TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY – HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:42/2024/HNGĐ - ST Ngày 31-7-2024 V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- + Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lưu Ngọc Hưng
- + Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Khắc Tuấn
- Bà Trần Thị Huệ
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lương Ngọc Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Minh Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 31/7/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thô lý 64/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 05 năm 2024, vÒ viÖc H«n nh©n gia ®×nh, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST- DS ngày 9/07/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1986
- - Bị đơn: Chị Trịnh Thị Kim C, sinh năm: 1986
- Đều có địa chỉ thường trú: Thôn C, xã Đ, thị xã S, Hà Nội.
- Chị C, anh Đ đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện, quá trình tố tụng tại Tòa án, anh Nguyễn Văn Đ là nguyên đơn trình bày:
Anh và chị Trịnh Thị Kim Chung kết h ngày 20/8/2008 có đăng ký tại UBND xã Đ, thị xã S. Sau kết hôn sống tại xã Đ, vợ chồng sống với nhau được một thời gian thì sau đó phát sinh mâu thuẫn từ năm 2020. Nguyên nhân do vợ chồng không hòa hợp trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, hay bất đồng quan điểm sống trong nhiều vấn đề, từ đó cuộc sống vợ chồng căng thẳng trầm trọng không thể hàn gắn được. Vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2020 cho đến nay, trong thời gian anh đi làm ăn xa và ly thân chị C có cho rằng anh ngoại tình, việc này là không đúng sự thực, anh khẳng định là không ngoại tình chỉ vì vợ chồng có mâu thuẫn nên không còn tình cảm. Khi mâu thuẫn diễn ra thì vợ chồng cùng đã được khuyên bảo, góp ý của gia đình nhưng mâu thuẫn vẫn còn, anh xác định tình cảm không còn nên xin được ly hôn chị C vì không thể hòa giải được.
Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Việt A, sinh ngày: 12/02/2009 và Nguyễn Hương L, sinh ngày: 24/7/2014. Hai con hiện đang ở cùng chị C. Hai con đều có nguyện vọng được ở cùng chị C anh Đ đồng ý. Chị C yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi hai con chung Nguyễn Việt A và cháu Nguyễn Hương L mỗi cháu là 5.000.000 đồng trên một tháng, anh Đ đồng ý. Về tài sản chung và công sức của vợ chồng anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung không có.
Chị C trình bày: Về thời gian kết hôn giữa chị và anh Nguyễn văn Đ1 đúng như anh Đ1 trình bày. Về mâu thuẫn vợ chồng thì chị xác định vợ chồng không có mâu thuẫn và cũng không có ly thân, chỉ có anh Đ1 đi làm ăn xa nhà thỉnh thoảng mới về một hai ngày rồi lại đi. Anh Đ1 khai là ly thân từ năm 2020 là không đúng, anh Đ1 đi làm ăn từ cuối năm 2021 tại Bắc Giang và ít khi về, khi về thì vợ chồng cũng có nói chuyện nhưng sinh hoạt vợ chồng thì không do anh Đ1 không muốn. Anh Đ1 có quan hệ ngoại tình, chị cũng không có chứng cứ cụ thể về việc này. Khi anh Đ1 có làm đơn ra tòa xin ly hôn thì gia đình cũng khuyên bảo, góp ý nhưng anh Đ1 đến hôm nay vẫn kiên quyết xin ly hôn không rút đơn. Chị C không đồng ý ly hôn anh Đ1.
Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Việt A, sinh ngày: 12/02/2009 và Nguyễn Hương L, sinh ngày: 24/7/2014. Hiện hai con đang ở cùng chị C, nếu phải ly hôn chị C xin được trực tiếp nuôi hai cháu Nguyễn Việt A và Nguyễn Hương L. Chị C yêu cầu anh Đ1 cấp dưỡng nuôi hai con mỗi cháu là 5.000.000 đồng trên một tháng. Về tài sản chung và công sức của vợ chồng chị không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Nợ chung không có.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành giao các thông báo, triệu tập nguyên đơn, bị đơn và tiến hành hòa giải nhưng không thống nhất được giải quyết vụ án. Anh Đ1 không đồng ý hòa giải đoàn tụ vẫn kiến quyết xin được ly hôn. Tòa án tiến hành xác minh thu thập chứng cứ tại địa phương nơi anh Đ1, chị C sau kết hôn chung sống cùng nhau, thì xác định, vợ chồng anh Đ1, chị C có mâu thuẫn, nhưng mâu thuẫn cụ thể của vợ chồng thì địa phương cũng không rõ chỉ biết là anh Đ1 không thường xuyên có mặt tại địa phương.
Gia đình anh Đ1 có nói là anh Đ1 có làm đơn xin ly hôn, gia đình cũng có hòa giải, góp ý nhưng hiện anh Đ1 vẫn kiên quyết xin ly hôn. Anh Đ1, chị C có 02 con chung như anh Đ1, chị C trình bày là đúng, hiện cháu đang ở cùng chị C và được chăm sóc, sinh hoạt, đi học bình thường. Anh Đ1 xin ly hôn Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội phát biểu ý kiến:
- Về việc thực hiện tố tụng của Toà án và các đương sự:
Quá trình tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Đ1, chị C đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin hôn của anh Nguyễn Văn Đ, anh Đ được ly hôn chị Trịnh Thị Kim C. Về con chung giao cho chị Trịnh Thị Kim C được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Việt A, sinh ngày: 12/02/2009 và Nguyễn Hương L, sinh ngày: 24/7/2014. Anh Đ cấp dưỡng nuôi hai con mỗi con là 5.000.000 đồng trên một tháng. Về tài sản chung và công sức của vợ chồng anh Đ, chị C đều không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Nợ chung không có. Anh Đ phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm, án phí cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà;
[1] Về pháp luật tố tụng: Tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo quy định tại khoản 1 điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án nhân dân nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[2]Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Đ và chị Trịnh Thị Kim Chung kết h tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn và thủ tục về kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, do đó quan hệ hôn nhân giữa anh Đ và chị C là hợp pháp.
Về mâu thuẫn vợ chồng anh Đ cho rằng vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2020. Nguyên nhân do vợ chồng không hòa hợp, hay bất đồng quan điểm sống trong nhiều vấn đề, từ đó cuộc sống vợ chồng căng thẳng trầm trọng không thể hàn gắn được. Vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2020 cho đến nay, thỉnh thoảng anh có về thăm nhà sau đó lại đi ngay. Anh khẳng định là không ngoại tình như chị C khai, chỉ vì vợ chồng có mâu thuẫn nên không còn tình cảm, nên không sinh hoạt vợ chồng.
Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng anh Đ, chị C là có thật và cũng đã diễn ra được một thời gian, vì vậy anh Đ mới làm đơn xin được ly hôn. Chị C cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn, tuy nhiên anh Đ làm đơn xin ly hôn, chị C và gia đình cũng có góp ý và khuyên bảo nhiều lần, hòa giải đoàn tụ cho vợ chồng nhưng anh Đ vẫn không đồng ý. Khi tiến hành giải quyết tại Tòa án, anh Đ vẫn khẳng định không thể tiếp tục chung sống quan hệ vợ chồng với chị C và kiên quyết xin ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cũng đã tiến hành xác minh tại địa phương của anh Đ và chị C, thì cũng xác định vợ chồng anh Đ, chị C có mâu thuẫn, nhưng mâu thuẫn cụ thể của vợ chồng thì địa phương cũng không rõ chỉ biết là anh Đ không thường xuyên có mặt tại địa phương và gia đình. Anh Đ có làm đơn xin ly hôn và gia đình cũng có hòa giải, góp ý nhưng hiện anh Đ vẫn xin ly hôn. Tòa án cũng đã tiến hành tiến hành hòa giải nhưng anh Đ không đồng ý hòa giải đoàn tụ vẫn kiên quyết xin ly hôn. Nhận thấy anh Đ và chị C cũng không có phương hướng cụ thể để hàn gắn tình cảm vợ chồng và về chung sống cùng nhau.
Từ những nhận định trên, có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa anh Đ và chị C đã đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bản thân anh Đ cũng không có mong muốn được đoàn tụ và kiên quyết xin được ly hôn. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đ.
[3]Về con chung: Anh Đ và chị C có hai con chung là Nguyễn Việt A, sinh ngày: 12/02/2009 và Nguyễn Hương L, sinh ngày: 24/7/2014.
Hội đồng xét xử xác định hiện tại cháu Nguyễn Việt A và Nguyễn Hương L đang ở cùng chị C được sinh hoạt, đi học, ở cùng cùng chị C ổn định. Hai con cũng có nguyện vọng được ở cùng chị C. Nếu phải ly hôn chị C xin được trực tiếp nuôi hai con và yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi hai con mỗi cháu là 5.000.000 đồng trên một tháng, hai cháu là 10.000.000 đồng. Anh Đ đồng ý để chị C được trực tiếp nuôi hai con và đồng ý cấp dưỡng nuôi hai con Nguyễn Việt A và Nguyễn Hương L mỗi cháu là 5.000.000 đồng trên một tháng, cho đến khi đủ 18 tuổi. Vì vậy nên giao cháu Nguyễn Việt A và cháu Nguyễn Hương L cho chị C được trực tiếp nuôi dưỡng.
[4]Về tài sản chung, công sức: Anh Đ và chị C đều xác nhận là không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]Về nợ chung: Anh Đ và chị C đều xác nhận là không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]Về án phí: Anh Đ phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm, án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1, khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 6, điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Văn Đ, anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn chị Trịnh Thị Kim C.
- Về con chung:
Giao cho chị Trịnh Thị Kim C được trực tiếp nuôi hai con chung là Nguyễn Việt A, sinh ngày: 12/02/2009 và Nguyễn Hương L, sinh ngày: 24/7/2014. Anh Nguyễn Văn Đ cấp dưỡng nuôi hai con Nguyễn Việt A và Nguyễn Hương L mỗi con là 5.000.000 đồng trên một tháng, cho đến khi đủ 18 tuổi, hoặc đến khi có quyết định về việc cấp dưỡng nuôi con khác. Anh Nguyễn Văn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Anh Đ và chị D đều xác nhận là không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Anh Nguyễn Văn Đ phải chịu toµn bén phÝ H«n_nh©n_gia ®×nh s¬thÈm lµ 300.000 đồng và án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng. Đối trừ số tiền 300.000 đồng, tạm ứng án phí anh Nguyễn Văn Đ đã nộp tại biên lai số 0000921, ngày 23/5/2024, tại Chi cục thi hành án thị xã Sơn Tây, Hà Nội. Anh Nguyễn Văn Đ tiếp tục phải nộp 300.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn Đ và chị Trịnh Thị Kim C, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được, hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
Lưu ý: Mục [5] Về nợ chung trong phần Quyết định được đặt sau Mục 3 theo cấu trúc của tài liệu gốc.
[5]Về nợ chung: Anh Đ và chị C đều xác nhận là không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lưu Ngọc H |
Bản án số 42/2024/HNGĐ - ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 42/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
