|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN TỈNH NGHỆ AN Bản án số:42/2024/HSST Ngày: 29/08/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Viết Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Thảo và ông Nguyễn Quốc Tú
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Thanh - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Hoàng Bá Thọ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 26/2024/HSST ngày 18 tháng 06 năm 2024 đối với bị cáo:
- Đỗ Thị B; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 17 tháng 9 năm 1994 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: xóm T, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông: Đỗ Văn Đ, sinh năm 1965 – đã chết và bà Hoàng Thị Kim L, sinh năm 1967; Chồng: chưa có; Con: 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 20/11/2023: Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ hàng cấm, phạt tiền 7,5 triệu đồng theo Quyết định xử phạt hành chính số 1744; Nhân thân: Ngày 26/11/2019 bị TAND huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt 7 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 14 tháng về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 64/HSST, đã chấp hành xong vào tháng 8/2021; Bị tạm giữ từ ngày 16/01/2024 đến ngày 25/01/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.
- Người bị hại:
1. Chị Vi Thị T, sinh năm 1978. Vắng mặt.
Trú tại: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
2. Anh Lang Văn T1, sinh năm 1989. Có mặt.
Trú tại: xóm X, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Cao Văn B1, sinh năm 1992; Trú tại: xóm T, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:Trong khoảng thời gian từ ngày 28/12/2023 đến 09/01/2024 Đỗ Thị B đã thực hiện 2 lần trộm cắp tài sản như sau:
- Lần thứ nhất:
Sáng ngày 28/12/2023, Đỗ Thị B điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu HondaVision Biển kiểm soát ( BKS) 37HA- 512.01 đi đến khu vực xã N, huyện N nhằm mục đích quan sát thấy nhà dân nào sơ hở là vào trộm cắp tài sản. Khi B đi đến khu vực xóm T, xã N, huyện N quan sát thấy nhà chị Vi Thị K không có người ở nhà nên B dựng chiếc xe máy trước cổng rồi đi vào nhà chị K1 bằng cửa chính để trộm cắp tài sản. Vào trong nhà chị K, B đã trộm được 01 (Một) chiếc điện thoại VIVO V15 màu xanh và 01 (Một) chiếc điện thoại SAMSUNG GALAXY M02 màu đen để tại cửa sổ phòng khách bỏ vào túi áo rồi điều khiển xe máy đi về nhà B thuộc xóm T, xã T, huyện Q và cất giấu trong phòng ngủ của B. Chiều ngày 31/12/2023, B cầm 02 chiếc điện thoại trên đi đến cửa hàng Đ1, thuộc xóm T, xã T, huyện Q để bán cho anh Cao Văn B1, sinh năm 1992, trú tại xóm T, xã T, huyện Q là chủ cửa hàng. Anh B1 đồng ý mua với số tiền 1.600.000đ (Một triệu sáu trăm nghìn đồng) và chuyển số tiền trên vào số tài khoản ngân hàng V 1012411709 mang tên Đỗ Thị Bích. Anh B1 đã bán chiếc điện thoại di động SAMSUNG GALAXY M02 cho khách hàng không quen biết. Ngày 16/01/2024 anh Cao Văn B1 giao nộp cho cơ quan CSĐT Công an huyện N chiếc điện thoại di động VIVO V15 màu xanh, có số Imeil: 863481048027872, số Imei2: 863481048027864 ( BL 98-112 HSVA).
- Lần thứ hai:
Chiều ngày 09/01/2024, B điều khiển xe máy nhãn hiệu HondaVision BKS 37HA- 512.01 đi đến khu vực xóm X, xã N, huyện N để trộm cắp. Khi đi qua nhà anh Lang Văn T1 - sinh năm 1989, thấy không có ai ở nhà nên B đi vào nhà anh T1 để trộm cắp tài sản. Tại phòng ngủ của gia đình anh T1, B phát hiện 01 chiếc rương sắt để dưới giường ngủ. Bích mở rương sắt thấy một tập tiền gồm 62 tờ tiền polyme mệnh giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), tổng số tiền là 12.400.000đ (Mười hai triệu bốn trăm nghìn đồng). Bích cất giấu số tiền trên vào túi áo rồi điều khiển xe máy đi về nhà thay đồ rồi cầm theo số tiền vừa lấy trộm được đi đến cửa hàng điện
thoại Thiều Vân của anh Cao Văn B1, thuộc xóm T, xã T, huyện Q. Tại đây, B lấy số tiền 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) từ trong số tiền B vừa trộm cắp được đưa cho anh B1 để nhờ anh B1 nạp tiền vào tài khoản của B thì anh B1 đồng ý. Sau đó chị Cao Thị H là vợ anh B1 đã chuyển 6.000.000₫ (Sáu triệu đồng) vào số tài khoản ngân hàng V 1012411709 của B. Số tiền trộm cắp còn lại B đã tiêu xài hết.
Kết luận định giá tài sản số 02 ngày 25/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện N, tỉnh Nghệ An kết luận:
- 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO V15 màu xanh, bản 128GB (Đã qua sử dụng) có giá trị trên thị trường vào ngày 28/12/2023 là 1.300.000đ (Một triệu ba trăm nghìn đồng).
- 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY M02 màuđen, bản 32GB (Đã qua sử dụng) có giá trị trên thị trường vào ngày 28/12/2023 là 900.000₫ (Chín trăm nghìn đồng).
Tổng trị giá tài sản mà Đỗ Thị B trộm cắp 02 lần là 14.600.000 đồng
Cáo trạng số 36/CT-VKSNgĐ ngày 15 tháng 06 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn đã truy tố bị cáo Đỗ Thị B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Nghĩa Đàn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, b khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Đỗ Thị B từ 09 - 12 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Vi Thị K không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét. Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho anh Lương Văn T2 số tiền là 7.400.000 đồng. Về án phí: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có
người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Thị B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra và đã được thẩm tra lại tại phiên tòa hôm nay. Từ đó xác định được: Từ ngày 28/12/2023 đến ngày 09/01/2024, Đỗ Thị B đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản gồm: trộm cắp số tiền 12.400.000 đồng của anh Lang Văn T1 và 02 chiếc điện thoại di động trị giá 2.200.000 đồng của chị Vi Thị K đều trú tại xã N, huyện N, Nghệ An. Trị giá tài sản mà Đỗ Thị B trộm cắp 02 lần là 14.600.000 đồng. Như vậy, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Đỗ Thị B đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng quy kết là có căn cứ pháp luật.
Đây là vụ án do bị cáo thực hiện với lỗi cố ý đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của anh Lang Văn T1, chị Vi Thị T gây mất trật tự trị an tại địa phương do vậy cần phải xử lý nghiêm.
Xét tình tiết tăng nặng: Bị cáo có tình tiết tăng nặng là phạm tội từ 02 lần theo điểm g khoản 1 điều 52 BLHS.
Xét tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho chị T và bồi thường một phần thiệt hại cho anh T1. Chị Vi Thị T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, b khoản 1 khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về nhân thân: bị cáo có 01 lần đã bị kết án đã được xóa án tích và 01 tiền sự nên cũng xem xét nhân thân khi lượng hình.
Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, kết hợp với việc xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Về dân sự: Vắng mặt tại phiên tòa người bị hại là chị Vi Thị T có đơn trình bày đã được bồi thường đầy đủ nay không có yêu cầu gì thêm nên hội đồng xét xử không xem xét. Đối với anh Lang Văn T1 đã được bồi thường 5.000.000 đồng nay yêu cầu bị cáo phải bồi thường tiếp số tiền 7.400.000 đồng. Bị cáo chấp nhận yêu cầu của anh T1 do vậy cần ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Buộc bị cáo
Đỗ Thị B phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho anh T1 số tiền 7.400.000 đồng.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định thu nhập thấp nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, b khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Thị B 09 (chín) thảng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 16/01/2024 đến ngày 25/01/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự, điều 584; điều 585; điều 586; điều 587; điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Đỗ Thị B phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho anh Lương Văn T2 số tiền 7.400.000₫ (Bảy triệu bốn trăm nghìn đồng).
Kể từ khi bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền trên, nếu bên phải thi hành án chậm thi hành án thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng N công bố, tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo Đỗ Thị B phải chịu 200.000đ án phí HSST và 370.000 đồng án phí HSST.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết
bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lê Viết Hà |
Bản án số 42/2024/HSST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 42/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án hình sự
