|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 42/2023/HS - ST Ngày: 30 – 11 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:ông Phạm Hữu Tình
Các Hội thẩm nhân dân:ông Trần Xuân Thuận và bà Đinh Thị Hương
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Cán bộ
Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
tham gia phiên tòa: ông Phan Ngọc Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2023/TLST - HS ngày 17 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2023/QĐXXST – HS ngày 17/11/2023 đối với bị cáo:
Trần Văn T, sinh ngày: 07/7/1973, tại thị xã B, tỉnh Quảng Bình; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ Dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không tôn giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn H (đã chết), con bà: Trần Thị V (đã chết); vợ: Võ Thị L, sinh năm: 1976; con: có 02 người con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2016 bị Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng, tại bản án số: 53/2016/HSST ngày 31/8/2016, chấp hành xong thơi gian thử thách của án treo vào ngày 31/8/2019 và thực hiện xong các nội dung quyết định của Bản án số 53/2016/HSST ngày 31/8/2016 vào ngày 19/10/2016. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Quảng Bình, kể từ ngày 04/9/2023 cho đến nay; theo lệnh trích xuất, bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đoàn Văn H1, sinh năm1980.
- Bà Võ Thị L, sinh năm 1976.
Trú tại: Tổ Dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình(vắng mặt).
Trú tại: Tổ Dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 15 phút, ngày 04/9/2023, Trần Văn T, điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA, biển kiểm soát 73N5 – 5076 đến khu vực chợ B thuộc phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình để tìm mua ma tuý về sử dụng. Tại đây, T gặp người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ và hỏi mua 10 (mười) viên ma tuý loại hồng phiến được gói trong một gói màu trắng với giá 700.000đ. Sau đó, T cầm số ma tuý ở bàn tay trái điều khiển xe mô tô đến địa phận thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình thì bị tổ công tác Công an huyện T yêu cầu dừng xe kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra đã phát hiện trong lòng bàn tay trái của Trần Văn T có 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong có chứa 10 (mười) viên nén hình tròn màu hồng, dạng thuốc tân dược. Trần Văn T khai nhận số viên nén trên là ma tuý loại hồng phiến cất dấu để sử dụng. Công an huyện T, tỉnh Quảng Bình tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ số ma tuý nói trên cùng các tang vật liên quan.
Tại bản kết luận giám định số: 867/KL – KTHS ngày 13/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: 10 (mười) viên nén hình tròn, màu hồng dạng thuốc tân dược, trên một mặt mỗi viên có in chữ “WY” thu giữ từ Trần Văn T gửi trưng cầu giám định có tổng khối lượng: 0,957 gam (không phẩy chín trăm năm mươi bảy gam) là chất ma túy, có tên gọiMethamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 247, danh mục IIC, nghị định số 57/2022/NĐ – CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Vật chứng của vụ án:Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện T, tỉnh Quảng Bình đã thu giữ tại Trần Văn T:
- Một điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A02S, màu đen, số IMEI 1: 353112447387396; số IMEI 2: 356087267387394, gắn thẻ sim số: 0772702456 và 0916502346, đã qua sử dụng.
- Một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu sơn: Xanh; số máy: 5C6109864; số khung: RLCS5C107Y098684; biển kiểm soát: 73N5 – 5076, xe đã qua sử dụng.
- Một phong bì thư số: 867/KL – KTHS đã được niêm phong bằng các chữ của những người tham gia niêm phong, hình dấu của phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong có:0,816 (không phẩy, tám trăm mười sáu gam) mẫu ký A là chất ma tuý loại Methamphetamine, sau giám định được gói bằng túi nilon trong suốt, ngoài có ghi chữ “A” và toàn bộ bao gói.
Tại bản cáo trạng số: 45/CT – VKSTH – HS ngày 16/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình đã truy tố Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa Kiểm sátviêntrình bày luận tội giữ nguyên quyết định truy tốvà đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,xử phạtTrần Văn Tê từ 13 đến 15 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 04/9/2023. Về xử lý vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng điểmc khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm akhoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 tịch thu tiêu hủymột phong bì thư số: 867/KL – KTHS đã được niêm phong bằng các chữ của những người tham gia niêm phong, hình dấu của phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong có: 0,816 (không phẩy, tám trăm mười sáu gam) mẫu ký A là chất ma tuý loại Methamphetamine, sau giám định được gói bằng túi nilon trong suốt, ngoài có ghi chữ “A”; toàn bộ bao gói; Áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS, trả lại cho bị cáo Trần Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A02S, màu đen, số IMΕΙ 1: 353112447387396; số IMEI 2: 356087267387394, gắn thẻ sim số: 0772702456 và 0916502346, đã qua sử dụng và trả lại cho bà Võ Thị L 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu sơn: Xanh; số máy: 5C6109864;số khung: RLCS5C107Y098684; biển kiểm soát: 73N5 – 5076, xe đã qua sử dụng.
Bị cáo Trần Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên Toà, có đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên. Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo và nhưng người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy các vị, quyết định của cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, được thẩm tra tại phiên toà. Mặc dù biết việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn mua ma tuý về tàng trữ để sử dụng. Số ma tuý mà bị cáo tàng trữ làloại Methamphetamine có khối lượng 0,957 (không phẩy, chín trăm năm mươi bảy gam). Trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ về thời gian, địa điểm, khối lượng ma tuý, ý kiến của kiểm sát viên. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà đối với bị cáo là đúng người, đúng tội.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo là nguy hiểm đối với xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa bàn, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với các loại chất ma tuý, nên cần được xử lý nghiêm. Tại thời điểm phạm tội mặc dù bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhưng có nhân thấn xấu,năm 2016 đã bị Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng, về tội “mua bán trái phép chất ma túy”, tại bản án số: 53/2016/HSST ngày 31/8/2016, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà thiếu ý thức tu dưỡng và rèn luyện bản thân. Vì vậy căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự để quyết định cho bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để bị cáo cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội đồng thời đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trach nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo có bố, mẹ là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng H2, Huy chương kháng chiến chống Mỹ. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét để cân nhắc khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.
[4] Về vật chứng vụ án:
Đối với chất ma túy loại Methamphetamine đã thu giữ sau khi giám định được niêm phong trong phong bì thư số: 867/KL – KTHS của phòng K Công an tỉnh Q, và toàn bộ bao gói, đây là loại chất cấm lưu hành, vì vậy cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A02S, màu đen, số IMEI 1: 353112447387396; số IMEI 2: 356087267387394, gắn thẻ sim số: 0772702456 và 0916502346, đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu sơn: Xanh; số máy: 5C6109864; số khung: RLCS5C107Y098684; biển kiểm soát: 73N5 – 5076, xe đã qua sử dụng, đây là tài sản của chị Võ Thị L trực tiếp mua lại của anh Đoàn Văn H1, khi bị cáo sử dụng đi mua ma túy, chị L hoàn toàn không biết. Nên cần áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS và điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động và trả lại cho bà Võ Thị L 01 xe mô tô là phù hợp.
[5] Về nguồn gốc ma tuý, Trần Văn T khai đã mua từ một người đàn ông không không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể tại khu vực thị xã B, tỉnh Quảng Bình,quá trình điều điều tra, xác minh không đủ cơ sở để xử lý.
[6] Về án phí: Bị cáo Trần Văn T1 chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
1. Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáoTrần Văn T2, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 14 (mười bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (04/9/2023).
Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Văn T với thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày,kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, để đảm bảo thi hành án theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.
2.Về xử lý vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư số: 867/KL – KTHS đã được niêm phong bằng các chữ của những người tham gia niêm phong, hình dấu của phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong có: 0,816 (không phẩy, tám trăm mười sáu gam) mẫu ký A là chất ma tuý loại Methamphetamine, sau giám định được gói bằng túi nilon trong suốt, ngoài có ghi chữ “A” và toàn bộ bao gói.
Trả lại cho bị cáo Trần Văn T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A02S, màu đen, số IMEI 1: 353112447387396; số IMEI 2: 356087267387394, gắn thẻ sim số: 0772702456 và 0916502346;
Trả lại cho bà Võ Thị L 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu sơn: Xanh; số máy: 5C6109864; số khung: RLCS5C107Y098684; biển kiểm soát: 73N5 – 5076.
Số vật chứng này hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa, có đặc điểm mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày (24/11/2023)giữa Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.
3.Về án phí : Buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan,được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/11/2023) đối với người có mặt, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định đói với người vắng mặt./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Hữu Tình |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Xuân ThuậnĐinh Thị Hương Phạm Hữu Tình
Bản án số 42/2023/HS - ST ngày 30/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 42/2023/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T; Can tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy
