Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN AN

TỈNH LONG AN

Bản án số: 42/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31-7-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Nhung

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Nghiêm
  2. Ông Nguyễn Văn Sở

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Phương Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An tham gia phiên tòa: Bà Lý Kiều Phương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 183/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mộng T, sinh năm 1983
  • Địa chỉ: Số C Ấp A, xã H, thành phố T, tỉnh Long An.
  • - Bị đơn: Ông Trịnh Văn N, sinh năm 1985
  • Địa chỉ: Số C Ấp A, xã H, thành phố T, tỉnh Long An.
  • (Nguyên đơn, bị đơn có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 11 tháng 02 năm 2024, các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng và tại phiên toà, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mộng T trình bày:

Bà và ông Trịnh Văn N kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố T, tỉnh Long An vào năm 2005. Trong thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, ông N thường xuyên đi nhậu về kiếm cớ chửi và đánh vợ con. Năm 2016 bà có nộp đơn ly hôn nhưng do ông N hứa sửa đổi tính tình nên bà đã đồng ý rút đơn khởi kiện ly hôn để vợ chồng hàn gắn tình cảm. Tuy nhiên, sau đó ông N vẫn không sửa đổi tính tình. Ngày 03/5/2024 ông N đi đám tiệc về kiếm chuyện đánh bà và con. Đến ngày 04 và 05/5/2024, ông N tiếp tục chửi vợ con với lời lẽ thô tục và chửi luôn mẹ ruột của bà. Vợ chồng sống chung nhà nhưng không phát sinh quan hệ vợ chồng từ tháng 5/2024 đến nay. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Trịnh Văn N.

Về con chung: có 03 con chung tên Trịnh Thảo V, sinh ngày 26/3/2005 (đã thành niên), Trịnh Thị Như Ý, sinh ngày 30/12/2006 và Trịnh Ngọc Bảo Y, sinh ngày 08/7/2019. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung chưa thành niên tên Trịnh Thị Như Ý, sinh ngày 30/12/2006 và Trịnh Ngọc Bảo Y, sinh ngày 08/7/2019, không yêu cầu ông Trịnh Văn N cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết

Nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong Biên bản ghi lời khai ngày 11/6/2024 và tại phiên toà, bị đơn ông Trịnh Văn N trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị Mộng T về thời gian kết hôn. Ông và bà Nguyễn Thị Mộng T kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố T, tỉnh Long An vào năm 2005. Cuộc sống vợ chồng giữa ông và bà T có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm do ông có đi nhậu về có nóng tính nên có chửi bà T và có đánh bà T một bạt tay. Nay ông nhận thấy còn thương vợ con nên không đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị Mộng T.

Về con chung: vợ chồng có 03 con chung tên Trịnh Thảo V, sinh ngày 26/3/2005 (đã thành niên), Trịnh Thị Như Ý, sinh ngày 30/12/2006 và Trịnh Ngọc Bảo Y, sinh ngày 08/7/2019. Trường hợp Toà án cho ông và bà T ly hôn thì ông đồng ý giao hai con chung chưa thành niên tên Trịnh Thị Như Ý và Trịnh Ngọc Bảo Y cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con chung do bà T không có yêu cầu.

Tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết

Nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát cho rằng:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của các đương sự, việc xác định thẩm quyền, tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ của Tòa án từ khi thụ lý và trong quá trình xét xử tại phiên tòa đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Về nội dung: Theo lời khai của nguyên đơn, bị đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện hôn nhân giữa bà T và ông N là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian chung sống cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, ông N thường xuyên đi nhậu về kiếm cớ khiến vợ chồng cãi vã. Từ tháng 5 năm 2024 bà T và ông N sống chung nhà nhưng không phát sinh quan hệ vợ chồng. Bà T yêu cầu ly hôn với ông N còn ông N không đồng ý ly hôn và muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, ông N thừa nhận lời trình bày của bà T về mâu thuẫn vợ chồng, điều này đồng nghĩa với việc ông không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người chồng. Mặt khác, ông không có biện pháp hữu hiệu để hàn gắn tình cảm vợ chồng trong khi bà T vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn. Do đó, có cơ sở xác định hôn nhân giữa ông N và bà T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, cho bà T ly hôn với ông N.

Về con chung: Bà T và ông N có 03 con chung tên Trịnh Thảo V, sinh ngày 26/3/2005, Trịnh Thị Như Ý, sinh ngày 30/12/2006 và Trịnh Ngọc Bảo Y, sinh ngày 08/7/2019. Con chung tên Trịnh Thảo V, sinh ngày 26/3/2005 đã thành niên nên không đề cập đến. Tại biên bản lấy ý kiến con chung ngày 10/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, cháu Trịnh Thị Như Ý có nguyện vọng muốn sống với mẹ. Đồng thời, ông N có ý kiến trong trường hợp Toà án cho ông và bà T ly hôn thì ông đồng ý giao hai con chung tên Trịnh Thị Như Ý và Trịnh Ngọc Bảo Y cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, đây là ý kiến tự nguyện của ông N. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà Nguyễn Thị Mộng T, giao hai cháu Trịnh Thị Như Ý và Trịnh Ngọc Bảo Y cho bà Nguyễn Thị Mộng T trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, ông N không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do bà T không có yeu cầu. Tài sản chung, nợ chung: bà T và ông N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Bà Nguyễn Thị Mộng T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị Mộng T có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trịnh Văn N có địa chỉ cư trú tại Số C Ấp A, xã H, thành phố T, tỉnh Long An. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An theo thủ tục sơ thẩm.

[2] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Căn cứ vào Điều 203, Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mộng T và ông Trịnh Văn N có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã H, thành phố T, tỉnh Long An cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 23 tháng 02 năm 2005 nên là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Sau khi kết hôn, bà T và ông N chung sống hạnh phúc được thời gian đầu và có 03 con chung. Sau đó vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và do ông N thường xuyên đi nhậu về chửi và đánh vợ con khiến vợ chồng cãi vã. Năm 2016 bà T từng nộp đơn ly hôn nhưng do ông N hứa sửa đổi tính tình nên bà đã đồng ý rút đơn khởi kiện ly hôn để vợ chồng hàn gắn tình cảm. Tuy nhiên, ông N vẫn không sửa đổi tính tình khiến tình cảm vợ chồng không hàn gắn được dẫn đến hôn nhân giữa bà T và ông N không hạnh phúc. Từ khi bà T nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn đến nay, ông N không có biện pháp hữu hiệu để hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà T trong khi bà T vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn với ông N. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông N đã trầm trọng và kéo dài nhiều năm không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T, cho bà T được ly hôn với ông N là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Bà T và ông N có 03 con chung tên Trịnh Thảo V, sinh ngày 26/3/2005, Trịnh Thị Như Ý, sinh ngày 30/12/2006 và Trịnh Ngọc Bảo Y, sinh ngày 08/7/2019. Con chung tên Trịnh Thảo V, sinh ngày 26/3/2005 đã thành niên nên không đề cập đến. Tại biên bản lấy ý kiến con chung ngày 10/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, cháu Trịnh Thị Như Ý có nguyện vọng muốn sống với mẹ. Đồng thời, ông N có ý kiến trong trường hợp Toà án cho ông và bà T ly hôn thì ông đồng ý giao hai con chung tên Trịnh Thị Như Ý và Trịnh Ngọc Bảo Y cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, đây là ý kiến tự nguyện của ông N. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà Nguyễn Thị Mộng T là phù hợp. Giao hai cháu Trịnh Thị Như Ý và Trịnh Ngọc Bảo Y cho bà Nguyễn Thị Mộng T trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Mộng T không yêu cầu ông Trịnh Văn N cấp dưỡng nuôi con.

Trong trường hợp sau khi ly hôn các đương sự có tranh chấp về người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: bà T và ông N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.

[6] Về ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ.

[7] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Mộng T có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Mộng T, cho bà Nguyễn Thị Mộng T được ly hôn với ông Trịnh Văn N.
  2. Về con chung: Giao hai con chung chưa thành niên tên Trịnh Thị Như Ý, sinh ngày 30/12/2006 và Trịnh Ngọc Bảo Y, sinh ngày 08/7/2019 cho bà Nguyễn Thị Mộng T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Trịnh Văn N không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do bà Nguyễn Thị Mộng T không có yêu cầu

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

    Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì người trực tiếp nuôi con, người không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Mộng T có nghĩa vụ chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình. Chuyển số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị Mộng T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001698 ngày 21/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An thành án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.
  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND TP Tân An;
  • - Chi cục THADS TP. Tân An;
  • - UBND cấp xã nơi đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Cẩm Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 42/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trinh 'ly hôn" Nguyên
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger