|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2024/HNGĐ-ST
Ngày 29-7-2024
V/v “tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đồng Văn Diện
Ông Đoàn Văn Cương
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Quý Đôn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Không
Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 68/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hôn ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 77/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Hà Văn Đ, sinh năm 1989 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn xin ly hôn cùng các lời khai tiếp theo nguyên đơn anh Hà Văn Đ trình bày như sau:
-Về quan hệ hôn nhân: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị T ngày 05/3/2013 trước khi cưới hai bên có được tự do tìm hiểu thỏa thuận và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L. Cưới xong vợ chồng về chung sống với nhau ngay, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc. Vợ chồng chung sống đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống và làm ăn phát triển kinh tế. Do vợ chồng mâu thuẫn nên tháng 7/2022 chị T đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị Nguyễn Thị T được ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng không có con chung.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Hà Văn Đ không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa anh Hà Văn Đ có đơn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày ở trên và xin xét xử vắng mặt.
*Tại bản tự khai, các lời khai tiếp theo bị đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T xác nhận một phần lời khai của anh Hà Văn Đ đã trình bày về quá trình kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng và quá trình vợ chồng sống ly thân là đúng. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh Hà Văn Đ làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị Nguyễn Thị T được ly hôn, chị đồng ý.
- Về con chung: Vợ chồng không có con chung.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Nguyễn Thị T không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị T vắng mặt.
Vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang không tiến hành phân công Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Ngày 11/3/2024, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện tranh chấp ly hôn của anh Hà Văn Đ với bị đơn chị Nguyễn Thị T có địa chỉ tại thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tiến hành tố tụng đảm bảo tuân theo đúng quy định của BLTTDS, không có đương sự nào khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Thẩm phán, Thư ký. Do đó các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đều hợp pháp.
Tại phiên tòa anh Hà Văn Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Nguyễn Thị T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ Điều 238 của BLTTDS Hội đồng xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Hà Văn Đ và chị Nguyễn Thị T đăng ký kết hôn ngày 05/3/2013 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, hợp pháp. Quá trình chung sống anh Đ và chị T đều xác định trong quan hệ hôn nhân vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Chị T đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thôn K, xã H sống từ tháng 7/2022, anh chị đã sống ly thân từ đó. Nay anh Đ và chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh Đ đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T, phía chị T cũng đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy anh Đ và chị T trong thời gian chung sống vợ chồng không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ với nhau, không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ mọi việc, không giữ gìn, bảo vệ hạnh phúc gia đình, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và hiện tại đã sống ly thân, không quan tâm qua lại, chăm sóc gì cho nhau, hiện anh Đ và chị T sống ly thân từ tháng 7/2022, anh chị không có khả năng đoàn tụ. Xét thấy mâu thuẫn giữa anh Đ và chị T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do vậy, cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh Hà Văn Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị T.
[3] Về con chung: Anh Hà Văn Đ và chị Nguyễn Thị T không có con chung.
[4] Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Hà Văn Đ và chị Nguyễn Thị T không đề nghị, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc anh Hà Văn Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) anh đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0007376 ngày 07/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Hà Văn Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị T.
- Về án phí: Buộc anh Hà Văn Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) anh đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0007376 ngày 07/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Quỳnh Hoa |
Bản án số 42/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 42/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: anh Đ, chị TR
