|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Bản án số: 420/2024/DS-PT | Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
| Ngày: 14-6-2024 | ——————— |
| V/v tranh chấp di sản thừa kế và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc
Các thẩm phán: Ông Lê Văn An
Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa
- Thư ký phiên tòa: ông Thân Văn Nhường – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Trần Đăng Ry – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 677/2023/TLPT- DS ngày 20 tháng 11 năm 2023 về việc “tranh chấp di sản thừa kế và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”; do Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2023/DS-PT ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa án ra xét xử số 1545/2024/QĐ-PT ngày 24 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Nguyễn Mỹ L, sinh năm 1953; cư trú tại: số E Hồ X, khu phố A, phường R, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Lê Văn B, sinh năm 1982; cư trú tại: 1 khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (là người đại diện theo hợp đồng ủy quyền ngày 02/3/2024 – có mặt).
- Bị đơn: ông Nguyễn Phú N, sinh năm 1964 (đã chết 17/01/2020).
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông N:
- Bà Huỳnh Kim T, sinh năm 1966 (có mặt);
- Ông Nguyễn Tuấn T1, sinh năm 1985 (có mặt);
- Ông Nguyễn Phúc H, sinh năm 1994 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Chị Nguyễn Thị Trúc P, sinh năm 2005 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Cùng cư trú tại: ấp R, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân huyện A, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện hợp pháp: ông Trương Minh B1 – Phó Trưởng phòng phụ trách Phòng T2 (là người đại diện theo giấy ủy quyền số 12/GUQ-UBND ngày 05/6/2024 của UBND huyện A – có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người kháng cáo: nguyên đơn bà Nguyễn Mỹ L.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Mỹ L trình bày:
Nguyên trước đây cha mẹ bà là ông Nguyễn Văn S (chết 1962) và bà Phan Kim H1 (chết 2009) trong thời gian chung sống có tạo lập được diện tích đất 20 công (tầm 3 mét) gồm: đất lá, đất ruộng, đất trồng dừa tọa lạc tại ấp R, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Nguồn gốc đất là do cha mẹ khai phá vào năm 1952, sau khi khai phá cha bà trồng dừa, làm ruộng trên phần diện tích đất trên, đến năm 1962 thì cha bà chết. Sau khi cha bà chết thì mẹ bà đến phường R, thành phố R, tỉnh Kiên Giang mua 01 căn nhà lá ở góc phố ngang 3 mét, dài 7 mét sống chung với 03 chị em bà.
Đến năm 1964, mẹ bà có chồng mới là ông Trương Văn D (đã chết) và sinh được 01 người con tên Nguyễn Phú N, sinh năm 1964 (lấy theo họ cha bà) và sinh sống tại căn nhà số D C, khu phố A, phường R, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Trong thời gian này bà và em gái Nguyễn Thị D1 mua 01 bãi rác trị giá 500 đồng tại địa chỉ 5 Hồ X, khu phố A, phường R, thành phố R, tỉnh Kiên Giang và hiện tại bà sinh sống cho đến nay. Sau đó mẹ bà ly hôn với ông Trương Văn D thì bán căn nhà số D C, khu phố A, phường R, thành phố R, tỉnh Kiên Giang và về sống chung với bà tại căn nhà số E Hồ X, khu phố A, phường R, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Đến năm 1976, mẹ bà cùng bà Nguyễn Thu D2 và ông Nguyễn Phú N về lại đất tại ấp R, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang sinh sống.
Đến năm 1979 bà D2 bị bệnh chết, bà L cùng mẹ của bà và ông N chung sống trong căn nhà trên, đến năm 1985 ông N đi nghĩa vụ, bà ở nhà chăm sóc mẹ, đến khi ông N về phát sinh mâu thuẫn với bà, vì vậy bà về ở lại về lại căn nhà số E Hồ X, khu phố A, phường R, thành phố R, tỉnh Kiên Giang cho đến nay.
Sau khi mẹ bà là bà Phan Kim H1 chết năm 2009 không để lại di chúc đối với phần đất tại ấp R, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Đến năm 2016 thì ông N được cấp GCNQSDĐ diện tích 6.839,9m² (diện tích thực tế còn lại do thời gian dài bị sạt lở ra biển). Cũng vào năm 2016, bà về lại địa phương xin đất xây nhà thì ông N không cho xây nhà và còn hành hung bà vì ông N nói phần diện tích đất là do ông ngoại Phan Ngọc S1 cho ông N nên không chịu chia.
Cha mẹ bà là ông Nguyễn Văn S (chết 1962) và bà Phan Kim H1 (chết 2009) sinh được 03 người con: Nguyễn Mỹ L, Nguyễn Thị D1, sinh năm 1955 (chết 1979 không có chồng con), Nguyễn Văn B2, sinh năm 1962 (chết năm 1964).
Bà Phan Thị Kim H2 chung sống với chồng mới là ông Trương Văn D (đã chết) và có 01 người con tên Nguyễn Phú N (là em cùng mẹ khác cha của bà L). Ngoài ra không còn người con nào khác.
Bà L thống nhất với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và chứng thư định giá để làm căn cứ giải quyết vụ án, không yêu cầu định giá lại.
Nay bà Nguyễn Mỹ L khởi kiện yêu cầu:
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 08356, diện tích 6.839,9m², thuộc thửa đất 234, tờ bản đồ 6 tọa lạc ấp R, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang do ông Nguyễn Phú N đứng tên.
- Công nhận phần đất diện tích 6.839,9m², thuộc thửa đất 234, tờ bản đồ 6, tọa lạc tại ấp R, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang là tài sản chung của ông Nguyễn Văn S và bà Phan Kim H2.
- Phân chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn S và bà Phan Kim H2 là diện tích đất 6.839,9m², thuộc thửa đất 234, tờ bản đồ 6, tọa lạc tại ấp R, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Bà và ông N mỗi người thừa hưởng diện tích đất 3.419,9m².
Ngoài ra bà L không có ý kiến trình bày hay yêu cầu gì thêm.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Nguyễn Phú Nghĩa 1 bà Huỳnh Kim T trình bày:
Trước đây ông ngoại của ông N (chồng bà) là ông Phan Văn S2 có cho mẹ ông Nghĩa là bà Phan Kim H2 diện tích đất 20 công đất (tầm 3 mét) vào năm 1950, đến năm 1956 thì ông ngoại của ông N chết. Thời gian này chiến tranh ác liệt nên nên bà H2 về Rạch S3 mua căn nhà ở trên đó vào năm 1960, đến năm 1975 khi hòa bình lập lại thì bà H2 về lại địa phương sinh sống cùng ông N và bà Nguyễn Thị Thu D3 khai thác trồng cây. Đến năm 1977 bà D3 chết, còn lại ông N và bà H2 sống cùng. Đến năm 1984 ông N có vợ con nên bà H2 cho ông N hết phần đất ông ngoại cho trước đây, lúc đó ông N có xin được làm GCNQSDĐ nhưng Nhà nước chưa có chủ trương cấp đất nên kéo dài đến khi mẹ ông Nghĩa là bà H2 chết năm 2009. Sau khi bà H2 mất, ông N đã cải tạo lại vườn trồng dừa, cau, làm lại vườn nuôi cá. Đến năm 2016 Nhà nước cho làm GCNQSDĐ, nên ông N đã kê khai đăng ký và được cấp GCNQSDĐ và ở ổn định trên đất trên từ 20 năm trở lên.
Bà T và ông N chung sống với nhau có 03 người con chung là: Nguyễn Tuấn T1, Nguyễn Phúc H, Nguyễn Thị Trúc P, ngoài ra không còn người con nào khác.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Phú Nghĩa 1 bà Huỳnh Kim T không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của bà Nguyễn
Mỹ L vì diện tích đất tranh chấp 6.839,9m², thuộc thửa đất 234, tờ bản đồ 6, tọa lạc tại ấp R, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang thì ông N đã được cấp GCNQSDĐ theo đúng quy định pháp luật, nên thuộc quyền sử dụng riêng của ông N, không phải là di sản thừa kế của bà Phan Kim H2.
Thống nhất với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và chứng thư định giá để làm căn cứ giải quyết vụ án, không yêu cầu định giá lại.
Ngoài ra bà T không trình bày hay yêu cầu gì thêm.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Nguyễn Phú Nghĩa 1 anh Nguyễn Tuấn T1, anh Nguyễn Phúc H, chị Nguyễn Thị Trúc P trình bày: đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện A, tỉnh Kiên Giang có ý kiến tại công văn số 390/UBND-NCPC ngày 21/7/2020 như sau:
- Diện tích đất tranh chấp được thể hiện theo hình 1-2-3-4-5-6-7-8 = 7.339,7m² đo đạc thực tế nằm ở thửa đất số 234, tờ bản đồ số 6 do ông Nguyễn Phú N đứng tên quyền sử dụng đất.
- UBND huyện A cấp GCNQSDĐ số BY 083581 ngày 24/02/2016 tại thửa 234, tờ bản đồ số 6, diện tích 6.893,9m² do tính toán sai, tọa lạc tại ấp R, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang theo hình thức công nhận quyền sử dụng đất, đúng trình tự, thủ tục, đúng đối tượng theo phiếu lấy ý kiến của khu dân cư được ấp, xã xác nhận ngày 03/12/2015.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 35/2023/DS-ST ngày 19/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang đã tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Mỹ L về việc “Tranh chấp di sản thừa kế” đối với người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Nguyễn Phú Nghĩa 1 bà Huỳnh Kim T, anh Nguyễn Tuấn T1, anh Nguyễn Phúc H, chị Nguyễn Thị Trúc P.
- Xác định diện tích đất 6.893,9m², đất tọa lạc tại ấp R, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn S và cụ Phan Kim H2 để lại.
- Công nhận cho người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Phú Nghĩa 1 bà Huỳnh Kim T, anh Nguyễn Tuấn T1, anh Nguyễn Phúc H, chị Nguyễn Thị Trúc P được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng theo quy định pháp luật về đất đai đối với diện tích đất theo giấy chứng nhận QSD đất là 6.893,9m² (đo đạc thực tế là 7.339,7m²) đất tọa lạc tại ấp R, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
Theo Tờ trích đo địa chính số: TĐ 60 – 2020 ngày 06/3/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện A, tỉnh Kiên Giang. Diện tích đất có số đo cụ thể:
- + Cạnh 1 – 2 = 81,30m: giáp sông Cái Lớn;
- + Cạnh 2 – 3 = 25,00m; 3 – 4 = 25,00m; 4 – 5 = 20,00m: giáp Miểu bà;
- + Cạnh 5 – 6 = 4,00m: giáp sông Cái Lớn;
- + Cạnh 6 – 7 = 55,50m: giáp bờ kênh của kênh dài;
- + Cạnh 7 – 8 = 94,70m: giáp bờ kênh của kênh đê quốc phòng;
- + Cạnh 8 – 1 = 111,51m: giáp đất Nguyễn Văn À.
- Buộc người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Phú Nghĩa 1 bà Huỳnh Kim T, anh Nguyễn Tuấn T1, anh Nguyễn Phúc H, chị Nguyễn Thị Trúc P trả cho bà Nguyễn Mỹ L giá trị phần di sản được chia 1.148,98m² với số tiền là 614.693.600 đồng.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Mỹ L về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 08356 diện tích: 6.839,9 m², thuộc thửa đất 234, tờ bản đồ 6 tọa lạc ấp R, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang do ông Nguyễn Phú N đứng tên.
- Về chi phí tố tụng:
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
Buộc nguyên đơn bà Nguyễn Mỹ L phải chịu ½ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ của số tiền 2.041.000 đồng là 1.020.500 đồng.
Buộc người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Phú Nghĩa 1 bà Huỳnh Kim T, anh Nguyễn Tuấn T1, anh Nguyễn Phúc H, chị Nguyễn Thị Trúc P phải chịu ½ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ của số tiền 2.041.000 đồng là 1.020.500 đồng.
Nguyên đơn bà Nguyễn Mỹ L đã nộp đủ số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 2.041.000 đồng theo hóa đơn GTGT số 0001018 ngày 12/5/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện A, tỉnh Kiên Giang nên buộc người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Phú Nghĩa 1 bà Huỳnh Kim T, anh Nguyễn Tuấn T1, anh Nguyễn Phúc H, chị Nguyễn Thị Trúc P phải hoàn trả cho nguyên đơn bà L số tiền 1.020.500 đồng.
- Về chi phí định giá tài sản:
Buộc nguyên đơn bà Nguyễn Mỹ L phải chịu ½ chi phí định giá tài sản số của tiền 13.178.992 đồng là 6.589.500 đồng.
Buộc người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Phú Nghĩa 1 bà Huỳnh Kim T, anh Nguyễn Tuấn T1, anh Nguyễn Phúc H, chị Nguyễn Thị Trúc P phải chịu ½ chi phí định giá tài sản số của tiền 13.178.992 đồng là 6.589.500 đồng.
Nguyên đơn bà Nguyễn Mỹ L đã nộp đủ số tiền chi phí định giá tài sản 13.178.992 đồng theo hóa đơn GTGT số 0000187 ngày 12/5/2021 của Công ty TNHH Đ nên buộc người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Phú Nghĩa 1 bà Huỳnh Kim T, anh Nguyễn Tuấn T1, anh Nguyễn Phúc H, chị Nguyễn Thị Trúc P phải hoàn trả cho nguyên đơn bà L số tiền 6.589.500 đồng.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
- Án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm: bà Nguyễn Mỹ L được miễn.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Lê Văn An | Nguyễn Thị Cúc |
| Nguyễn Thị Thúy Hòa |
Bản án số 420/2024/DS-PT ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp di sản thừa kế và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Số bản án: 420/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp di sản thừa kế và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà L kiện chia di sản của cha mẹ để lại
