|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 27/9/2024
V/v: Ly hôn,
tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Xuân Diễn.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thanh và ông Đinh Đức Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Viện - Kiểm sát viên
Trong ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 44/2024/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 5 năm 2024, về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31A/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 23 tháng 8 năm 2024, và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 13/9/2024, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị M.
Địa chỉ cư trú: khu K, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Anh Vũ Văn T.
Địa chỉ cư trú: khu K, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn, chị Phạm Thị M trình bày có nội dung như sau:
Chị và anh Vũ Văn T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, đăng ký kết hôn vào ngày 28/3/2022. Sau khi kết hôn hai người chung sống tại phường C thị xã Q được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không có hạnh phúc và không có tình thương yêu, về nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn do chị kết hôn với anh T là người chồng thứ hai nên không có sự tìm hiểu kỹ càng nên khi về chung sống phát sinh nhiều vấn đề hai người không phù hợp nhau, ngoài ra anh T đã bị Tòa án xử phạt tù về vi phạm pháp luật và sau khi đi chấp hành án xong nhưng anh T không chịu tu chí làm ăn, mà tiếp tục chơi bời cờ bạc dẫn đến nợ nần nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế cũng như hạnh phúc gia đình tù đó không quan tâm và không có trách nhiệm đến gia đình vợ con, để một mình chị lo toan gánh vác gia đình, chị có góp ý trao đổi thẳng thắn tạo điều kiện cho anh T sửa chữa nhưng anh T không thay đổi dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên đầu năm 2023 chị cùng con bỏ về bố mẹ đẻ tại khu K, phường M để ở và hai vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay, khi ly thân không ai quan tâm đến ai. Nay chị M xác định tình cảm vợ chồng dành cho nhau thực sự không còn, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được và để tạo lập cuộc sống riêng cho cả hai người nên chị đề nghị kiên quyết được ly hôn anh Vũ Văn T. Về con chung, chị và anh T sinh được một con chung là Vũ Trọng Đ, sinh ngày 19/10/2022 hiện đang ở cùng chị từ nhỏ, chị có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị, về tài sản chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 26/6/2024 và ngày 11/7/2024 anh T đều vắng mặt, chị M giữ nguyên quan điểm về việc yêu cầu được ly hôn anh T và vấn đề nuôi con cũng như cấp dưỡng như trên, về tài sản chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn, anh Vũ Văn T, quá trình giải quyết từ khi thụ lý vụ án anh T không hợp tác, Tòa án đã nhiều lần giao tài liệu, niêm yết theo luật định nhưng anh T đều không đến Tòa để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình cũng như trình bày quan điểm. Tòa án đã tiến hành điều tra xác minh tại địa phương để xác định nơi cư trú của anh T cũng như tình trạng mâu thuẫn gia đình, vợ chồng không hạnh phúc. Tòa án tiếp tục thu thập chứng cứ, ra Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai lần nhưng anh T đều vắng mặt, Tòa án đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa lần thứ nhất do anh T vắng mặt, Hội đồng xét xử (HĐXX) hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay anh T vẫn tiếp tục vắng mặt không có lý do nên HĐXX tiến hành xét xử theo luật định.
Tại phiên tòa chị M vẫn giữ nguyên quan điểm về vấn đề tình cảm là ly hôn anh Vũ Văn T và có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung đến tuổi thành niên, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị, về tài sản chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên phát biểu ý kiến về việc áp dụng pháp luật trong việc giải quyết vụ án của Thẩm phán và Thư ký đã tuân theo các quy định của pháp luật; tại phiên toà HĐXX đã thực hiện đầy đủ và đảm bảo quyền lợi của đương sự theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị M đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, anh T chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của BLTTDS; Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82, 83, Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, xử cho chị Phạm Thị M được ly hôn anh Vũ Văn T; về con chung, giao cho chị M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi), anh Vũ Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
-
Xét yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị M về tình cảm:
Chị Phạm Thị M và anh Vũ Văn T kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, đăng ký kết hôn theo quy định vào ngày 28/3/2022, đây là hôn nhân tự nguyện, hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh T không cùng chị M chăm lo hạnh phúc gia đình, để một mình chị lo toan gánh vác mọi việc trong nhà. Ngoài ra anh T sau khi chấp hành án xong án treo không tu chí cải sửa mà còn tham gia tệ nạn xã hội là cờ bạc, chơi bời ảnh hưởng đến kinh tế và hạnh phúc gia đình, mặc dù chị M tìm cách phân tích khuyên giải tạo điều kiện cho anh T sửa chữa thay đổi nhưng không đem lại kết quả, thực tế hai người đã sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay chứng tỏ tình cảm vợ chồng giữa hai người dành cho nhau đã thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, chị M kiên quyết muốn ly hôn anh T, HĐXX thấy rằng yêu cầu khởi kiện xin ly hôn anh T của chị M là có căn cứ nên áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83, Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M, xử cho chị M được ly hôn anh Vũ Văn T. - Về con chung của vợ chồng: Chị Phạm Thị M và anh Vũ Văn T sinh được 01 con chung tên là Vũ Trọng Đ, sinh ngày 19/10/2022 hiện đang ở cùng chị M từ nhỏ, chị M có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị. HĐXX thấy rằng anh T không quan tâm và không có trách nhiệm đến gia đình vợ con, hơn nữa không có mặt tại Tòa án để thể hiện quan điểm nên chị M có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến tuổi thành niên, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. HĐXX căn cứ tình trạng thực tế gia đình của chị M và anh T hiện nay thấy rằng nguyện vọng về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con của chị M là phù hợp với thực tế và cũng hợp lý nên HĐXX chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn chị Phạm Thị M.
- Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, HĐXX không đề cập đến.
- Về án phí: áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Phạm Thị M phải chịu án phí dân sự ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 235; khoản 4 Điều 147; Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn, chị Phạm Thị M; chị Phạm Thị M ly hôn anh Vũ Văn T.
-
Về con chung: giao cho chị Phạm Thị M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung tên là Vũ Trọng Đ, sinh ngày 19/10/2022 đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi), anh Vũ Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị M.
Không ai được ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung, khi cần thiết vì lợi ích của con, bên không trực tiếp nuôi con có quyền làm đơn yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không đề cập đến.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị M phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự ly hôn sơ thẩm, chị M đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đồng theo biên lai số 0003889, ngày 24/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, chị Phạm Thị M đã nộp đủ tiền án phí dân sự ly hôn sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/9/2024), báo cho bị đơn biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận :
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Xuân Diễn |
Bản án số 42/2024/HNGĐ - ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 42/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Phạm Thị My ly hôn anh Vũ Văn Thời
