Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẮK MIL

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 42/2024/DSST

Ngày: 27/9/2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Sỹ Thông.
  2. Ông Nguyễn Duy Chấn.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Mil tham gia phiên toà: Bà Lại Thị Huyền– Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đăk Mil xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 48/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 66/2024/QÐST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2024; quyết định tạm ngừng phiên tòa số 06/2024/QÐST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P1; Địa chỉ: Số D (Tầng trệt, tầng lửng, tầng 1, tầng 2 của Tòa nhà) và số D L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tiến N. Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Đ.

Người được ông Nguyễn Tiến N: Ông Nguyễn Văn B. Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ.

Địa chỉ: Số B L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk - Có mặt

Bị đơn: Ông Doãn Bá T, sinh năm 1974; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP P1 và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa thì:

Ngày 15/05/2017 Ngân hàng TMCP P1 - Chi nhánh Đ1 (Ngân hàng O) với ông Doãn Bá T đã ký hợp đồng tín dụng số 0799/2017/HĐTD-CN ngày 16/05/2017. Theo đó, Ngân hàng đồng ý cho ông Doãn Bá T vay số tiền là 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng), thời hạn vay 60 tháng kể từ ngày rút vốn lần đầu; lãi suất trong hạn 10.25%/năm; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; lãi suất chậm trả lãi 10 %/năm. Ông Doãn Bá T đã ký giấy nhận nợ và nhận số tiền trên tại Ngân hàng.

Tài sản thế chấp để bảo đảm cho khoản vay trên là quyền sử dụng đất thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42, địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 921116, số vào sổ cấp GCN: CH 01288 do UBND huyện K cấp ngày 28/12/2012, cập nhật chuyển nhượng ngày 13/04/2017, cập nhật địa chỉ người sử dụng đất ngày 9/5/2017 theo hợp đồng thế chấp số 0799/2017/BĐ ngày 16/05/2017 và đã được Văn phòng Công chứng Trung tâm chứng thực và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.

Về nghĩa vụ thanh toán: Sau khi vay, ông T mới trả được 32.952.333 đồng (ba mươi hai triệu chín trăm năm mươi hai nghìn ba trăm ba mươi ba nghìn đồng) tiền lãi. Số tiền gốc và tiền lãi phát sinh còn lại ông T không thực hiện. Ngân hàng đã có nhiều văn bản nhắc nợ và có rất nhiều buổi làm việc, cũng như đã tạo điều kiện cho ông T trả nợ đúng kỳ hạn cho Ngân hàng nhưng mọi thiện chí của đều không được ông T đáp trả.

Do đó Ngân hàng TMCP P1 khởi kiện yêu cầu ông Doãn Bá T phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng) tiền gốc và 201.567.607 đồng (hai trăm lẻ một triệu năm trăm sáu mươi bảy nghìn sáu trăm lẻ bảy đồng) đồng tiền lãi trong hạn, 433.502.625 đồng (bốn trăm ba mươi ba triệu năm trăm lẻ hai nghìn sáu trăm hai mươi lăm đồng) tiền lãi quá hạn tính đến ngày 27/9/2024 và lãi suất phát sinh theo hợp đồng cho đến khi thanh toán xong nợ.

Trường hợp ông Doãn Bá T không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP P1 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 0799/2017/BĐ ngày 16/05/2017 để thu hồi nợ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Doãn Bá T. Tuy nhiên, ông Doãn Bá T không có mặt tại Tòa án để làm việc.

Kết quả xem xét thẩm định thể hiện: Thửa đất số 65 tờ bản đồ số 42 diện tích 24.494 m2 (đất trồng cây lâu năm) tại thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đăk Nông theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 921166 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 28/12/2012 cho ông Lang Thanh H và bà Lang Thị P, cập nhật biến động tại trang 4 đã chuyển nhượng cho ông Doãn Bá T vào ngày 13/4/2017 đúng vị trí so với bản đồ địa chính.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tốdân sự: trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án đều đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng không hợp tác do đó HĐXX xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại Điều 227 BLTTDS.

Về nội dung vụ án: áp dụng các Điều 317, Điều 318, Điều 322, khoản 7 Điều 323, Điều 463, Điều 466; Điều 468; Điều 470 Bộ luật dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: buộc ông Doãn Bá T phải trả cho Ngân hàng TMCP P1 (O) – Chi nhánh Đ1 số tiền gốc theo hợp đồng cho vay là 600.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn, tiền lãi chậm trả đến ngày xét xử sơ thẩm theo quy định của pháp luật và phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất phát sinh theo hợp đồng cho đến khi thanh toán xong nợ.

Trong trường hợp ông T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP P1 (O) – Chi nhánh Đ1 được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42 tại thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 921166do UBND huyện K cấp ngày 28/12/2012 để thu hồi nợ.

Về chi phí tố tụng: áp dụng Điều 157 BLTTDS: ông T phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

Về án phí: áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 26 Nghị quyết 326/NQ – UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    1. Về quan hệ tranh chấp: Ngân hàng TMCP P1 khởi kiện yêu cầu ông Doãn Bá Thu thanh t tiền vay, đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
    2. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Doãn Bá T có nơi cư trú tại thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông do đó Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil thụ lý giải quyết là đúng quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
    3. Về sự vắng mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil đã triệu tập hợp lệ đối với ông Doãn Bá T nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về nội dung vụ án:
    1. Căn cứ hợp đồng tín dụng số 0799/2017/HĐTD-CN ngày 16/5/2017 thể hiện: Ngân hàng TMCP P1, chi nhánh Đ1 cho ông Doãn Bá T vay số tiền 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng); mục đích vay bổ sung vốn sản xuất nông nghiệp; thời hạn vay 60 tháng kể từ ngày rút vốn lần đầu; lãi suất trong hạn 10.25%/năm; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; lãi suất chậm trả lãi 10 %/năm. Ông Doãn Bá T đã được giải ngân đầy đủ.
    2. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Doãn Bá T nhưng ông T vẫn không tham gia tố tụng, không có ý kiến cũng như cung cấp các chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc để phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Điều 91 BLTTDS quy định:

2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó.

...

4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.

Như vậy căn cứ chứng cứ nguyên đơn cung cấp, HĐXX nhận định: Hợp đồng tín dụng giữa các bên thể hiện dưới hình thức văn bản, thể hiện rõ về số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất, phương thức thanh toán, quyền và nghĩa vụ của các bên, tuân thủ về phạm vi hoạt động, quy định lãi suất theo Điều 90, 91 của Luật Các tổ chức tín dụng, có ký xác nhận thể hiện sự tự nguyện của các bên, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, Hợp đồng tín dụng có hiệu lực pháp luật theo Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015.

    1. Về nghĩa vụ thanh toán nợ: Khi đến hạn thanh toán nợ, ông Doãn Bá T chỉ thanh toán 32.952.333 đồng (ba mươi hai triệu chín trăm năm mươi hai nghìn ba trăm ba mươi ba nghìn đồng) tiền lãi chưa thanh toán nợ gốc và lãi theo quy định của hợp đồng. Như vậy, ông T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi hợp pháp của Ngân hàng TMCP P1. Do đó, Ngân hàng TMCP P1 khởi kiện yêu cầu ông Thu thanh t nợ 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng) tiền gốc và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng là 201.567.607 đồng (hai trăm lẻ một triệu năm trăm sáu mươi bảy nghìn sáu trăm lẻ bảy đồng) đồng tiền lãi trong hạn, 433.502.625 đồng (bốn trăm ba mươi ba triệu năm trăm lẻ hai nghìn sáu trăm hai mươi lăm đồng) tiền lãi quá hạn tính đến ngày 27/9/2024 và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng cho đến khi trả xong nợ là có cơ sở chấp nhận.
    2. Về tài sản thế chấp: Các bên ký kết hợp đồng thế chấp số 0799/2017/BĐ ngày 16/5/2017, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 65 tờ bản đồ số 42 diện tích 24.494 m2 tại thôn N, xã N, huyện K tỉnh Đăk Nông được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 921166 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 28/12/2012 cho ông Lang Thanh H và bà Lang Thị P, cập nhật biến động tại trang 4 đã chuyển nhượng cho ông Doãn Bá T vào ngày 13/4/2017, hợp đồng được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K. Nội dung, hình thức của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất phù hợp với quy định tại các Điều 317, Điều 319 BLDS 2015; Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 về đăng ký giao dịch bảo đảm. Do đó, Hợp đồng thế chấp phát sinh hiệu lực. Yêu cầu của Ngân hàng TMCP P1 về xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong trường hợp ông Doãn Bá T không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số nợ là có cơ sở nên cần chấp nhận.
    3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, căn cứ Điều 157 BLTTDS, bị đơn phải có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng TMCP P1 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại cho Ngân hàng đã nộp và chi phí trong quá trình giải quyết vụ án.
    4. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.
    5. Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đăk Mil về việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 317, Điều 318, Điều 319 BLDS 2015; Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 về đăng ký biện pháp bảo đảm; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP P1 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
  2. Buộc ông Doãn Bá T phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP P1 số tiền 1.235.070.232 đồng (một tỷ hai trăm ba mươi lăm triệu không trăm bảy mươi nghìn hai trăm ba mươi hai đồng), trong đó có 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng) tiền gốc và 201.567.607 đồng (hai trăm lẻ một triệu năm trăm sáu mươi bảy nghìn sáu trăm lẻ bảy đồng) đồng tiền lãi trong hạn, 433.502.625 đồng (bốn trăm ba mươi ba triệu năm trăm lẻ hai nghìn sáu trăm hai mươi lăm đồng) tiền lãi quá hạn tính đến ngày 27/9/2024.
  3. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
  4. Trường hợp ông Doãn Bá T không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP P1 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 65 tờ bản đồ số 42 diện tích 24.494 m2 tại thôn N, xã N, huyện K tỉnh Đăk Nông được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 921166 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 28/12/2012 cho ông Lang Thanh H và bà Lang Thị P, cập nhật biến động tại trang 4 đã chuyển nhượng cho ông Doãn Bá T vào ngày 13/4/2017, theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0799/2017/BĐ ngày 16/5/2017 để thu hồi nợ.
  5. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Doãn Bá T phải hoàn trả choNgân hàng TMCP Phương Đông 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) Ngân hàng đã nộp và chi phí trong quá trình giải quyết vụ án.
  6. Về án phí DSST: Ông Doãn Bá T phải nộp 49.052.000 đồng (Bốn mươi chín triệu không trăm năm mươi hai nghìn đồng) án phí DSST. Trả lại cho Ngân hàng TMCP P1 24.531.000 đồng (Hai mươi bốn triệu năm trăm ba mươi mốt nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000480 ngày 16/01/2024 tại Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông.
  7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND huyện Đắk Mil;
  • - CC THADS huyện Đắk Mil;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Nguyễn Thị Thùy Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/DSST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 42/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP OCB , bị đơn Doãn Bá Thu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger