|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 42/2024/HS-ST Ngày 31 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Chi.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Mai Dung
Bà Nguyễn Thị Thu Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa:
Bà Phùng Bích Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 20 24 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Vi Đức T, sinh ngày 15/6/2000, tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vy Anh T1 (Vi Văn T2), sinh năm 1975 và bà Lê Thị Minh P, sinh năm 1978; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam kể từ ngày 27/3/2024 đến ngày 03/6/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh; Có mặt.
2. Nguyễn Trọng Q, sinh ngày 08/9/2005, tại huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu H, xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con Nguyễn Văn T3 (đã chết) và bà
Bùi Thúy T4, sinh năm 1986; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
- Nhân thân:
+ Tại bản án số 13/2024/HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Trọng Q 18 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 2 Điều 318 BLHS. Án phí 200.000 đồng;
+ Ngày 01/01/2024, Nguyễn Trọng Q bị Cơ quan CSĐT- Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh khởi tố bị can về tội Gây rối trật tự công cộng theo quy định tại Khoản 2 Điều 318 BLHS. Tại bản án số 137/2024/HS-ST ngày 11/6/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt Nguyễn Trọng Q 18 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt 18 tháng tù tại bản án số 13/2024/HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 05/01/2024.
Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam trong vụ án này.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 05/01/2024 trong vụ án Gây rối trật tự công cộng ở thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, chấp hành án theo Quyết định thi hành án số 251/2024/QĐ-CA ngày 16/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Hiện đang chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, được trích xuất để xét xử; Có mặt.
Bị hại: Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1989, địa chỉ: Khu A, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Phan Văn T5, sinh năm 1995, địa chỉ: Khu B, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Vắng mặt.
- - Lê Quang T6, ngày 09/4/2008, địa chỉ: Khu N, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật của anh T6: Bà Phùng Thị L, sinh năm 1986, địa chỉ: Khu N, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Vắng mặt.
- - Anh Lê Anh D, sinh ngày 27/8/2008, địa chỉ: Khu A, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật của anh D: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1988, địa chỉ: Khu A, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Vắng mặt.
- - Anh Trần Văn H1, sinh năm 1996, địa chỉ: Khu C, xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 25/11/2023, Công an xã H, thị xã P tiếp nhận đơn tố giác của anh Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1989, trú tại khu 14 xã P, thị xã P về việc tại quán của anh ở khu B xã H, thị xã P (trước đây sử dụng để bán hàng nhưng nay không kinh doanh nữa mà cho một số người ở nhờ) bị một số đối tượng đến đập phá cửa phòng ngủ và đánh anh Trần Văn H1 sinh năm 1996, trú tại xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ (là người đến chơi với bạn) nhưng anh H1 đỡ được nên không bị thương tích. Các tài sản bị hư hỏng trị giá khoảng 3.000.000 đồng. Công an xã H đã kiểm tra, thu giữ 04 chiếc gậy bằng tuýp sắt; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 34N6 - 8833; 01 cánh cửa bằng nhôm hệ kích thước (210x90)cm; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus màu hồng bị hư hỏng. Xét thấy vụ việc có dấu hiệu của tội phạm, Công an xã H đã chuyển tố giác trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã P để giải quyết theo thẩm quyền.
Sau khi tiếp nhận nguồn tin, Cơ quan CSĐT- Công an thị xã P tiến hành khám nghiệm hiện trường, rà soát, truy tìm vật chứng, thu giữ được thêm 02 chiếc tuýp sắt, 02 con dao quắm đồng thời tổ chức điều tra, xác minh, xác định toàn bộ nội dung vụ án như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 24/11/2023, Vi Đức T sinh năm 2000; Vi Hữu Q1 sinh năm 1995; Hà Minh Q2 sinh năm 2000 đều trú tại xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ và Nguyễn Việt A sinh năm 1999, trú tại khu D, xã S, thành phố V, tỉnh Phú Thọ sau khi ăn cơm, uống rượu thịt chó ở quán T, xã V, thị xã P đã rủ nhau đi hát karaoke ở quán V1 thuộc khu V, xã V, thị xã P. Tại quán hát, T thuê 03 nữ nhân viên rót bia, bấm bài hát trong đó có một người tên Lò Thị N, sinh năm 2005, tạm trú tại khu B, xã H, thị xã P. Trong lúc hát, T rủ N đi chơi nhưng N bảo phải hỏi ý kiến của Phan Văn T5, sinh năm 1995, trú tại khu B, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ. T mượn điện thoại của N gọi điện cho T5 để hỏi nhưng T5 không đồng ý nên giữa T và T5 xảy ra cãi chửi nhau. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, T ra về đến cửa quán thì bị một nam thanh niên không rõ danh tính dùng tay đánh vào mặt, dùng gậy sắt đánh vào tay, vào lưng nhưng không gây thương tích gì. T nghĩ việc mình bị đánh là do T5 nên cùng Q1, Q2, Việt A về huyện T rủ thêm người đi tìm đánh T5. T đã liên hệ với Vi Công S1 sinh ngày 09/9/2006 và Vi Đại Đ sinh năm 2000, đều trú tại xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Đỗ Quang H2 sinh năm 1997, trú tại khu G, xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nguyễn Mạnh T7 sinh năm 2000, trú khu D, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ và một người tên là T8 (thường gọi là T8 “cu” hiện chưa xác định được thông tin cụ thể) đến giúp. Mọi người đều đồng ý. Sau đó Vi Công S1 rủ thêm Vũ Huy L1 sinh năm 2001; Lưu Minh H3 sinh năm 1998; Vi Đ sinh năm 2000 đều trú tại xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nguyễn Trọng Q sinh năm 2005, trú tại khu H, xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Lê Quang T6 sinh ngày 09/4/2008, trú tại khu N, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Nguyễn Duy A1 sinh năm 2005; Lê Anh D sinh ngày 27/8/2008 và Đỗ Anh Đ1 sinh ngày 01/8/2008 đều trú tại xã X,
3
huyện L, tỉnh Phú Thọ để đi giúp T7. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, T7 gặp các đối tượng trên ở khu vực chợ L3 thuộc xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Nguyễn Trọng Q dẫn theo bạn là Phạm Ngọc V sinh năm 2005, trú tại khu I, xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Nguyễn Mạnh T7 đi xe ô tô taxi đến cùng bạn là Nguyễn Văn T9 sinh năm 2004, trú tại xã H, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Lúc này, Vi Đức T đi đến cửa hàng vật liệu xây dựng của gia đình chị Vi Thị Thúy H4, sinh năm 1993, trú tại khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ mua 02 đoạn ống tuýp bằng kim loại dài khoảng 6m và 02 con dao quắm rồi mang đến cửa hàng gò hàn của anh Vi Văn Thanh T10, sinh năm 1987, trú tại khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ để nhờ cắt thành 04 đoạn ống tuýp, mỗi đoạn có độ dài khoảng 1,5m. Do anh T10 bận nên T tự vào sử dụng máy để cắt. Sau khi chuẩn bị được hung khí, T mời mọi người uống bia ở quán gần đó và nói việc mâu thuẫn với Phan Văn T5 đồng thời nhờ mọi người cùng đi tìm đánh T5. Vũ Huy L1 nói thỉnh thoảng nhìn thấy T5 ở quán bia cũ của anh Nguyễn Ngọc S ở khu B, xã H, thị xã P. Nhóm của T gọi 03 chiếc xe taxi đến đón gồm: 01 chiếc xe nhãn hiệu Kia Morning BKS 19A-152.19 do anh Kiều Chí D1 sinh năm 1971, trú tại khu V, xã V, thị xã P điều khiển; 01 chiếc xe nhãn hiệu Huyndai Getz BKS 19A-042.99 do anh Vũ Ngọc G sinh năm 1968, trú tại khu A, xã V, thị xã P điều khiển và 01 chiếc xe nhãn hiệu Mazda Premacy loại 07 chỗ ngồi, BKS 19A-193.55 do anh Vi Tiến H5, sinh năm 1986, trú tại khu E, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ điều khiển. Số hung khí trên cất vào cốp xe ô tô taxi 07 chỗ. Cả nhóm chia nhau lên 3 xe taxi và xe Nguyễn Mạnh T7 đi đến từ trước để L1 dẫn đến quán bia cũ tìm T5. Khi đến nơi, 4 xe ô tô đỗ trước cổng Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên thị xã P cách quán bia cũ của anh S khoảng 15m. Mọi người xuống xe, lấy hung khí, riêng Nguyễn Duy A1 ngồi lại trên xe không tham gia. Vi Đức T, Vi Hữu Q1, Vi Đức L2, Đỗ Quang H2, Nguyễn Trọng Q, Lê Anh D, Đỗ Anh Đ1, Phạm Ngọc V mỗi người cầm 01 tuýp sắt; Vi Công S1, Vi Đ cầm dao quắm; Lê Quang T6 nhìn thấy 01 con dao quắm ở ven đường nên nhặt lấy cầm ở tay; T8 “cu” cầm theo 01 con dao quắm (do chưa triệu tập được T8 để làm việc nên chưa xác định được nguồn gốc con dao), Nguyễn Việt A nhặt một đoạn gậy gỗ dài khoảng 03m ở lề đường nhưng do nặng quá nên vứt bỏ. Tất cả đi bộ đến cạnh quán. Vũ Huy L1 nhặt một viên gạch ở lề đường ném vào vách tôn bên ngoài quán và hô “Chúng nó đây rồi, chúng nó lấy đồ ra kìa”. Nghe thấy vậy, nhóm của T cùng nhau chạy vào bên trong quán qua cửa phụ phía hông nhà. Vi Đ, Vi Hữu Q1 chạy sau thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS 34N6-8833 của anh T6 dựng ở trước cửa quán thì dùng dao quắm, tuýp sắt đập làm hư hỏng mặt ốp bằng nhựa phía trước xe, cánh yếm bên phải và tấm ốp nhựa ở bề mặt phần giữa thân xe.
Lúc này ở phòng ngủ trong quán có chị Triệu Thùy T11 sinh năm 2004 ở thôn T, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang (đang nằm ngủ); chị Nguyễn Ngọc Như Ý sinh năm 2004, trú tại thôn D, xã S, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; chị Trần Thu T12 sinh năm 2006, trú tại khu C, xã Á, huyện H, tỉnh Phú Thọ và 03 người bạn đến chơi gồm anh Trần Văn H1; anh Trần Thanh T13 sinh năm 2003, trú tại khu V, xã V, thị xã P và anh Nguyễn Hồng S2 sinh năm 1996, trú tại khu E, xã H, thị xã P. Thấy nhóm của T cầm hung khí
4
xông về phía quán, chị T12 bỏ chạy vào trong bếp, chị Như Ý cùng mọi người chạy vào phòng ngủ, đóng cửa lại. Lúc này, Vi Đức T, Nguyễn Trọng Q, T8 “cu”, Lê Quang T6, Lê Anh D xông đến dùng tuýp sắt, dao quắm đập, dùng chân đạp cánh cửa phòng ngủ làm các thanh nhôm bung rời khỏi vị trí ban đầu và xông vào phòng, Nguyễn Trọng Q và Vi Đức L2 dùng tuýp sắt vụt về phía anh Trần Văn H1 nhưng anh H1 cầm một chiếc ghế nhựa đỡ được nên không bị thương tích gì. Trong lúc lộn xộn, anh H1 bị rơi, hư hỏng 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus màu hồng. T không nhìn thấy T6 ở trong phòng nên bảo dừng lại không đánh nữa. Ở bên ngoài, anh Kiều Chí D1 và anh Vũ Ngọc G thấy nhóm thanh niên mình vừa chở đến cầm hung khí lao vào trong quán nên hô “Công an đến” để ngăn chặn đánh nhau. Do không tìm được Phan Văn T5 lại nghe thấy có người hô Công an đến nên nhóm của T chạy ra, vứt bỏ lại hung khí ở bên đường rồi lên xe taxi đi về.
Cơ quan CSĐT- Công an thị xã P đã Yêu cầu định giá đối với các tài sản bị hư hỏng làm căn cứ xử lý. Tại bản kết luận định giá tài sản số 03 ngày 16/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã P kết luận: 01 cánh cửa bằng nhôm hệ, kích thước (210x90)cm giá trị thiệt hại 2.217.000 đồng (hai triệu hai trăm mười bảy nghìn đồng); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 34N6-8833 giá trị thiệt hại 370.000 đồng (ba trăm bảy mươi nghìn đồng); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus giá trị thiệt hại 2.233.000 đồng (hai triệu hai trăm ba mươi ba nghìn đồng).
Xét thấy hành vi của các đối tượng Vi Đức T, Nguyễn Trọng Q, T8 “cu”, Lê Quang T6, Lê Anh D dùng dao quắm, tuýp sắp đập, dùng chân đạp làm hư hỏng cánh cửa nhôm hệ, thiệt hại 2.217.000 đồng của anh Nguyễn Ngọc S có dấu hiệu của tội phạm nên ngày 27/3/2024, Cơ quan CSĐT- Công an thị xã P đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Vi Đức T, Nguyễn Trọng Q về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Đối với Lê Quang T6 sinh ngày 09/4/2008, tính đến thời điểm thực hiện hành vi là 15 tuổi 07 tháng 15 ngày; Lê Anh D sinh ngày 27/8/2008, tính đến thời điểm thực hiện hành vi là 15 tuổi 02 tháng 28 ngày đều chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm quy định tại Khoản 1 Điều 178 BLHS. Vì vậy, hành vi của T6, D không cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, cơ quan điều tra không xử lý về hình sự là đúng quy định.
5
Đối với đối tượng có tên T8 “cu” chưa làm rõ được thông tin, lai lịch, chưa triệu trập được nên chưa đề cập xử lý khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Tại cơ quan điều tra, Vi Đức T, Nguyễn Trọng Q cùng Lê Quang T6, Lê Anh Dvà các đối tượng có liên quan đều khai nhận toàn bộ nội dung sự việc như đã nêu trên.
Đối với Vi Hữu Q1, Vi Đại Đ có hành vi dùng tuýp sắt và dao quắm đập làm hư hỏng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 34N6-8833 của anh T6 gây thiệt hại 370.000 đồng. Quá trình điều tra xác định do hai đối tượng tự thực hiện, không có sự
bàn bạc, thống nhất với những người khác. Xác minh nhân thân của Q1, Đ đều chưa có tiền án, tiền sự về hành vi hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản. Ngày 29/5/2024, Công an thị xã P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản quy định tại Điểm a, Khoản 2 Điều 15 Nghị định 144/NĐ-CP của Chính P1, hình thức phạt tiền, mức phạt 4.000.000 đồng/1 người.
Đối với Nguyễn Trọng Q và Vi Đức L2 có hành vi dùng tuýp sắt đánh anh Trần Văn H1 nhưng anh H1 không bị thương tích do dùng ghế nhựa đỡ được. Ngày 29/5/2024, Công an thị xã P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính Q, L2 về hành vi “Cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” theo quy định tại Điểm a, Khoản 5, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính P1; hình thức phạt tiền, mức phạt 3.250.000 đồng đối với Q và 6.500.000 đồng đối với L2.
Đối với Đỗ Quang H2, Đỗ Anh Đ1, Phạm Ngọc V, Vi Công S1, Vũ Huy L1, Nguyễn Việt A, Lê Anh D, Lê Quang T6 có hành vi mang theo tuýp sắt, gậy gỗ, gạch nhằm mục đích đánh nhau gây thương tích. Ngày 29/5/2024, Công an thị xã P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính các đối tượng về hành vi “Mang theo trong người các loại công cụ có khả năng sát thương nhằm mục đích cố ý gây thương tích cho người khác” quy định tại Điểm b, Khoản 4, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính Phủ với các hình thức xử phạt cụ thể như sau: Phạt cảnh cáo đối với Đỗ Anh Đ1, Lê Quang T6 và Lê Anh D; Phạt tiền 4.000.000đồng/người đối với Đỗ Quang H2, Vũ Huy L1, Nguyễn Việt A; Phạt tiền 2.000.000 đồng đối với Phạm Ngọc V và 2.250.000 đồng đối với Vi Công S1.
Đối với Nguyễn Mạnh T7, Nguyễn Văn T9, Nguyễn Duy A1, Hà Minh Q2, Lưu Minh H3 quá trình xảy ra sự việc không cầm theo hung khí, không tham gia đánh nhau, đập phá tài sản. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý mà nhắc nhở, giáo dục.
Đối với anh Kiều Chí D1, Vũ Ngọc G và Vi Tiến H5 là lái xe taxi, không biết mục đích, không bàn bạc trao đổi, không tham gia hỗ trợ cho nhóm của Vi Đức T đi đánh nhau, đập phá tài sản, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Đối với việc Vi Đức T bị một nam thanh niên không rõ danh tính dùng gậy sắt đánh trước cửa quán V1 nhưng T không bị thương tích, không yêu cầu đề nghị gì nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Cáo trạng số 42/CT- VKSTXPT ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ đã truy tố Vi Đức T, Nguyễn Trọng Q về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo đều trình bày và thừa nhận hành vi:
6
Khoảng 22 giờ ngày 24/11/2023, tại quán bia cũ của anh Nguyễn Ngọc S ở khu B, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (quán không còn kinh doanh từ đầu tháng 6/2023); Vi Đức T và Nguyễn Trọng Q cùng các đối tượng Lê Quang T6 sinh ngày 09/4/2008, Lê Anh D sinh ngày 27/8/2008 và đối tượng có tên T8 "cu” đã dùng tuýp sắt, dao quắm đập phá, dùng chân đạp làm hư hỏng 01 cánh cửa phòng ngủ trong quán làm bằng nhôm hệ của anh S. Trị giá tài sản hư hỏng là 2.217.000 đồng (Hai triệu hai trăm mười bảy nghìn đồng).
Lúc xảy ra sự việc đã muộn, về đêm nên không có ai ra xem, các hộ dân đều đóng cửa, các bị cáo cùng các đối tượng không hò hét, không dồn đuổi nhau ở ngoài đường. Các bị cáo không bàn bạc gì với các đối tượng về việc đập phá tài sản của anh Nguyễn Ngọc S, vì nghĩ anh Phan Văn T5 trong phòng ngủ nên các bị cáo đập cửa vào để đánh anh Phan Văn T5. Việc Vi Đại Đ và Vi Hữu Q1 đập xe mô tô của anh Phan Văn T5 ở ngoài cửa quán thì các bị cáo không biết. Sau khi không tìm thấy anh Phan Văn T5 tại quán bia cũ thì các bị cáo cùng các đối tượng không có ý định tìm anh T5 để đánh nữa, nên các bị cáo và mọi người đã vứt hết các hung khí mang theo ở ngoài quán bia cũ và lên xe đi về.
Bị cáo Vi Đức T trình bày bổ sung: Bị cáo tự nguyện chịu toàn bộ nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, bao gồm trị giá tài sản bị hư hỏng và tự nguyện chịu chi phí tiền công lắp đặt phát sinh, tổng số tiền là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) cho bị hại là anh Nguyễn Ngọc S, theo thoả thuận giữa hai bên. Ngày 03/7/2024, anh Nguyễn Ngọc S đã được nhận đủ của bị cáo số tiền là 3.000.000 đồng, anh Nguyễn Ngọc S không yêu cầu đề nghị gì khác và viết Đơn xin giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Trọng Q nhất trí với lời khai của bị cáo Vi Đức T và không trình bày gì thêm.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Vi Đức T và Nguyễn Trọng Q phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự; Xử phạt Vi Đức T từ 27 đến 30 tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ 69 ngày tạm giam kể từ ngày 27/3/2024 đến ngày 03/6/2024 bằng 207 ngày cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo Vi Đức T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát giáo dục người đó. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Vi Đức T. Bị cáo Vi Đức T phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật hình sự và thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì áp dụng theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vi Đức T.
7
Áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự; Xử phạt Nguyễn Trọng Q từ 12 đến 15 tháng tù.
Tổng hợp với hình phạt 36 (Ba mươi sáu) tháng tù của bản án số 137/2024/HS-ST ngày 11/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt Nguyễn Trọng Q 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, tổng hợp với hình phạt 18 (Mười tám) tháng tù tại bản án số 13/2024/HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Buộc Nguyễn Trọng Q phải chấp hành hình phạt chung là từ 48 đến 51 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 05/01/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Trọng Q.
Về bồi thường thiệt hại, vấn đề dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, Điều 47, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Xác nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã trả lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus cho anh Trần Văn H1 theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 27/3/2024.
Trả lại cho anh Phan Văn T5 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 34N6-8833.
Trả lại cho anh Nguyễn Ngọc S 01 cánh cửa bằng nhôm hệ, kích thước (210x90)cm.
Tịch thu để tiêu huỷ: 06 chiếc tuýp sắt và 02 con dao quắm.
Xác nhận ngày 03/7/2024, bị cáo Vi Đức T đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại là anh Nguyễn Ngọc S, bao gồm trị giá tài sản bị hư hỏng và chi phí tiền công lắp đặt phát sinh, tổng số tiền là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Anh Nguyễn Ngọc S không yêu cầu đề nghị gì khác.
Trả lại cho bị cáo Vi Đức T số tiền là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai số 0004260 ngày 25/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quá trình tranh luận các bị cáo đều nhất trí với tội danh, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà đại diện Viện kiểm sát đưa ra.
Các bị cáo không có tranh luận gì khác.
Lời nói sau cùng, các bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự, các bị cáo đều xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
8
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa. Do vậy có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 22 giờ ngày 24/11/2023, tại quán bia cũ của anh Nguyễn Ngọc S ở khu B, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (quán không còn kinh doanh từ đầu tháng 6/2023); Các bị cáo Vi Đức T và Nguyễn Trọng Q cùng các đối tượng Lê Quang T6 sinh ngày 09/4/2008, Lê Anh D sinh ngày 27/8/2008 và đối tượng có tên T8 "cu” đã dùng tuýp sắt, dao quắm đập phá, dùng chân đạp làm hư hỏng 01 cánh cửa phòng ngủ trong quán làm bằng nhôm hệ của anh S. Trị giá tài sản hư hỏng là 2.217.000 đồng (Hai triệu hai trăm mười bảy nghìn đồng).
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành.
Vì vậy có cơ sở và căn cứ pháp lý kết luận các bị cáo phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ truy tố các bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo cần phải xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự để giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân, các bị cáo đều không có tiền án, không có tiền sự; bị cáo Nguyễn Trọng Q có nhân thân đã bị 02 lần kết án như đã nêu trên.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại Nguyễn Ngọc S. Bị hại Nguyễn Ngọc S có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.
Về tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự:
Ngày 26/4/2024, Nguyễn Trọng Q bị Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xử phạt 18 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Ngày 11/6/2024, Nguyễn Trọng Q bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 18 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Các bản án đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, ngày 24/11/2023 khi thực hiện hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của
9
anh Nguyễn Ngọc S, Q chưa bị kết án nên các bản án trên không tính là tiền án đối với Q.
Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về điều kiện kinh tế: Các bị cáo đều là lao động tự do, công việc và thu nhập không ổn định; sống chung với bố mẹ, không có tài sản riêng gì có giá trị.
Với các tình tiết nêu trên, áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ trong khung hình phạt và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Vi Đức T.
Áp dụng hình phạt tù trong khung hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Trọng Q, buộc bị cáo Nguyễn Trọng Q phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ trong một thời gian, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo, do các bị cáo không có tài sản gì có giá trị.
[3] Về bồi thường thiệt hại, vấn đề dân sự và xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus cho anh Trần Văn H1 là phù hợp được xác nhận.
01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 34N6-8833 của Phan Văn T5 được trả lại cho anh T5;
01 cánh cửa bằng nhôm hệ, kích thước (210x90)cm của anh Nguyễn Ngọc S được trả lại cho anh Nguyễn Ngọc S;
06 chiếc tuýp sắt và 02 con dao quắm là công cụ phương tiện phạm tội và vi phạm pháp luật được tịch thu để tiêu huỷ.
Đối với chiếc xe mô tô của anh Phan Văn T5 bị hư hỏng, thiệt hại 370.000 đồng, anh T5 tự khắc phục không yêu cầu, đề nghị các đối tượng phải bồi thường nên không đề cập giải quyết. Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 6s P, anh Trần Văn H1 xác định rơi trong lúc lộn xộn không yêu cầu, đề nghị gì nên không giải quyết, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã trả lại cho anh H1 được xác nhận.
Anh Nguyễn Ngọc S yêu cầu các đối tượng phải bồi thường do cánh cửa nhôm hệ bị hư hỏng.
Bị cáo Vi Đức T tự nguyện chịu toàn bộ nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, bao gồm trị giá tài sản bị hư hỏng và tự nguyện chịu chi phí tiền công lắp đặt phát sinh, tổng số tiền là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) cho bị hại là anh Nguyễn Ngọc S, theo thoả thuận giữa hai bên.
10
Ngày 03/7/2024, anh Nguyễn Ngọc S đã được nhận đủ của bị cáo số tiền là 3.000.000 đồng, anh Nguyễn Ngọc S không yêu cầu đề nghị gì khác và viết Đơn xin giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo được xác nhận.
Đối với số tiền bị cáo Vi Đức T đã nộp là 2.500.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ để khắc phục hậu quả nhưng bị cáo Vi Đức T đã bồi thường đầy đủ cho bị hại, bị hại không yêu cầu đề nghị gì khác nên trả lại cho bị cáo Vi Đức T 2.500.000 đồng mà bị cáo đã nộp.
[4] Về án phí:
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Trong vụ án này, Lê Quang T6 và Lê Anh D cùng hai bị cáo dùng dao quắm, tuýp sắt đập phá làm hư hỏng cánh cửa phòng ngủ của anh Nguyễn Ngọc S. Tuy nhiên Lê Quang T6 và Lê Anh D đều là người dưới 16 tuổi, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm quy định tại Khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự nên Cơ quan điều tra không xử lý T6, D về hình sự là đúng quy định của pháp luật. Đối tượng có tên T8 “cu” hiện chưa xác định được thông tin, lai lịch, Cơ quan điều tra chưa triệu tập được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với Vi Hữu Q1, Vi Đại Đ dùng tuýp sắt và dao quắm đập làm hư hỏng chiếc xe mô tô của anh T6 gây thiệt hại 370.000 đồng, Cơ quan Công an thị xã P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản; Đối với Nguyễn Trọng Q, Vi Đức L2 có hành vi dùng tuýp sắt đánh anh Trần Văn H1 nhưng anh H1 không bị thương tích do dùng ghế nhựa đỡ được, Công an thị xã P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính Q, L2 về hành vi Cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự; Đối với Đỗ Quang H2, Đỗ Anh Đ1, Phạm Ngọc V, Vi Công S1, Vũ Huy L1, Nguyễn Việt A, Lê Anh D, Lê Quang T6 có hành vi mang theo tuýp sắt, gậy gỗ, gạch nhằm mục đích đánh nhau gây thương tích, Công an thị xã P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính các đối tượng về hành vi Mang theo trong người các loại công cụ có khả năng sát thương nhằm mục đích cố ý gây thương tích cho người khác là đúng quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Mạnh T7, Nguyễn Văn T9, Nguyễn Duy A1, Hà Minh Q2, Lưu Minh H3 có đi cùng cả nhóm nhưng không cầm theo hung khí, không tham gia đánh nhau, không đập phá tài sản; Đối với anh Kiều Chí D1, Vũ Ngọc G và Vi Tiến H5 là lái xe taxi không bàn bạc trao đổi, không biết mục đích chở người đi đánh nhau, khi sự việc xảy ra đã có lời nói nhằm mục đích ngăn cản. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý mà nhắc nhở, rút kinh nghiệm là phù hợp.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã triệu tập nhiều lần nhưng hai đối tượng Vũ Huy L1 và Nguyễn Văn T9 không đến làm việc. Căn cứ lời khai của các đối tượng khác và các tài liệu thu thập có đủ cơ sở kết luận về hành vi của L1, T9. Cơ quan công
11
an ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Vũ Huy L1 và nhắc nhở đối với T9 là phù hợp.
Trước khi sự việc xảy ra, các đối tượng hẹn gặp nhau ở xã Đ, huyện T sau đó thuê xe ô tô taxi mang theo hung khí về thị xã P tìm đánh Phan Văn T5. Khi đến nơi, một số đối tượng đã đập phá làm hư hỏng tài sản của anh T5, anh Nguyễn Ngọc S, đánh anh Trần Văn H1. Sự việc tại khu B, xã H, thị xã P nêu trên diễn ra trong khoảng thời gian ngắn. Các đối tượng không dồn đuổi nhau ngoài đường, không la hét, chửi bới mà khi xuống xe chạy luôn đến cửa phụ quán của anh S. Chiếc xe máy của T5 dựng trước cửa phụ này, hai đối tượng Q, Đ1 chạy qua vung tuýp sắt, dao quắm chém 01 nhát rồi chạy vào trong quán luôn. Việc phá cửa phòng ngủ diễn ra bên trong quán. Mặt khác, sự việc xảy ra lúc hơn 22 giờ, các hộ dân xung quanh đã đi ngủ, khu vực đó có Trung tâm giáo dục nghề nghiệp- giáo dục thường xuyên thị xã P nhưng không có người ở và đã hết giờ làm việc không gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các cơ quan và người dân sinh sống xung quanh. Từ khi xảy ra sự việc đến nay, cơ quan điều tra cũng không nhận được đơn thư phản ánh của quần chúng nhân dân cũng như các cơ quan, tổ chức nào. Kết quả xác minh nhân thân các đối tượng đều chưa bị xử lý hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng hoặc đã bị kết án về tội gây rối trật tự công cộng mà chưa được xóa án tích. Do đó, hành vi của các đối tượng chưa cấu thành tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại Điều 318 Bộ luật hình sự. Cơ quan điều tra không xử lý các đối tượng về tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại Điều 318 Bộ luật hình sự mà xử phạt về các hành vi vi phạm hành chính là phù hợp.
Đối với Vi Đức T có hành vi chuẩn bị tuýp sắt, dao quắm và rủ các đối tượng khác mục đích đánh gây thương tích cho anh Phan Văn T5. Tuy nhiên khi đến quán bia cũ của anh Nguyễn Ngọc S (các đối tượng nghĩ T5 ở đó) thì không gặp T5. Vị Đức T đã cùng Nguyễn Trọng Q, T8 “cu”, Lê Anh D, Lê Quang T6 dùng tuýp sắt, dao quắm đập phá làm hư hỏng cánh cửa phòng ngủ trong quán. Nguyễn Trọng Q, Vi Đức L2 dùng tuýp sắt đánh anh Trần Văn H1. Vi Hữu Q1, Vi Đại Đ dùng tuýp sắt, dao quắm đập làm hư hỏng xe mô tô của anh T6. Cơ quan điều tra đã khởi tố điều tra đối với Vi Đức T và đồng phạm về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản mà không xử lý về hành vi chuẩn bị hung khí nguy hiểm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vi Đức T;
Khoản 1 Điều 178, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Trọng Q;
12
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vi Đức T và Nguyễn Trọng Q phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Xử phạt Vi Đức T 30 (Ba mươi) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ 69 (Sáu mươi chín) ngày tạm giam kể từ ngày 27/3/2024 đến ngày 03/6/2024 bằng 06 (Sáu) tháng 27 (Hai mươi bảy) ngày cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo Vi Đức T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát giáo dục người đó. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Vi Đức T. Bị cáo Vi Đức T phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật hình sự và thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì áp dụng theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vi Đức T.
Xử phạt Nguyễn Trọng Q 12 (Mười hai) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 36 (Ba mươi sáu) tháng tù của bản án số 137/2024/HS-ST ngày 11/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt Nguyễn Trọng Q 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng ”, tổng hợp với hình phạt 18 (Mười tám) tháng tù tại bản án số 13/2024/HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Buộc Nguyễn Trọng Q phải chấp hành hình phạt chung là 48 (Bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 05/01/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Trọng Q.
2. Về bồi thường thiệt hại, vấn đề dân sự và xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Xác nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã trả lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus cho anh Trần Văn H1 theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 27/3/2024.
Trả lại cho anh Phan Văn T5 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 34N6-8833.
Trả lại cho anh Nguyễn Ngọc S 01 cánh cửa bằng nhôm hệ, kích thước (210x90)cm.
Tịch thu để tiêu huỷ: 06 chiếc tuýp sắt và 02 con dao quắm.
Xác nhận ngày 03/7/2024, bị cáo Vi Đức T đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại là anh Nguyễn Ngọc S, bao gồm trị giá tài sản bị hư hỏng và chi phí tiền công lắp
13
phát sinh, tổng số tiền là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Anh Nguyễn Ngọc S không yêu cầu đề nghị gì khác.
Trả lại cho bị cáo Vi Đức T số tiền là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai số 0004260 ngày 25/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ.
(Vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ ngày 18/6/2024).
3. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết của Ủy ban thường vụ quốc hội số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016.
Các bị cáo Vi Đức T và Nguyễn Trọng Q mỗi người phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Chi |
14
Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ về cố ý làm hư hỏng tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 42/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý làm hư hỏng tài sản
