trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG HƯNG

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HNGĐ- ST

Ngày 28/6/2024

V/v tranh chấp hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đình Cự và bà Nguyễn Thị Vĩnh .

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Giang - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 52/2024/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp về hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 22/2024/QĐ- ST ngày 20/6/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Kiều T, Sinh năm: 1993;

Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

- Bị đơn: Anh Bùi Đình D, Sinh năm: 1992;

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình.

(Các đương sự đều vắng mặt )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn ngày 22/01/2024 và trong quá trình tố tụng chị Phạm Thị Kiều T trình bày:

Chị và anh D kết hôn do tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình vào ngày 29/8/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường tại xã Đ quê mẹ đẻ chị T. Năm 2022 thì anh D đi làm ăn xa thỉnh thoảng anh D mới về nhà. Quá trình anh D đi làm ăn xa chị nghi ngờ anh D không chung thủy. Từ đó vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, anh D đã bỏ về xã Đ quê mẹ đẻ anh sinh sống còn chị T vẫn sinh sống cùng con tại xã Đ. Vợ chồng sống ly thân từ 2022 cho đến nay. Nay chị xác định nay tình cảm vợ chồng không còn, chị xin được ly hôn anh D.

Về con chung: Chị và anh D có 01 con chung là Phạm Ánh D1, sinh ngày 04/7/2017. Ly hôn chị T xin nuôi con không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con cùng chị.

Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết .

Trong quá trình tố tụng anh Bùi Quốc D2 là anh trai anh D trình bày: Chị T, anh D kết hôn do tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ vào năm 2014. Sau khi kết hôn vợ chồng về quê chị T ở xã Đ sinh sống được hai năm thì anh D đi làm ăn xa thỉnh thoảng mới về nhà. Việc vợ chồng mâu thuẫn thế nào anh D2 và gia đình không nắm được. Nay chị T xin ly hôn Tòa án có gừi các văn bản giao cho anh D anh D2 đã nhận và đều thông báo qua điện thoại cho anh D. Anh D cho rằng công việc bận mải nên không thể về được anh D đề nghị Tòa án cứ giải quyết việc ly hôn vắng mặt anh D. Về con chung: Anh D đề nghị giải quyết theo pháp luật. Anh D không yêu cầu giải quyết về tài sản. Anh D đề nghị Tòa án cứ giao văn bản cho anh D2 để anh D2 thông báo cho anh D qua điện thoại.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng phát biểu quan điểm việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi nghị án đúng quy định của pháp luật việc chấp hành pháp luật của chị T, đã tuân thủ quy định của pháp luật, còn anh D chưa tuân thủ quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 39, Điều 35, Điều 146, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án, lệ phí Tòa án; Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T xử cho chị được ly hôn anh D. Về con chung: giao con chung Phạm Ánh D1, sinh ngày 04/7/2017 cho chị T nuôi dưỡng đồng thời chấp nhận tự nguyện của chị T không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con cùng chị. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không giải quyết. Về án phí: Buộc chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, anh D vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào khoản 2, Điều 227, khoản 1, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh D.

[2]Về quan hệ hôn nhân: Chị T, anh D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuân. Nguyên nhân do chị T nghi ngờ anh D không chung thủy. Năm 2022 anh D đã bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống và không chung sống cùng mẹ con chị T, vợ chồng sống ly thân cho đến nay không quan tâm đến nhau. Nay chị T xác định vợ chồng không còn tình cảm chị xin ly hôn, anh D cũng đã biết việc chị T có đơn ly hôn, nhưng khi Tòa án triệu tập tham gia phiên hòa giải anh vẫn vắng mặt. Điều đó thể hiện việc anh D không còn thiết tha đoàn tụ, không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Xét thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần chấp nhận nguyện vọng của chị T, xử cho chị được ly hôn anh D là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về con chung: Chị T, anh D có 01 con chung là Phạm Ánh D1, sinh ngày 04/7/2017. Từ khi vợ chồng ly thân cháu D1 vẫn ở với chị T, chị T vẫn chăm sóc con chu đáo, cháu D1 vẫn phát triển bình thường. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu Dương c tiếp tục giao con Phạm Ánh D1, cho chị T nuôi dưỡng. chị T không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con cùng chị nên cần chấp nhận tự nguyện của chị T.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

[5] Về án phí: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu toàn bộ án dân sự sơ thẩm, theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 39, Điều 35, Điều 146, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án, lệ phí Tòa án; Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình. Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Kiều T được ly hôn anh Bùi Đình D.
  2. Về con chung: Giao con chung Phạm Ánh D1, sinh ngày 04/7/2017 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận tự nguyện của chị T không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con cùng chị.

    Anh D có quyền nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

    Vì lợi ích, theo yêu cầu của cha mẹ cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung: Không giải quyết.
  4. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0003157 ngày 11/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hưng thành tiền án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận :

  • - Các đương sự;
  • - VKS huyện Đông Hưng;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Thi hành án dân sự Đông Hưng;
  • - UBND xã Đông Xá
  • - Lưu Hồ sơ, Văn phòng .

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hà Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HNGĐ- ST ngày 28/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 42/2024/HNGĐ- ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Tr xin ly hôn anh D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger