|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 42/2024/HS-ST. Ngày 31 - 7 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Chương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Hồng Hạ, bà Trịnh Thị Kim Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Tuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST - HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Minh P (tên gọi khác: Không), sinh ngày 29/7/1997 tại tỉnh Tuyên Quang;
Nơi cư trú: Thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Tuyên Quang;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn) lớp: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ đảng, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Văn S và bà Phan Thị Đ; vợ, con: Chưa có;
Tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 12/6/2023, bị Công an huyện S xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, phạt tiền 1.250.000 đồng (đã chấp hành xong ngày 13/6/2023);
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/10/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Thanh H và bà Đỗ Thị Thanh T - Luật sư, Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; đều có mặt;
Địa chỉ: P, CT B, khu đô thị X, P, quận H, TP Hà Nội.
* Bị hại: Anh Vương Thanh T1, sinh năm 1988; có mặt;
Địa chỉ: Thôn G, xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1986; có mặt;
Địa chỉ: Thôn G, xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
-
Anh Bùi Nghiệp Q, sinh năm 1984; có mặt;
Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
-
Bà Phan Thị Đ, sinh năm 1968; có mặt;
Địa chỉ: Thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
* Người làm chứng:
-
Chị Nguyễn Thị S1, sinh năm 1989; vắng mặt;
Địa chỉ: Thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
-
Anh Nguyễn Mạnh T2, sinh năm 1975; vắng mặt;
Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
-
Anh Nguyễn Xuân S2, sinh năm 1980; vắng mặt;
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
-
Bà Đỗ Thị L, sinh năm 1950; vắng mặt có đơn xin vắng mặt;
Địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
- Anh Nguyễn Quốc V, sinh năm 1978; có mặt;
-
Anh Lê Hữu T3, sinh năm 1979; có mặt;
Cùng địa chỉ: Thôn G, xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 30/10/2023, Nguyễn Minh P là phụ xe ô tô khách biển số 22L - 4757, xe ô tô do Bùi Nghiệp Q ở trú tại thôn Đ, xã V, huyện S điều khiển đi theo hướng S - Hồ N. Khi đi đến Km13+430 đường ĐT186 (thuộc thôn G, xã P, huyện S), Q nhìn thấy Vương Thanh T1 ở thôn G, xã P, huyện S đang dừng xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, biển số 22K3 - 3498 ở giữa đường. Q điều khiển xe ô tô tránh sang trái để vượt qua xe mô tô của T1 và nói “ơ đ.mẹ thằng này bị ngáo à”, P mở cửa kính xe ra nói “đứng gọn vào đi anh ơi”. Thấy vậy T1 nói “mày có tin mày nói câu nữa tao đập vào mặt mày không”. P nói “ơ anh nói gì đấy” thì Q dừng xe ô tô cùng P xuống xe để nói chuyện với T1, lúc này có Nguyễn Văn G ở thôn G, xã P, huyện S đi xe mô tô đến và dừng xe lại.
P đi đến phía T1 nói về việc T1 dừng xe giữa đường, hai bên có lời nói thách thức đánh nhau, nhưng được mọi người can ngăn nên P và Q quay lại xe ô tô. Khi P bước lên xe, T1 lại thách thức “mày xuống đây, bố đánh vào mặt mày”, thì P xuống xe rồi hai bên dùng tay đánh nhau. Thấy vậy, G đến dùng tay đánh P vào đầu. Q nhìn thấy P bị T1 và G đánh thì xuống xe, chạy đến can và đấm vào người T1 làm T1 bị ngã. Cùng lúc này, G lao vào đấm Q làm Q bị ngã, T1 đứng dậy dùng chân đá vào người Q, G cũng tiếp tục lao vào đấm Q, còn P chạy lên xe ô tô lấy 01 con dao quắm (dài 53cm, trên chuôi dao có chữ "85", lưỡi dao dài 35cm, bản lưỡi dao chỗ rộng nhất 05cm) để tại phía sau ghế lái (dao của chị Nguyễn Thị S1 ở thôn G, xã C, huyện S là khách mua để quên trên xe). P tay phải cầm dao chạy đến chém G 01 nhát vào đầu gây thương tích nhẹ, G bỏ chạy vào khu vực bãi cát của gia đình chị Nguyễn Huyền T4 ở thôn G, xã P. P tiếp tục cầm dao chạy đến đứng đối diện T1, tay phải cầm dao chém 01 nhát theo hướng từ trên xuống dưới, từ sau ra trước, T1 dơ tay phải nên đỡ, trúng vào 1/3 dưới mặt sau cánh tay, T1 bỏ chạy về hướng đi xã Đ. P tiếp tục cầm dao đuổi theo T1, vừa đuổi vừa chém liên tiếp 02 nhát từ trên xuống dưới trúng vào lưng trái và vào vùng đỉnh đầu bên trái của T1, T1 tiếp tục bỏ chạy. Do không đuổi kịp T1, P cầm dao quay lại bãi cát thấy Q đang cầm 01 tấm ván gỗ (kích thước dài 78cm, rộng nhất 18cm; nhỏ nhất 15cm, dày 02cm) đi tìm G. Thấy vậy, P cầm dao chạy vào khu vực bãi cát cùng tìm G, vừa chạy vừa nói “tao giết mày luôn”, Q nói “mày chém chết thằng này cho tao”. Tuy nhiên do được mọi người can ngăn, nên Q điều khiển xe ô tô cùng P chở khách về hướng xã H, huyện S còn T1 và G được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ1.
Đến 19 giờ cùng ngày, P đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 252/2023/KLTTCT-TTPY ngày 07/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T đối với Vương Thanh T1, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vương Thanh T1 tại thời điểm giám định là 15% (Mười lăm phần trăm) theo phương pháp cộng tại Thông tư. Cơ chế, vật gây thương tích: Thương tích như trên là do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 253/2023/KLTTCT-TTPY ngày 07/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T đối với thương tích của Nguyễn Văn G, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn G tại thời điểm giám định là 02% (Hai phần trăm). Cơ chế, vật gây thương tích: Thương tích như trên là do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 272/2023/KLTTCT-TTPY ngày 12/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T đối với Bùi Nghiệp Q, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Bùi Nghiệp Q tại thời điểm giám định là 0% (Không phần trăm).
Tại Kết luận giám định ADN số 671/23/KLGÐADN-PYQG ngày 06/12/2023 của V1, kết luận: ADN thu từ mẫu vật cần giám định ký hiệu A1 (dao quắm) trùng khớp hoàn toàn với ADN của mẫu so sánh M2 (Vương T) và M3 (Nguyễn Văn G) trên tất cả các locus STR đã so sánh.
Tại Kết luận giám định số 1438/KL-KTHS ngày 24/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh T đối với dữ liệu điện tử, kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong các file video lưu trong mẫu giám định ký hiệu A1 và A2. Không gian, thời gian, đặc điểm về người, đồ vật, nội dung diễn biến vụ việc trong các file video gửi giám định được mô tả chi tiết trong bản ảnh giám định kèm theo.
Tại Kết luận giám định số 1518/KL-KTHS ngày 22/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, đối với giám định âm thanh, kết luận: 01 (một) USB màu đen, nhãn hiệu Sandisk - ký hiệu A1, lưu trữ 06 (sáu) file video... 01 (một) USB màu đen, nhãn hiệu Sandisk - ký hiệu A2, lưu trữ 07 (bảy) file video... Không phát hiện dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong các tệp video gửi giám định. Không đủ cơ sở xác định được có tiếng nói của Vương T, Bùi Nghiệp Q, Nguyễn Minh P trong các tệp video gửi giám định hay không (Do các tệp video gửi giám định có nhiễu nền lớn, số lượng các âm tiết ít). Nội dung cuộc hội thoại trong các tệp video gửi giám định đã được dịch thành văn bản kèm theo.
Bản Cáo trạng số 42/CT-VKSTQ-P2 ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo Nguyễn Minh P về tội: Giết người theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh P phạm tội “Giết người”, áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 54; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh P từ 05 năm đến 06 năm tù. Thời hạn chấp hành tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 30/10/2023.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho anh V Thanh Tú 40.000.000 đồng, anh T1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm, nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Các vật chứng đã thu giữ là con dao và mảnh gỗ không còn giá trị sử dụng, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định về án phí hình sự và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bị hại anh Vương Thanh T1 trình bày: Anh và bị cáo không quen biết nhau, nhưng khi tham gia giao thông đã có mâu thuẫn cãi nhau, đấm, đá nhau; sau đó thì anh bị bị cáo P dùng dao chém 03 nhát theo hướng từ trên xuống dưới trúng vào vùng lưng trái và vùng đỉnh đầu và khi anh đưa tay lên đỡ thì bị trúng vào mặt sau cánh tay, hậu quả anh bị thiệt hại thương tích 15%. Về trách nhiệm dân sự, quá trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho anh 40.000.000 đồng, anh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm. Về hình phạt, anh đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, anh Nguyễn Văn G trình bày: Anh bị bị cáo dùng dao chém 01 nhát vào vùng đầu gây thương tích 2%. Anh đã được bị cáo bồi thường 20.000.000 đồng, anh không có đề nghị hay yêu cầu gì. Quá trình điều tra và tại phiên toà anh không đề nghị khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ: Nhất trí với tội danh, điều luật Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và tỏ rõ sự ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại; trong vụ án này bị hại cũng có lỗi, bị cáo đã đến cơ quan Công an huyện S đầu thú, trong thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự bị cáo được Chính ủy Trường Q1 tặng danh hiệu Chiến sĩ tiên tiến và danh hiệu Đoàn viên xuất sắc tiêu biểu, có bác ruột là liệt sĩ Nguyễn Văn C, bị cáo phạm tội chưa đạt. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 57 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án dưới khung hình phạt phù hợp nhất.
Bị cáo nhất trí với quan điểm bào chữa của luật sư, bị cáo trình bày do mâu thuẫn trong khi tham gia giao thông, nên bị cáo đã gây ra thương tích cho anh T1 và anh G. Bị cáo xác định các thương tích của anh T1 và G đều là do bị cáo gây ra, bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm được trở về cùng gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh P tiếp tục thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 30/10/2023, tại Km13+430 đường ĐT186 (thuộc thôn G, xã P, huyện S), Do mâu thuẫn trong việc tham gia giao thông đường bộ, Nguyễn Minh P, cư trú tại thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Tuyên Quang đã có hành vi dùng tay đánh nhau với V Thanh Tú ở thôn G, xã P, huyện S. Sau đó P tay phải đã có hành vi cầm 01 con dao quắm (kích thước dài 53cm, trên chuôi dao có chữ "85", lưỡi dao dài 35cm, bản lưỡi dao chỗ rộng nhất 05cm) chém 03 nhát trúng vào cánh tay, vào lưng trái, vào đầu anh T1 gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể 15% (Mười lăm phần trăm). Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang truy tố đối với bị cáo về tội Giết người là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử đủ căn cứ quy kết bị cáo Nguyễn Minh P phạm tội Giết người, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực, nhận thức được hành vi dùng 01 con dao quắm (kích thước dài 53cm, trên chuôi dao có chữ "85", lưỡi dao dài 35cm, bản lưỡi dao chỗ rộng nhất 05cm) là hung khí nguy hiểm chém 03 nhát trúng vào cánh tay, vào lưng trái, vào đầu anh T1 có thể dẫn đến tử vong, nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý, hậu quả làm anh V Thanh Tú tổn hại 15% sức khoẻ nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình. Do trước đó bị hại anh T1 thách thức và đánh bị cáo trước, nên bị cáo phạm tội không thuộc trường hợp có tính chất côn đồ theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Xét nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo ra đầu thú, trong thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự bị cáo được Chính ủy Trường Q1 tặng danh hiệu Chiến sĩ tiên tiến và danh hiệu Đoàn viên xuất sắc tiêu biểu, có bác ruột là liệt sĩ Nguyễn Văn C, hiện nay gia đình bị cáo đang thờ cúng, bị cáo phạm tội chưa đạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần xem xét áp dụng cho bị cáo.
[4] Về mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị, Hội đồng xét xử thấy phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên chấp nhận.
[5] Về luận cứ của luật sư bào chữa cho bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ xem xét quyết định cho phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ cho bị hại. Tại phiên toà, bị hại không có yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 con dao quắm và 01 mảnh gỗ. Xét thấy các vật chứng này không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
[8] Đối với hành vi của Nguyễn Minh P dùng dao chém vào đầu của anh Nguyễn Văn G gây thương tích 02%, hành vi có dấu hiệu của tội Cố ý gây thương tích quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, anh Nguyễn Văn G không yêu cầu khởi tố. Vương Thanh T1, Nguyễn Văn G và Bùi Nghiệp Q và bị cáo Nguyễn Minh P đã có hành vi cãi, chửi nhau, đánh nhau gây mất trật tự nơi công cộng do hành vi không cấu thành tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC01) Công an tỉnh T đã có Công văn số 1130/VPCQCSĐT ngày 03/6/2024 chuyển tài liệu đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính để xem xét xử lý theo quy định.
[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[10] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định của pháp luật.
[11] Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (được kháng cáo phần có liên quan) được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 2 Điều 123; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 54; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh P phạm tội “Giết người”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh P 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 30/10/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong, bên ngoài có hình dấu của V1, có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong gồm Trần Nam B, Nguyễn Ngọc T5, bên trong chứa 01 con dao quắm dài 53cm, phần chuôi bằng gỗ, trên chuôi dao có số 85, phần kim loại dài 35cm, bản lưỡi rộng nhất 05cm, được bọc xung quanh bằng ni – lông. Phần mũi dao rách ni – lông, hở kim loại, cong vênh, bám dính tạp chất màu đỏ, đã được niêm phong theo quy định và 01 (một) bì niêm phong, bên ngoài có hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang, có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong gồm Nguyễn Thị Phương L1, Hoàng Trọng H1, bên trong chứa 01 mảnh gỗ kích thước dài 78 cm, đầu rộng nhất 18cm, đầu nhỏ nhất 15cm, dầy 02cm đã được niêm phong theo quy định. (Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang lập ngày 10/7/2024).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Minh P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (được kháng cáo phần có liên quan) có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 31/7/2024./.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Đỗ Hồng H2 Trịnh Thị Kim Thanh |
Hà Văn Chương |
Nơi nhận:
- - TAND cấp cao tại Hà Nội;
- - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
- - VKSND tỉnh T.Quang;
- - Cục THADS tỉnh T. Quang;
- - Công an tỉnh T.Quang (CQCSĐT + Phòng hồ sơ);
- - Trại tạm giam Công tỉnh T.Quang;
- - Sở Tư pháp tỉnh T.Quang;
- - Bị cáo; bị hại; Người CQLNVLQ;
- - Văn phòng; Lưu HS.
Bản án số 42/2024/HS-ST. ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG về giết người
- Số bản án: 42/2024/HS-ST.
- Quan hệ pháp luật: Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh P phạm tội Giết người
