Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÀ CÚ

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 42/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31/5/2024

V/v: tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Truyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Diệp Chanh Tha và bà Phước Thị Kim Huê

- Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Bô Na, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Đoàn Tố Quyên, Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 86/2024/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 3 năm 2024, về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 48/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 08/5/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm G, sinh năm 1986, vắng mặt.
  2. Địa chỉ: ấp X, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh

  3. Bị đơn: Ông Trần Thanh G1, sinh năm 1979, vắng mặt.
  4. Địa chỉ: ấp X, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 07/3/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm G trình bày: Năm 2002 bà và ông Trần Thanh G1 quen biết nhau và tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T ngày 02/11/2002. Quá trình chung sống hạnh phúc và có 02 con chung tên Trần Chí T, sinh năm 2003 (đã thành niên và có khả năng lao động nuôi sống bản thân) và Trần Chí B, sinh ngày 25/3/2008, hai con chung đang sống với bà. Về tài sản chung, nợ chung không có. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn gia đình không thể hàn gắng được, nguyên nhân do ông Thanh G1 không tôn trọng bà, không lo làm ăn, bỏ bê gia đình, không quan tâm chăm sóc vợ, con, chỉ thích ăn chơi, cờ bạc cùng bạn bè và gây ra nợ nần, bà đã nhiều lần trả nợ cho ông G1 nhưng ông G1 vẫn không thay đổi, từ đó mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm G yêu cầu được ly hôn với ông Trần Thanh G1. Về con chung bà Nguyễn Thị Cẩm G yêu cầu tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Trần Chí B, sinh ngày 25/3/2008 và không yêu cầu ông Trần Thanh G1 phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với Trần Chí T, sinh năm 2003 (đã thành niên và có khả năng lao động nuôi sống bản thân) nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết; bà Nguyễn Thị Cẩm G đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.

Bị đơn ông Trần Thanh G1 đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, được triệu tập tham gia phiên tòa xét xử vụ án nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt không gửi ý kiến cho Tòa án về yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm G.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

* Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án, Thành phần Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa có tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn bà G thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Trần Thanh G1 cố ý vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng là chưa chấp hành đúng quy định về nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

* Về nội dung vụ án: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm G, bị đơn ông Trần Thanh G1 xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2002, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T ngày 02/11/2002 nên hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Cẩm G với ông Trần Thanh G1 là hợp pháp. Kết quả thu thập chứng cứ, xác minh nguyên nhân mâu thuẫn của Tòa án có căn cứ cho thấy hôn nhân của bà Nguyễn Thị Cẩm G và ông Trần Thanh G1 lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân có duy trì cũng không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 và các điều 147, 207, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 54, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm G, cho bà Nguyễn Thị Cẩm G được ly hôn với ông Trần Thanh G1. Giao cho bà Nguyễn Thị Cẩm G được quyền tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Trần Chí B, sinh ngày 25/3/2008; bà Bà Cẩm G2 không yêu cầu ông Trần Thanh G1 cấp dưỡng nuôi con nên không xét. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét giải quyết. Về án phí đề nghị buộc bà Nguyễn Thị Cẩm G phải chịu 300.00 đồng theo quy định của pháp luật.

Kiến nghị khắc phục vi phạm: Không

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm G vắng mặt trong quá trình tố tụng và có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án và đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Trần Thanh G1 đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; đã được triệu tập tham gia phiên tòa xét xử vụ án hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2025, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các bên đương sự.

[2] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm G, bị đơn ông Trần Thanh G1 xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2002, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T ngày 02/11/2002 theo đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Cẩm G với ông Trần Thanh G1 là hợp pháp và phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm G trình bày cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn gia đình không thể hàn gắng được, nguyên nhân do ông Thanh G1 không tôn trọng bà, không lo làm ăn, bỏ bê gia đình, không quan tâm chăm sóc vợ, con, chỉ thích ăn chơi, cờ bạc cùng bạn bè và gây ra nợ nần, bà đã nhiều lần trả nợ cho ông G1 nhưng ông G1 vẫn không thay đổi, từ đó mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Kết quả xác minh của Tòa án thể hiện giữa bà Nguyễn Thị Cẩm G với ông Trần Thanh G1 có xảy ra mâu thuẫn như bà Nguyễn Thị Cẩm G trình bày và sống ly thân nhau là có thật. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo cho Trần Thanh G1 biết tham gia các phiên hòa giải, kể cả tham gia phiên tòa xét xử vụ án để Tòa án hòa giải, tạo điều kiện cho hai bên khắc phục các mâu thuẫn trong cuộc sống gia đình, để xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và cùng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung nhưng không có kết quả, bà Nguyễn Thị Cẩm G cương quyết ly hôn, ông Trần Thanh G1 cố tình vắng mặt và không gửi ý kiến phản đối. Xét thấy hôn nhân của bà Nguyễn Thị Cẩm G và ông Trần Thanh G1 ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân có duy trì cũng không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Cẩm G được ly hôn với ông Trần Thanh G1 theo yêu cầu của một bên.

[3] Theo các giấy khai sinh do bà Nguyễn Thị Cẩm G cung cấp, có đủ chứng cứ chứng minh giữa bà Nguyễn Thị Cẩm G với ông Trần Thanh G1 có 02 con chung tên Trần Chí T, sinh năm 2003 (đã thành niên và có khả năng lao động nuôi sống bản thân) và Trần Chí B, sinh ngày 25/3/2008 hiện đang sống với bà G1. Do ông Trần Thanh G1 không có ý kiến tranh chấp với bà G1 về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; nguyện vọng của cháu Trần Chí B muốn được sống chung với bà G1 nên cần giao cho bà G1 được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; bà G1 không yêu cầu ông Trần Thanh G1 cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Đối với con chung tên con chung tên Trần Chí T, sinh năm 2003 đã thành niên và có khả năng lao động nuôi sống bản thân nên không xem xét, giải quyết.

[4] Về tài sản chung, nợ chung bà G1 trình bày không có nên không xem xét. Nếu giữa bà Nguyễn Thị Cẩm G với ông Trần Thanh G1 có tranh chấp về tài sản chung hoặc có phát sinh nghĩa vụ nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.

[5] Quan điểm phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị đơn ông Trần Thanh G1 không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 và các điều 147, 207, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ các điều 5, 9, 54, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm G. Cho bà Nguyễn Thị Cẩm G được ly hôn với ông Trần Thanh G1.
  2. Giao cho bà Nguyễn Thị Cẩm G được quyền tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Trần Chí B, sinh ngày 25/3/2008. Bị đơn ông Trần Thanh G1 không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  3. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét giải quyết. Nếu giữa ông Trần Thanh G1 với bà Nguyễn Thị Cẩm G có tranh chấp về tài sản chung hoặc có phát sinh nghĩa vụ nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
  4. Về án phí buộc bà Nguyễn Thị Cẩm G phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị Cẩm G đã nộp bằng 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001762 ngày 12/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trà Cú. Bị đơn ông Trần Thanh G1 không phải chịu án phí.
  5. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND huyện Trà Cú;
  • - CCTHADS huyện Trà Cú;
  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - UBND TT.Trà Cú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Truyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 42/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án hôn nhân Giang- Thanh Giang
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger