉnh Bắc Ninh và thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên để vay Ngân hàng 1.000.000.000đ. Ông S, bà N đồng ý đứng ra vay Ngân hàng cho chị H2 và H. H viết bản cam kết với nội dung: Hôm nay, ngày 08/6/2023, tôi là Lại Thị H, CCCD số [...], ngày cấp 14/4/2021, địa chỉ: C, T, T, Bắc Ninh. Tôi có cầm của ông Nguyễn Bá S, sinh ngày 02/02/1963, CCCD: [...], ngày cấp 02/7/2021; bà Nguyễn Thị N, sinh ngày 10/9/1964, CCCD: [...], ngày cấp 09/5/2021, địa chỉ: G, T, Bắc Ninh để thế chấp Ngân hàng V2 để kinh doanh vay với số tiền 1.000.000.000đ từ ngày 08/6/2023 đến ngày 07/6/2024. Tôi hứa trả lãi đầy đủ cho Ngân hàng và đúng 12 tháng tôi sẽ trả lại sổ cho ông bà. Tôi xin cam kết lời tôi nói hoàn toàn đúng sự thật và sẽ chịu hoàn toàn trước pháp luật. H ký vào mục người mượn sổ; ông S, bà N ký vào mục chủ hộ.
Sau đó, H giới thiệu chị H2 với chị Nguyễn Thị S1, sinh năm 1990 ở Chung cư H, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Chị S1 giới thiệu chị H2 vay tiền của Ngân hàng V2 với gói vay nhiều hơn. Chị H2 nói với chị S1 việc chị H2 và H muốn vay tiền vay số tiền 7.000.000.000đ để đầu tư S2 và mua đất, tài sản thế chấp là nhà đất đứng tên bố, mẹ chị H2 tại phố K, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
Qua giới thiệu của chị S1, chị H2 gặp anh Nguyễn Mạnh Đ, sinh năm 1991, HKTT: Khu tập thể G, đường T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội là Chuyên viên Ngân hàng V2 - Trung tâm thế chấp vùng 3. Chị H2 gặp trực tiếp anh Đ và cung cấp toàn bộ tài liệu cần thiết để nhờ anh Đ làm hồ sơ vay tiền giúp. Quá trình trao đổi, anh Đ nói với chị H2 về quy định của Ngân hàng V2, nếu khách hàng vay vốn quá 55 tuổi được tư vấn tham gia mua bảo hiểm nhân thọ, hoặc không tham gia sẽ bị cộng thêm 1,5% vào lãi suất khoản vay. Chị H2 đồng ý tham gia mua bảo hiểm nhân thọ cho khoản tiền sẽ vay tại Ngân hàng V2. Tuy nhiên do không có tiền, chị H2 nhờ anh Đ vay hộ tiền trước để tham gia mua bảo hiểm, khi nào Ngân hàng giải ngân, chị H2 sẽ trả lại cho anh Đ. Anh Đ đồng ý và sẽ làm hồ sơ cho bố, mẹ chị H2 vay trước 6.000.000.000đ, còn 1.000.000.000đ chị H2 sẽ đứng hồ sơ vay và làm sau. Chị H2 đồng ý.
Ngày 09/6/2023, theo yêu cầu của anh Đ, chị H2 cùng ông S, bà N, chị S1 đến Trung tâm thế chấp vùng 3, ngân hàng V2 ở địa chỉ G D, quận C, thành phố Hà Nội. Tại đây, sau khi được giải thích rõ về số tiền vay là 6.000.000.000đ thì ông S, bà N không ký hồ sơ vay và yêu cầu để bàn bạc lại với chị H2. Ngày 16/6/2023, ông S, bà N đến ngân hàng V2 - Chi nhánh B ký hợp đồng cho vay, khế ước nhận nợ, đề nghị giải ngân, phụ lục hợp đồng tín dụng về việc mua bảo hiểm khoản vay do khách hàng quá tuổi, tài sản thế chấp là thửa đất số 35, tờ bản đồ 20, diện tích 306,8,m² ở địa chỉ phố K, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DY 695960. Tài sản trên đã được định giá là 10.112.625.000đ và số tiền cấp tín dụng tối đa cao nhất là 7.000.000.000đ. Mục đích vay vốn: Bổ sung vốn kinh doanh hoa, cây cảnh, tiểu cảnh. Trên đề nghị giải ngân, ông S, bà N đều viết rõ tài khoản thụ hưởng số 0397312286 tại Ngân hàng V2, chủ tài khoản là Lại Thị H (cả ông S, bà N đều xác nhận khi ký hợp đồng đều là bản in và đều đọc trước khi ký hợp đồng).
Ngày 22/6/2023, Ngân hàng V2 đã giải ngân số tiền 6.000.000.000đ vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0397312286, chủ tài khoản Lại Thị H. H đã thông báo lại cho chị H2 biết.
Khoảng 07 ngày sau, chị H2 tiếp tục yêu cầu anh Đ hỗ trợ làm hồ sơ giải ngân thêm khoản vay 1.000.000.000đ của chị H2. Anh Đ đồng ý và bảo chị H2 đưa ông S, bà N đến Ngân hàng V2 - Chi nhánh B ký hợp đồng thế chấp nghĩa vụ 2, tức là ông S, bà N sẽ bảo lãnh cho chị H2 vay thêm 1.000.000.000đ từ tài sản đang thế chấp tại Ngân hàng V2 là thửa đất trên. Mục đích vay vốn: Bổ sung vốn kinh doanh hoa, cây cảnh, tiểu cảnh. Ngày 24/7/2023, chị H2 đã đến Trung tâm thế chấp vùng 3, Ngân hàng V2 ký hồ sơ giải ngân khoản vay 1.000.000.000₫ và đề nghị giải ngân vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0397312286, chủ tài khoản Lại Thị H. Ngày 27/7/2023, Ngân hàng V2 giải ngân khoản vay 1.000.000.000đ vào tài khoản của H và H cũng đã thông báo lại cho chị H2.
Sau khi được giải ngân vào tài khoản Ngân hàng V2 số 0397312286, H chuyển khoản đến tài khoản Ngân hàng V2 số 6620041986 của mình số tiền 1.000.000.000đ; chuyển khoản số tiền 5.977.360.000đ đến tài khoản Ngân hàng T10 số 19036657219016 của H, số còn lại thanh toán lãi suất của khoản vay và thẻ tín dụng hết.
*Về các tài liệu thu giữ:
- Các hợp đồng cho vay, các khế ước nhận nợ, các đề nghị giải ngân, các hợp đồng thế chấp, báo cáo tư vấn về giá tài sản bảo đảm do chị H2 giao nộp; thủ tục vay nợ thế chấp quyền sử dụng đất giữa ông S, bà N, chị H2 với Ngân hàng V2 do Ngân hàng V2 cung cấp và tài liệu do Văn phòng C1 cung cấp.
- Chị H2 giao nộp: Giấy biên nhận đề ngày 08/6/2023 do H viết nội dung mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông S, bà N; nội dung các tin nhắn zalo giữa chị H2 với H; hợp đồng chuyển nhượng cơ sở S3 đề ngày 15/10/2023 giữa H với chị H2.
- Sao kê tài khoản Ngân hàng V2, 662001986; tài khoản Ngân hàng T10 số 19036657219016, chủ tài khoản Lại Thị H.
- Sao kê các tài khoản Ngân hàng có liên quan đã nhận tiền từ tài khoản của H.
Đến nay, trên cơ sở kết quả sao kê tài khoản ngân hàng của H, những tài khoản Ngân hàng có liên quan, kết quả đấu tranh với H và làm việc với những người được H chuyển tiền cùng kết quả xác minh xác định:
*Đối với số tiền 1.000.000.000đ được chuyển đến tài khoản Ngân hàng V2 số 6620041986:
Ngay sau khi chuyển tiền, H đã rút toàn bộ số tiền này bằng tiền mặt rồi sử dụng chi tiêu cá nhân và trả nợ hết, hiện không nhớ chi tiêu vào việc gì và trả nợ cho những ai.
*Đối với số tiền được chuyển đến tài khoản Ngân hàng T10 số 19036657219016:
sau đó được H sử dụng để trả nợ; thanh toán tiền lãi và tiền bảo hiểm của khoản tiền vay 7.000.000.000đ; trả lương cho nhân viên; chi tiêu cá nhân, thanh toán tiền nội thất và các khoản chi phí khác hết.
(+) H sử dụng tài khoản Ngân hàng T10 số 19036657219016 của mình chuyển khoản tổng số tiền 4.570.325.000đ đến 25 tài khoản để trả nợ cho các khoản tiền mà H vay họ từ trước gồm:
- Chuyển 126.700.000đ đến tài khoản Ngân hàng V2 số [...] và tài khoản Ngân hàng B1 số 43210001034310 của chị Nguyễn Thu H2, sinh năm 1988, HKTT: Phố Khám, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
- Chuyển 755.930.000đ đến tài khoản Ngân hàng T10 số 12220989644012 của anh Nguyễn Trọng H3, sinh năm 1988, HKTT: Thôn N, xã M, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
- Chuyển 43.500.000đ đến tài khoản Ngân hàng T11 số 0906006069 và tài khoản Ngân hàng A2 số 3113437 của anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1980, địa chỉ: Tổ dân phố số I, phường T, quận N, thành phố Hà Nội.
- Chuyển 7.000.000đ đến tài khoản Ngân hàng V3 số 1018813563 của chị Dương Thị Thu N1, sinh năm 1993, HKTT: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
- Chuyển 15.000.000đ đến tài khoản Ngân hàng V2 số [...] của chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1984, HKTT: Thôn T, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
- Chuyển 183.000.000đ đến tài khoản Ngân hàng T11 số 00068909001 của chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1988, HKTT: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
- Chuyển 129.500.000đ đến tài khoản ngân hàng T10 số 19036954933011 của chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1985, HKTT: Thôn Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
- Chuyển 1.500.000đ đến tài khoản Ngân hàng T10 số 19035533621014 của chị Nguyễn Thị Bích N2, sinh năm 1990, HKTT: Thôn Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
- Chuyển 887.500.000đ đến tài khoản Ngân hàng T10 số 19037398937017 của anh Nguyễn Hưng V, sinh năm 1982, địa chỉ: Khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
- Chuyển 293.000.000đ đến tài khoản Ngân hàng V3 số 1018190123 của anh Nguyễn Nam K, sinh năm 1991, HKTT: Thôn Đ, xã D, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Chuyển 5.000.000đ đến tài khoản Ngân hàng M1 số 0962827783 của anh Đặng Văn T3, sinh năm 1983, HKTT: Thôn A, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
- Chuyển 543.150.000đ đến tài khoản Ngân hàng V3 số 0351001092207 của chị Nguyễn Thị T4, sinh năm 1989, HKTT: Khu Đ, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
- Chuyển 843.860.000đ đến tài khoản Ngân hàng V4 số [...] của chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1978, HKTT: Phố Mới, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh để trả nợ cho chị Nguyễn Thị Phương H4, sinh năm 1980, địa chỉ: L, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
- Chuyển 71.600.000đ đến tài khoản Ngân hàng V3 số [...] của chị Dương Thị H5, sinh năm 1987, HKTT: Thôn C, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- Chuyển 40.500.000đ đến tài khoản Ngân hàng M1 số 0540168784877 của anh Lê Xuân H6, sinh năm 1977, HKTT: Thị Thôn, xã H, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
- Chuyển 40.500.000đ đến tài khoản Ngân hàng M1 số 6510119828888, của anh Lê Văn T5, sinh năm 1982, HKTT: Thị Thôn, xã H, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
- Chuyển 236.500.000đ đến tài khoản Ngân hàng V4 số [...] của anh Nguyễn Viết H7, sinh năm 1981, HKTT: Thôn H, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.
- Chuyển 8.000.000đ đến tài khoản Ngân hàng V4 số [...] của Nguyễn Thị Thu H8, sinh năm 1994, địa chỉ: Phố H, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
- Chuyển 551.785.000đ đến tài khoản Ngân hàng V4 số 0969388820 của chị Tạ Thị L, sinh năm 1976, HKTT: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
- Chuyển 4.800.000đ đến tài khoản Ngân hàng S4 số [...] của chị Vũ Thị Thúy H9, sinh năm 1981, địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
- Chuyển 55.000.000đ đến tài khoản Ngân hàng V4 số [...] của chị Nguyễn Thị P1, sinh năm 1985, HKTT: Thôn Đ, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
- Chuyển 10.000.000đ đến tài khoản Ngân hàng V4 số [...] của anh Vũ Văn T6, sinh năm 1984, địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
- Chuyển 27.000.000đ đến tài khoản Ngân hàng A3 số 2503205292474 của chị Phạm Thị T7, sinh năm 1969, địa chỉ: Thôn P, xã N, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
(+) H5 sử dụng tài khoản Ngân hàng T10 số 19036657219016 của mình chuyển khoản tổng số tiền 19.500.000đ đến 04 tài khoản để thanh toán tiền lương, tiền công cho nhân viên gồm:
- Chuyển 12.000.000đ đến tài khoản Ngân hàng M1 số [...] của chị Hoàng Thị L1, sinh năm 2003, HKTT: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang để trả lương do trước đó chị L1 làm việc tại S của H5.
- Chuyển 1.000.000đ đến tài khoản Ngân hàng V3 số 1017839499 của anh Ngô Cảnh T8, sinh năm 1998, HKTT: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh để trả tiền lương nhân viên cho anh T8.
- Chuyển 1.500.000đ đến tài khoản Ngân hàng M1 số 0010523042004, chủ tài khoản Đặng Hữu Đ1, địa chỉ: Bắc Giang để trả lương cho Đ1. Cơ quan điều tra đã đề nghị Ngân hàng M1 cung cấp thông tin tài khoản của Đặng Hữu Đ1, nhưng đến nay chưa có kết quả.
- Chuyển 5.000.000đ đến tài khoản Ngân hàng V4 số [...], chủ tài khoản Nguyễn Thị T9, địa chỉ: Bắc Giang để trả lương cho T9. Cơ quan điều tra đã đề nghị Ngân hàng V4 cung cấp thông tin chủ tài khoản của Phạm Thị T7, nhưng đến nay chưa có kết quả.
(+) H5 sử dụng tài khoản Ngân hàng T10 số 19036657219016 của mình chuyển khoản tổng số 1.255.270.000đ đến 15 tài khoản để nhờ người trả tiền lãi và phí bảo hiểm của khoản vay 7.000.000.000đ, chi tiêu cá nhân, thanh toán tiền nội thất và trả nợ, trong đó:
Các chủ tài khoản đã được Cơ quan điều tra làm rõ gồm:
- Chuyển 1.000.000.000₫ (01 mã 450 triệu đồng, 01 mã 450 triệu đồng, 01 mã 100 triệu đồng) đến tài khoản Ngân hàng V3 số 0011001255691, chủ tài khoản Vũ Hữu M, sinh năm 1980, HKTT: Số B, ngõ I H, quận T, thành phố Hà Nội. Làm việc với anh M xác định: Anh nhận số tiền trên giúp chị Nguyễn Thị S1, sinh năm 1991, HKTT: Chung Cư H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Số tiền này, anh M đã chuyển lại cho chị S1.
- Làm việc với chị S1 xác định: Số tiền trên, H5 nhờ chị S1 chuyển 500.000.000đ cho anh Nguyễn Mạnh Đ (nhân viên Ngân hàng V2) để anh Đ trả lãi khoản vay 7.000.000.000đ giúp H5, 100.000.000đ trả tiền phí bảo hiểm của khoản vay trên, còn 400.000.000đ là tiền H5 trả nợ chị S1.
- Chuyển 8.000.000đ đến tài khoản Ngân hàng V2 số 0397312286 của bị can để chi tiêu cá nhân.
- Chuyển 1.200.000đ đến tài khoản Ngân hàng T11 số 05202549401 của chị Nguyễn Thị H10, sinh năm 1982, HKTT: HD5-25, Vinhome the H, quận L, thành phố Hà Nội để chi tiêu cá nhân.
- Chuyển 4.200.000đ đến tài khoản Ngân hàng V4 số [...] của anh Nguyễn Hà P2, sinh năm 1988, HKTT: L, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh để thanh toán tiền mua hàng nội thất.
- Chuyển 62.000.000đ đến tài khoản Ngân hàng V3 số 0731000612371 của chị Vũ Thị P3, sinh năm 1986, HKTT: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang để thanh toán tiền làm cầu thang cho nhà H5.
- Chuyển 8.163.000đ đến tài khoản Ngân hàng S5 số [...] của anh Dương Đình T (chồng của H5), sinh năm 1985, HKTT: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh để trả lãi cho khoản vay mà vợ chồng anh đang thế chấp sổ đỏ vay ngân hàng.
Các chủ tài khoản Cơ quan điều tra đã có văn bản đề nghị các Ngân hàng và đơn vị có liên quan cung cấp thông tin hoặc đã uỷ thác cho Cơ quan điều tra khác nhưng đến nay chưa nhận được thông tin trả lời gồm:
- Chuyển 15.500.000đ đến tài khoản Ngân hàng T10 số 19029838018881, chủ tài khoản Lương Thị L2, HKTT: Số H, tổ A, T, quận H, thành phố Hà Nội để chi tiêu cá nhân. Cơ quan điều tra đã ủy thác cho Cơ quan CSĐT Công an quận H, thành phố Hà Nội tiến hành làm việc với Lương Thị L2, nhưng đến nay chưa có kết quả.
- Chuyển 20.000.000đ đến tài khoản Ngân hàng S6, chủ tài khoản Lưu Xuân V1, địa chỉ: T, Bắc Ninh để trả tiền nội thất. Cơ quan điều tra đã đề nghị Ngân hàng S6 cung cấp thông tin tài khoản của Lưu Xuân V1, nhưng đến nay chưa có kết quả.
- Chuyển 118.600.000đ đến tài khoản Ngân hàng V3 số 1020442030, chủ tài khoản Công ty cổ phần I để chi tiêu cá nhân. Cơ quan điều tra đã có Công văn đề nghị Công ty cổ phần I cung cấp nội dung nhận số tiền trên từ tài khoản ngân hàng của H5, nhưng đến nay chưa có kết quả.
- Chuyển 2.050.000đ đến tài khoản Ngân hàng V2 số [...], chủ tài khoản Hà Ngọc A1 để chi tiêu cá nhân. Cơ quan điều tra đã đề nghị Ngân hàng V2 cung cấp thông tin tài khoản của Hà Ngọc A1, nhưng đến nay chưa có kết quả.
- Chuyển 1.390.000đ đến tài khoản Ngân hàng T10 số 19034374894016, chủ tài khoản Trần Văn L3 để chi tiêu cá nhân. Cơ quan điều tra đã đề nghị Ngân hàng T10 cung cấp thông tin tài khoản của Trần Văn L3, nhưng đến nay chưa có kết quả.
- Chuyển 1.000.000đ đến tài khoản Ngân hàng P5 số 2167040336919, chủ tài khoản Nguyễn Thị Thu H11 để chi tiêu cá nhân. Cơ quan điều tra đã có công văn đề nghị Ngân hàng P5 cung cấp thông tin tài khoản của Nguyễn Thị Thu H11, nhưng đến nay chưa có kết quả.
- Chuyển 2.057.000đ đến tài khoản Ngân hàng V4 số [...], chủ tài khoản Nguyễn Huy H12 để chi tiêu cá nhân. Cơ quan điều tra đã có công văn đề nghị Ngân hàng V4 cung cấp thông tin tài khoản của Nguyễn Huy H12, nhưng đến nay chưa có kết quả.
- Chuyển 1.000.000đ đến tài khoản Ngân hàng M1 số 0965645389, chủ tài khoản Nguyễn Thị D2 để chi tiêu cá nhân. Cơ quan điều tra đã có công văn đề nghị Ngân hàng M1 cung cấp thông tin chủ tài khoản của Nguyễn Thị D2, nhưng đến nay chưa có kết quả.
- Chuyển 10.110.000đ đến tài khoản Ngân hàng A2, chủ tài khoản Phạm Minh P4 để chi tiêu cá nhân. Cơ quan điều tra đã có công văn đề nghị Ngân hàng A2 cung cấp thông tin chủ tài khoản của Phạm Minh P4, nhưng đến nay chưa có kết quả.
*Kết quả xác minh:
- Xác minh tại Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B xác định: Lại Thị H không đứng tên người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với thửa đất nào trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh mà đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
- Xác minh tại Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B xác định: Không thấy có thông tin về việc đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của Lại Thị H.
Như vậy, với số tiền 7.000.000.000đ được giải ngân vào tài khoản của mình, Lại Thị H không sử dụng bất kỳ khoản tiền nào để đầu tư mở chuỗi kinh doanh Spa và đầu tư mua đất như đã nói với chị H10 mà chỉ sử dụng 600.000.000đ để trả lãi cho 06 tháng vay và tiền phí bảo hiểm của khoản vay trên cho Ngân hàng V2; 100.000.000đ chuyển cho chị H10 để đặt cọc tiền thuê nhà ở Quảng Ninh. Số tiền 6.300.000.000đ còn lại, H đã chiếm đoạt sử dụng trả nợ, trả tiền lương cho nhân viên, trả tiền lãi cho khoản vay khác của vợ chồng H và chi tiêu sinh hoạt cá nhân hết. Sau khi sử dụng hết tiền, H đã bỏ trốn vào huyện B, thành phố Hồ Chí Minh và thành phố B, tỉnh Đồng Nai bán nước, làm Spa nhỏ và giúp việc gia đình. Ngày 28/7/2024, H bị cán bộ Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đến yêu cầu về trụ sở làm việc. Sau đó, H xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
* Về trách nhiệm dân sự:
Đến thời điểm hiện nay, H chưa bồi thường gì cho chị H10. Chị H10 yêu cầu H phải trả lại số tiền 6.300.000.000đ đã chiếm đoạt và xử lý Hương theo quy định của pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số 183/CT-VKSBN-P2 ngày 25/11/2024 của VKSND tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Lại Thị H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/HS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã quyết định:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Lại Thị H 15 (Mười lăm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 31/7/2024.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 22/01/2025, bị hại là chị Nguyễn Thu H2 có đơn kháng cáo đề nghị xem xét lại bản án sơ thẩm do có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm đối với nhân viên Ngân hàng V2 là Nguyễn Mạnh Đ và Nguyễn Thị S1 do 02 người này hưởng lợi từ hành vi lừa đảo của bị cáo H và đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo H.
Ngày 22/01/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Bá S và bà Nguyễn Thị N có đơn kháng cáo đề nghị giải quyết hậu quả pháp lý đối với các hợp đồng tín dụng giữa ông S, bà N với V5 do hành vi lừa đảo của bị cáo H gây ra.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lại Thị H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và trình bày bị cáo biết chị S1 trước đó khoảng 01 năm và chỉ giới thiệu chị S1 với H2, mọi thủ tục vay Ngân hàng sau đó là do H2 trực tiếp làm việc với chị S1, anh Đ. Bị cáo không bàn bạc thỏa thuận với chị S1, anh Đ làm hồ sơ thế chấp và chia nhỏ gói vay tín dụng. Bị cáo không nhớ có vay tiền của chị S1 không vì thời điểm đó bị cáo vay tiền của rất nhiều người. Bị cáo thừa nhận lỗi của mình nên chấp nhận mức hình phạt của Tòa án cấp sơ thẩm.
Bị hại là chị Nguyễn Thu H2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Bá S, bà Nguyễn Thị N giữ nguyên nội dung kháng cáo và lời khai tại cơ quan điều tra và Tòa án cấp sơ thẩm. Chị H2 trình bày mọi thủ tục thế chấp do H liên lạc với chị S1 và không thừa nhận nói H chuyển khoản số tiền 01 tỷ đồng vào số tài khoản của anh M. Ông S, bà N cho rằng có sự thông đồng của chị S1, chị S1 đưa hồ sơ thế chấp cho ông, bà ký vào cuối giờ chiều và khi ký chị S1 nói chỉ ký hồ sơ vay 01 tỷ đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông S, bà N và chị H2, tăng hình phạt đối với bị cáo H, tuyên hợp đồng thế chấp là hợp đồng vô hiệu, thu hồi số tiền bị cáo H trả nợ cho những người khác để trả lại cho ông S, bà N và làm rõ dấu hiệu bỏ lọt tội phạm đối với chị S1 và anh Đ - nhân viên Ngân hàng V2.
Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Hà Nội sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu xác minh bổ sung tại Tòa án cấp phúc thẩm, kết quả tranh tụng tại phiên tòa đã kết luận: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lại Thị H 15 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ nên không có căn cứ tăng hình phạt đối với bị cáo. Về dấu hiệu bỏ lọt tội phạm đối với chị Nguyễn Thị S1 và anh Nguyễn Mạnh Đ thấy không có sự thông đồng trước để chiếm đoạt tài sản. Ngày 09/6/2023, khi đến Trung tâm thế chấp vùng 3 Ngân hàng V2 ký hợp đồng tín dụng và hồ sơ thế chấp, vợ chồng ông S, bà N đã từ chối ký vay số tiền 06 tỷ đồng. Ngày 16/6/2023, ông S và bà N ký hợp đồng tín dụng và hồ sơ thế chấp tự nguyện nên không có cơ sở xác định có sự lừa dối. Tuy nhiên, đối với số tiền 01 tỷ đồng bị cáo H chuyển khoản cho anh M chỉ có căn cứ xác định số tiền 600 triệu đồng chuyển cho anh Đ để trả lãi tiền vay, tiền bảo hiểm nhân thọ và còn có sự mâu thuẫn số tiền 400 triệu đồng. Chị S1 cho rằng số tiền 400 triệu đồng là tiền bị cáo H trả nợ khoản tiền chị S1 cho vay trước đó, nhưng bị cáo H khai không nhớ có vay tiền chị S1 không nên cần kiến nghị cơ quan điều tra Công an tỉnh B làm rõ khoản tiền này, nếu có thỏa thuận để chia nhỏ gói tín dụng giải ngân thì đề nghị truy thu. Đối với hợp đồng tìn dụng giữa ông S, bà N với Ngân hàng V2 là hợp đồng hợp pháp nên ông S, bà N phải thực hiện theo thỏa thuận hợp đồng vay đã ký kết. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Thu H2 và kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Bá S, bà Nguyễn Thị N; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo trình bày: Thống nhất ý kiến của đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội kiến nghị điều tra làm rõ khoản tiền 400 triệu đồng và đề nghị thu hồi tiền bị cáo H trả nợ cho những người khác vì là tiền do phạm tội mà có. Bị cáo H chưa bồi thường khắc phục cho bị hại và không thành khẩn khai báo liên quan đến số tiền 01 tỷ đồng chuyển khoản theo yêu cầu của chị H2 nhưng chị H2 không thừa nhận. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo H để đảm bảo tính răn đe, tuyên hợp đồng thế chấp là hợp đồng vô hiệu do bị lừa đối và thu hồi tiền bị cáo H trả nợ để trả cho ông S, bà N.
Luật sư bào chữa cho bị cáo gửi luận cứ bào chữa cho bị cáo thể hiện: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đầy đủ, khách quan, đúng người, đúng tội. Các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã điều tra, truy tố đầy đủ và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo H là phù hợp. Ông S, bà N kháng cáo đề nghị giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp thấy đây là nội dung dân sự nên ông S, bà N có quyền khởi kiện bằng vụ kiện khác. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Thẩm phán trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lại Thị H thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định: Tháng 6/2023 do cần tiền trả nợ và chi tiêu cá nhân, Lại Thị H đã có hành vi đưa ra các thông tin gian dối về việc mở chuỗi kinh doanh dịch vụ Spa và đầu tư mua đất tại tỉnh Bắc Giang để chị Nguyễn Thu H2 nhờ bố mẹ đẻ là ông Nguyễn Bá S và bà Nguyễn Thị N ký hợp đồng vay Ngân hàng V2 - Chi nhánh B số tiền 7.000.000.000 đồng giải ngân vào tài khoản của H để chị H2 đầu tư chung với H. Ngày 22/6/2023 và 27/7/2023, sau khi được Ngân hàng V5 giải ngân số tiền 7.000.000.000 đồng, H chỉ sử dụng 600.000.000 đồng trả tiền lãi 06 tháng và tiền phí bảo hiểm của khoản vay này cho Ngân hàng V2; chuyển khoản 100.000.000 đồng cho chị H2 để đặt cọc thuê nhà; số tiền 6.300.000.000 đồng còn lại H đã chiếm đoạt sử dụng để trả nợ, trả lương cho nhân viên, trả tiền lãi cho các khoản vay khác và chi tiêu sinh hoạt cá nhân hết, không sử dụng bất kỳ khoản tiền nào để đầu tư mở chuỗi kinh doanh dịch vụ Spa và đầu tư mua đất. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lại Thị H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.1] Xét kháng cáo đề nghị của bị hại là chị Nguyễn Thu H2 cho rằng có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm đối với nhân viên V2 là anh Nguyễn Mạnh Đ và chị Nguyễn Thị S1 do 02 người này hưởng tiền từ hành vi lừa đảo của bị cáo H thấy: Căn cứ lời khai của chị Nguyễn Thu H2, ông Nguyễn Bá S, bà Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Mạnh Đ và chị Nguyễn Thị S1 thể hiện khi ký hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, giấy đề nghị giải ngân thì ông S, bà N và chị H2 đều được nhân viên Ngân hàng V2 giải thích rõ nội dung hợp đồng; sau đó đồng ý ký xác nhận các trang trong hợp đồng và đều thừa nhận nhân viên Ngân hàng V2 đưa cho ông S, bà N đọc rồi ký. Bị cáo H cũng khai nhận không phải cho bất kỳ nhân viên Ngân hàng và chị S1 tiền để được tạo điều kiện làm hồ sơ thế chấp thửa đất của ông S, bà N vay vốn Ngân hàng. Đối với khoản tiền 01 tỷ đồng Hương chuyển cho chị S1, tài liệu hồ sơ thể hiện chị H2 thống nhất với H khi nhận tiền giải ngân bớt lại 500 triệu đồng trả lãi cho khoản vay 07 tỷ đồng và nhờ anh Đ nhân viên Ngân hàng V2 trả tiền lãi hộ nên sau khi nhận tiền giải ngân, H đã chuyển khoản cho chị S1 thông qua tài khoản của anh Vũ Hữu M để nhờ chị S1 chuyển cho anh Đ 600 triệu đồng trả tiền lãi và tiền mua bảo hiểm nhân thọ khoản vay của ông S, bà N và chị H2; số tiền 400 triệu đồng còn lại là tiền bị cáo H trả nợ cho chị S1 tiền H vay chị S1 trước đó để kinh doanh, chị S1 không được hưởng lợi từ việc giới thiệu cho gia đình chị H2 vay tiền. Chị H2 và anh Đ đều có lời khai thống nhất về việc thỏa thuận nhờ anh Đ trả tiền lãi hộ cho gia đình chị H2 như lời khai của chị S1, anh M và chị H2 xác nhận anh Đ đã sử dụng 500 triệu đồng để trả lãi hết cho khoản vay của gia đình chị và 100 triệu đồng mua bảo hiểm nhân thọ. Quá trình xét xử phúc thẩm do thấy lời khai của bị cáo H có mâu thuẫn với lời khai của chị S1 liên quan đến số tiền 400 triệu đồng nên Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã có Công văn số 1013/TANDTC-PT ngày 30/7/2025 yêu cầu Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Hà Nội và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh bổ sung tài liệu chứng cứ theo quy định tại Điều 284 Bộ luật Tố tụng hình sự (cụ thể là lấy lời khai của chị S1 để làm rõ số tiền 400 triệu đồng trong tổng số tiền 01 tỷ đồng chị S1 nhận từ H là khoản tiền gì; đối chất giữa bị cáo H với chị S1 để làm rõ mâu thuẫn về số tiền trên; làm rõ lời khai của chị S1 và anh M về việc giao nhận 01 tỷ đồng và lấy lời khai của những người được H chuyển khoản trả nợ để làm rõ ý kiến của họ về số tiền H trả nợ...). Tại Công văn số 129/CV-VKS-P2 ngày 05/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thể hiện đã làm việc với chị S1 và anh M, kết quả chị S1 khẳng định không nhận 400 triệu đồng của H để giúp chị H2 làm thủ tục vay vốn tại Ngân hàng V2 và chia nhỏ gói tín dụng giải ngân để ông S, bà N không phát hiện ra tổng số tiền vay là 07 tỷ đồng. Số tiền 400 triệu đồng này là tiền H trả nợ cho chị S1. Chị S1 và H có mối quan hệ từ rất lâu, trước đó có lần H đã nhờ chị S1 hỗ trợ để H vay tiền Ngân hàng nhưng tài sản của H không thế chấp vay tiền Ngân hàng xăng dầu nơi chị làm việc được nên chị đã giới thiệu H sang vay vốn tại Ngân hàng P6 (O). Chị S1 cho H vay 400 triệu đồng bằng tiền mặt, không viết giấy vay tiền và không có ai chứng kiến, do thời gian đã lâu nên chị S1 không nhớ cho H vay tiền tại địa điểm nào. Nếu cho đối chất chị S1 vẫn trình bày như vậy và từ chối đối chất với H (có đơn đề nghị từ chối đối chất kèm theo). Anh M thừa nhận có nhận 01 tỷ đồng từ tài khoản của H chuyển ngày 22/6/2023 nhưng anh không biết nguồn gốc số tiền này mà do chị S1 nhờ nhận hộ. Sau khi nhận tiền, chị S1 trả nợ cho anh 200 triệu đồng, còn 800 triệu đồng anh chuyển khoản vào tài khoản của chị S1 tại Ngân hàng P5, số tiền 200 triệu đồng anh M đã sử dụng chi tiêu cá nhân nên không còn tiền giao nộp. Đối với những người đã nhận tiền do H trả từ tiền chiếm đoạt được đều khẳng định không biết nguồn gốc tiền H trả nợ và đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết, không đồng ý giao nộp.
Từ những lập luận và phân tích trên thấy mặc dù Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã yêu cầu xác minh bổ sung tài liệu chứng cứ, nhưng vẫn chưa làm rõ được số tiền 400 triệu đồng trong tổng số tiền 01 tỷ đồng bị cáo H chuyển cho chị S1 thông qua tài khoản của anh M. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H trình bày do thời điểm đó bị cáo vay tiền của nhiều người nên không nhớ được bị cáo có vay tiền của chị S1 không. Do đó, cần kiến nghị cơ quan điều tra Công an tỉnh B làm rõ số tiền 400 triệu đồng là tiền vay hay là tiền hưởng lợi từ việc thỏa thuận chia nhỏ gói tín dụng giải ngân đối với khoản vay có thế chấp của ông S, bà N. Bị cáo H chiếm đoạt số tiền 07 tỷ đồng của gia đình chị H2, tại giai đoạn xét xử sơ thẩm mẹ bị cáo H mới bồi thường thay cho bị cáo H số tiền 100 triệu đồng để khắc phục hậu quả. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo H để xử phạt bị cáo H mức án 15 năm tù là phù hợp. Do đó, việc chị H2 kháng cáo cho rằng anh Đ và chị S1 được hưởng tiền từ hành vi lừa đảo của bị cáo H và đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo H là không có cơ sở chấp nhận.
Đối với kháng cáo của ông S, bà N cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không giải quyết hậu quả pháp lý đối với các hợp đồng tín dụng giữa ông S, bà N với Ngân hàng V2 thấy: Việc ông S, bà N ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng V2 là giao dịch dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Ngân hàng V5 đã xác định khoản vay giữa ông S, bà N đã đến hạn thanh toán, nhưng ông S và bà N không thanh toán được nên Ngân hàng V2 đã khởi kiện ra Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông S, bà N cũng xác nhận có vụ kiện trên, nhưng chưa giải quyết xong. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông S, bà N về vấn đề này.
Về án phí hình sự thẩm: Do kháng cáo của bị hại không được chấp nhận nên bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông S, bà N là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị hại là chị Nguyễn Thu H2 về việc tăng hình phạt đối với bị cáo Lại Thị H và xem xét có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm; không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Bá S và chị Nguyễn Thị N về giải quyết hậu quả của hợp đồng tín dụng; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/HSST ngày 15/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, cụ thể như sau:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt: Lại Thị H 15 (Mười lăm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 31/7/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lại Thị H phải bồi thường cho chị Nguyễn Thu H2 số tiền 7.000.000.000 đồng. Xác nhận gia đình bị cáo đã nộp số tiền 100.000.000 đồng theo Biên lai thu số 0001671 ngày 11/12/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị hại là chị Nguyễn Thu H2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Bá S, bà Nguyễn Thị N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Phương Hạnh |
Bản án số 420/2025/HS-PT ngày 13/10/2025 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 420/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tháng 6/2023 do cần tiền trả nợ và chi tiêu cá nhân, Lại Thị Hương đã có hành vi đưa ra các thông tin gian dối về việc mở chuỗi kinh doanh dịch vụ Spa và đầu tư mua đất tại tỉnh Bắc Giang để chị Nguyễn Thu Hà nhờ bố mẹ đẻ là ông Nguyễn Bá Sự và bà Nguyễn Thị Nụ ký hợp đồng vay Ngân hàng VPBank - Chi nhánh Bắc Ninh số tiền 7.000.000.000 đồng giải ngân vào tài khoản của Hương để chị Hà đầu tư chung với Hương. Ngày 22/6/2023 và 27/7/2023, sau khi được Ngân hàng VP Bank giải ngân số tiền 7.000.000.000 đồng, Hương chỉ sử dụng 600.000.000 đồng trả tiền lãi 06 tháng và tiền phí bảo hiểm của khoản vay này cho Ngân hàng VPBank; chuyển khoản 100.000.000 đồng cho chị Hà để đặt cọc thuê nhà; số tiền 6.300.000.000 đồng còn lại Hương đã chiếm đoạt sử dụng để trả nợ, trả lương cho nhân viên, trả tiền lãi cho các khoản vay khác và chi tiêu sinh hoạt cá nhân hết, không sử dụng bất kỳ khoản tiền nào để đầu tư mở chuỗi kinh doanh dịch vụ Spa và đầu tư mua đất. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lại Thị Hương về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự
