TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2024/HNGĐ-ST
Ngày 31 tháng 7 năm 2024
V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Duyên
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Cường
Ông Nguyễn Hữu Mùi
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thành – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 79/2024/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chu Thị Mai H, sinh năm 1979;
Địa chỉ: Khu B, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội.
Bị đơn: Anh Vũ Văn Đ, sinh năm 1978;
Địa chỉ: Khu D, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
Chị H, anh Đồng đều vắng mặt tại phiên tòa (Có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và nội dung tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Chu Thị Mai H trình bày:
Chị và anh Vũ Văn Đ kết hôn với nhau vào ngày 12 tháng 12 năm 2011, trên cơ sở hai bên tự nguyện tìm hiểu và được đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống không hòa thuận, không hạnh phúc nên từ năm 2018, chị và anh Đ đã sống ly thân không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh Đ nên chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ.
Về con chung: Chị và anh Đ không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị và anh Đ không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Vũ Văn Đ nhưng anh Đ vắng mặt tại phiên họp và hòa giải. Ngày 10 tháng 7 năm 2024, bị đơn là anh Vũ Văn Đ đã đến Tòa án trình bày quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn, nội dung tự khai như sau: Anh và chị Chu Thị Mai H tự nguyện tìm hiểu và được UBND xã C đăng ký kết hôn năm 2011. Sau khi kết hôn, anh và chị H chung sống tại Hà Nội, thời gian sau đó do vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn nên từ năm 2018 cho đến nay anh đã về sinh sống tại xã C còn chị H ở tại Hà Nội, vợ chồng đã sống ly thân không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay anh cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh nhất trí ly hôn với chị H.
Về con chung, tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp, ruộng đất: Không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là chị Chu Thị Mai H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với bị đơn là anh Vũ Văn Đ, nơi cư trú tại khu D, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Do vậy, xác định vụ án có quan hệ tranh chấp về Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Chu Thị Mai H và bị đơn là anh Vũ Văn Đ vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Toà án đã Quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các bên đương sự là hoàn toàn phù hợp các quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Chu Thị Mai H và anh Vũ Văn Đ đã được UBND xã C đăng ký kết hôn ngày 12 tháng 12 năm 2011 trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của Pháp luật và được cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị H và anh Đ chung sống với nhau tại Hà Nội nhưng cuộc sống hôn nhân không được hòa thuận, hạnh phúc. Vì mâu thuẫn trầm trọng, không thể tiếp tục cuộc sống chung vợ chồng nên từ năm 2018 cho đến nay chị H và anh Đ đã sống ly thân mỗi người một nơi, không quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Do vậy, xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H và anh Đồng thuận t ly hôn là có căn cứ chấp nhận phù hợp quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Chị H và anh Đồng đ xác nhận vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung, vay nợ chung, công sức đóng góp: Chị H và anh Đồng đều vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.
[3.] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H và anh Đồng thuận t ly hôn nên đều phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, X:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Chu Thị Mai H và anh Vũ Văn Đ.
- Về con chung: Chị Chu Thị Mai H và anh Vũ Văn Đồng đ1 xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị Chu Thị Mai H và anh Vũ Văn Đồng đ1 xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Chu Thị Mai H phải chịu 75.000.₫ (Bẩy mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000.₫ theo biên lai số: 0002221 ngày 04 tháng 6 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng. Trả lại cho chị H số tiền tạm ứng án phí là 225.000đ (Hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Anh Vũ Văn Đ phải nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng).
Về quyền kháng cáo chị H, anh Đ vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời gian 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Bùi Thị Duyên |
Bản án số 42/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 42/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
