Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN YÊN

TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HS-ST

Ngày 29-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mai Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thanh Châu Giang
Ông Nguyễn Trường Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Cao Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Văn Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Lương Xuân T - Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 20/10/1949, tại huyện V, tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: Thôn Y, xã Y, huyện V, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 04/10; Dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Văn T1 (đã chết) và con bà Vi Thị A (đã chết); Có vợ là Nguyễn Thị C (đã chết), có 05 con, con lớn nhất sinh năm 1972, con nhỏ nhất sinh năm 1981, tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, Hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên toà.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Đức Đ - luật sư thuộc đoàn luật sư tỉnh Y thực hiện việc trợ giúp pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Y.

- Bị hại: Ông Bùi Quang G, sinh năm 1951 (đã chết).

Địa chỉ: Thôn Y, xã Y, huyện V, tỉnh Yên Bái.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  1. Bà Trần Thị Đ1, sinh năm 1955. (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Thôn Y, xã Y, huyện V, tỉnh Yên Bái.

  3. Chị Bùi Thị H, sinh năm 1977. (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Thôn Y, xã Y, huyện V, tỉnh Yên Bái.

  5. Anh Bùi Quang H1, sinh năm 1981. (có mặt)
  6. Địa chỉ: Thôn Y, xã Y, huyện V, tỉnh Yên Bái.

  7. Chị Bùi Thị H2, sinh năm 1990. (vắng mặt)
  8. Địa chỉ: Thôn Y, xã Y, huyện V, tỉnh Yên Bái.

(Bà Đ1, chị H, chị H2 ủy quyền cho anh Bùi Quang H1 tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền ngày 18/6/2023).

2

- Người làm chứng:

  1. Ông Lương Xuân M, sinh năm 1968 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái.

  3. Bà Hà Thị Tú A1, sinh năm 1966 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 28/5/2023 ông Bùi Quang G sang nhà ông Lương Xuân T cùng trú tại thôn Y, xã Y, huyện V, tỉnh Yên Bái rủ sang nhà ông Lương Xuân M trú tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái chơi. Khi đi ông T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, biển kiểm soát 21E1- 553.17 màu sơn xanh, đen, bạc chở ông G ngồi phía sau cùng đi sang nhà ông M. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày sau khi ăn cơm uống rượu ở nhà ông M xong thì ông T và ông G tiếp tục xuống nhà bà Hà Thị Tú A1 cách nhà ông M khoảng 200m chơi và tiếp tục ăn cơm uống rượu tại nhà bà Tú A1. Sau đó, cả hai quay về nhà ông M ngồi chơi, uống nước. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày ông T điều khiển xe mô tô chở ông G theo đường tỉnh lộ 165 về nhà theo hướng T - M. Trên đường về, đến Km 11+300 thuộc thôn L, xã N, huyện V đã đâm va vào cột điện phía bên phải đường. Hậu quả ông Bùi Quang G tử vong tại chỗ, ông T bị thương, xe mô tô bị hư hỏng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông không còn nguyên vẹn do việc cấp cứu người bị nạn: Vị trí xảy ra tai nạn là đoạn đường vòng từ phải qua trái, dốc thoải theo hướng từ T đi M, mặt đường được chải nhựa khô ráo, bề rộng của mặt đường là 5,60m. Bên phải đường theo chiều từ T đi M là vực sâu (ta ly âm), lề đường bên phải rộng 02m, tổ chức giao thông hai chiều.

Tại biên bản đo nồng độ cồn số 00095 do Đ2 - Trật tự Công an huyện V lập hồi 15 giờ 55 phút ngày 28/5/2023 xác định nồng độ cồn trong hơi thở của Lương Xuân T là 0.470mg/L.

Tại bản kết luận giám định tử thi số 11/KLGĐTT-TTPY-VY ngày 08 tháng 6 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Y, kết luận:

“Nguyên nhân chết của Bùi Quang G là do: Vỡ xương vùng mặt dẫn đến tử vong.

Tại bản cáo trạng số 35/CT-VKS-VY ngày 09/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái truy tố Lương Xuân T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự;

Tại phiên toà bị cáo Lương Xuân T đã thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên là đúng.

Đại diện hợp pháp của bị hại, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại xác nhận: Bị cáo Lương Xuân T đã bồi thường cho gia đình số tiền 15.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

3

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lương Xuân T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, o, s, x khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, phạt bị cáo 03 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, trả lại 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, biển kiểm soát 21E1-553.17 màu sơn xanh, đen, bạc và 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô số 21006757 mang tên Lương Xuân T cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi, có đơn xin miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh đối với bị cáo; Về hình phạt: Do bị cáo là người cao tuổi, phạm tội do lỗi vô ý, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, o, s, x khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo, Về vật chứng: Bị cáo phạm tội do lỗi vô ý nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bị cáo 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, biển kiểm soát 21E1-553.17 màu sơn xanh, đen, bạc và 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô số 21006757; Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết mình vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

4

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám phương tiện, kết luận giám định tử thi, phù hợp với các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 28/5/2023 Lương Xuân T trong tình trạng hơi thở có nồng độ cồn là 0.470mg/L, đã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 21E1-553.17 dung tích xi lanh trên 50 cm³, không có giấy phép lái xe theo quy định chở theo ông Bùi Quang G ngồi phía sau tham gia giao thông trên đường T hướng T đi M khi đi đến đoạn km 11 + 300 thuộc địa phận thôn L, xã N, huyện V đã không làm chủ được tốc độ khi gặp đường vòng, đường có địa hình quanh co, đèo dốc dẫn đến đâm va vào cột điện phía bên phải đường gây tai nạn, hậu quả ông Bùi Quang G ngồi phía sau tử vong tại chỗ. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ gây hậu quả chết người. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an toàn công cộng và xâm phạm tính mạng, sức khoẻ người khác nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:

  • - Về nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại, người phạm tội là người từ đủ 70 tuổi trở lên; người phạm tội là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng “Huân chương kháng chiến hạng nhì” đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, o, s, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được xem xét cho bị cáo được hưởng khi quyết định hình phạt.

Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên có thể phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt cũng là thỏa đáng, đủ điều kiện để giáo dục bị cáo thành người lương thiện, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.

Xét thấy, bị cáo là người cao tuổi, sức khỏe yếu, trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà tạo điều kiện cho bị cáo làm ăn sinh sống và chứng tỏ sự hối cải hoàn lương của mình ngay trong môi trường xã hội bình thường, dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú và gia đình bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

5

Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 15.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại anh Bùi Quang H1 xác nhận đã nhận đủ số tiền bồi thường, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, biển kiểm soát 21E1-553.17 màu sơn xanh, đen, bạc và 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô 21006757 mang tên Lương Xuân T là tài sản của bị cáo, bị cáo phạm tội do lỗi vô ý nên cần trả lại cho bị cáo T.

[7] Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi, tại phiên tòa bị cáo xin miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Hội đồng xét xử miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lương Xuân T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, o, s, x khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Xuân T 03 (ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Lương Xuân T cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện V, tỉnh Yên Bái nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Trả lại bị cáo Lương Xuân T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, biển kiểm soát 21E1-553.17 màu sơn xanh, đen, bạc và 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô số 21006757 mang tên Lương Xuân T.

(Đặc điểm chi tiết toàn bộ vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái).

4. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, giảm, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Lương Xuân T được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6

5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND huyện Văn Yên;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Văn Yên;
  • - Đội điều tra tổng hợp Công an huyện Văn Yên;
  • - Đội THA và hỗ trợ tư pháp Công an huyện Văn Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Văn Yên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Yên Bái;
  • - Bị cáo (01); đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - THA hình sự (03);
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà

(đã ký)

Mai Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 42/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trang cao tuoi lai xe khong co bang lai gay tai nan
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger