|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2024/HS-ST
Ngày 27-5-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Hưng.
2. Bà Trần Thị Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phượng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trịnh Đình G, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 16/10/1980 tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn D, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trịnh Đình B(đã chết); Con bà: Phạm Thị L, sinh năm 1958; Gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ hai; Bị cáo có vợ là Đinh Thị H năm 1990, có 03 con sinh năm 2015, 2018 và 2023; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2024 đến ngày 19/01/2024 thì chuyển tạm giam, đến ngày 01/02/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn là bảo lĩnh, đến ngày 19/4/2024 thì bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Bùi Như Q năm: 1997, nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn P, huyện C, tỉnh Thanh Hóa Vắng mặt.
- Chị Nguyễn Phương A năm: 2000, nơi cư trú: Thôn E, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội Vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Đinh Quang T năm: 1990, nơi cư trú: Thôn D, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa Vắng mặt.
- Anh Trần Duy P năm: 2005, nơi cư trú: Thôn G, xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hóa Vắng mặt.
- Chị Đỗ Thị V Al sinh năm: 1976, nơi cư trú: Khu phố B, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 16/01/2024, Tổ công tác của Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an huyện Y với Công an xã Đ hành kiểm tra hành chính nhà nghỉ M1 thuộc thôn T, xã Đ, huyện Y phát hiện tại phòng 203 và 205 có hai đôi nam, nữ đang thực hiện hành vi mua, bán dâm. Cơ quan điều tra tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trịnh Đình G1 lễ tân quản lý nhà nghỉ. Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 điện thoại Nokia 1280 màu đen bên trong có gắn sim số thuê bao 0343.642.998, 01 máy tính bảng Huawei MediaPad T3 10 màu xám bên trong gắn số thuê bao 0383.234.260, 01 điện thoại OPPO F11 màu tím bên trong có gắn 02 sim số thuê bao 0368.441.877 và 0963.500.197, 01 điện thoại Nokia 105 màu xanh bên trong gắn sim số thuê bao 0946.710.023. Thu giữ của G01 tờ tiền polyme mệnh giá 200.000đ. Thu giữ tại phòng 203 một tờ tiền polyme mệnh giá 500.000đ, 01 vỏ bao cao su đã bị xé rách và 01 bao cao su đã qua sử dụng. Thu giữ tại phòng 205: Số tiền 700.000đ gồm 01 tờ tiền polyme mệnh giá 500.000đ và 02 tờ tiền polyme mệnh giá 100.000đ, 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu VIP đã bị xé rách và 01 bao cao su đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra đã chứng minh được: Trịnh Đình G1 nhân viên lễ tân kiêm trực tiếp quản lý nhà nghỉ M. Chiều ngày 16/01/2024, Trần Duy P1 (sinh năm 2005, ở thôn G, xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hóa) và Đinh Quang T1 (sinh năm 1990, ở thôn D, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa) đến nhà nghỉ M1 mục đích thuê phòng nghỉ để mua dâm. Khi đến nhà nghỉ M2 P vào trước và được G2 lên phòng 203, còn T2 sau được xếp lên phòng 205. Sau khi lên phòng khoảng 20 phút, T3 gặp G3 “ở đây có gái không”, G4 lặng không nói gì thì T4 cho G 200.000đ và nói “anh xem có không gọi cho em hai đứa, em còn thằng em đang ở phòng 203”. Lúc này, G sử dụng điện thoại Nokia 1280 gọi cho Bùi Như Q1 (sinh năm 1997, ở Tổ dân phố T, thị thấn P, huyện C, tỉnh Thanh Hóa) hỏi “em có đi khách không”, Q2 lời là “có”, G5 “có hai khách đang ở nhà nghỉ M, có đi thì đến luôn đi”. Lúc này, Q3 ngồi ăn bún cùng Nguyễn Phương A1 (sinh năm 2000, ở thôn E, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội) tại chợ B1, xã Đ, huyện Y Q nói chuyện điện thoại nên biết được việc G6 cho Q đến nhà nghỉ M1 bán dâm và có 02 khách, nên xin Q4 cùng. (Số điện thoại của Q được G7 trong danh bạ là “Gai Yen”, trước đây Q5 một vài lần đến nhà nghỉ M3 phòng nghỉ và dặn G8 có người mua dâm thì gọi cho Q nên G9 số điện thoại của Q
Khi Q và Phương A2 nhà nghỉ M1 G bảo Q lên phòng 203 còn Phương A lên phòng 205 và dặn thu của mỗi khách 500.000đ, xong cắt lại cho G 100.000đ. Q và Phương A3 phòng báo giá cho P2 T Trước khi thực hiện hành vi quan hệ tình dục (mua bán dâm) P đưa cho Q 500.000đ là tiền mua dâm; T đưa cho P3 A 700.000đ gồm 500.000đ là tiền mua dâm và 200.000đ là tiền “bo” cho Phương A S đó, khi P2 Q T và Phương A1 đang thực hiện hành vi mua, bán dâm tại các phòng nghỉ 203 và 205 thì bị Công an huyện Y quả tang, thu giữ các vật chứng như đã nêu trên.
Toàn bộ số vật chứng thu giữ khi bắt quả tang đối với Trịnh Đình G10 được bảo quản, chờ xử lý theo quy định.
Tại Cơ quan điều tra, Trịnh Đình G11 thành khẩn khai báo thừa nhận hành vi cho 02 khách thuê phòng tại nhà nghỉ M4 mua dâm và gọi 02 gái mại dâm đến nhà nghỉ B2 02 khách mua dâm.
Tại bản cáo trạng số 40/CT-VKSYĐ ngày 10/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố Trịnh Đình G về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Trịnh Đình G khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định luận tội giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Trịnh Đình G phạm tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự. Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 327, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Đình G từ 18 đến 21 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 42 tháng, không áp dụng hình phạt bổ sung. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Nokia 1280 màu đen và số tiền 1.400.000đ; Tịch thu tiêu hủy 01 sim số thuê bao 0343.642.998, 02 vỏ bao cao su đã bị xé rách và 02 bao cao su đã qua sử dụng; trả lại cho chủ sở hữu: 01 máy tính bảng Huawei MediaPad T3 10 màu xám bên trong gắn số thuê bao 0383.234.260, 01 điện thoại OPPO F11 màu tím bên trong có gắn 02 sim số thuê bao 0368.441.877 và 0963.500.197 và 01 điện thoại Nokia 105 màu xanh bên trong gắn sim số thuê bao 0946.710.023. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh:
Thông qua tranh tụng tại phiên toà, bị cáo Trịnh Đình G hoàn toàn thừa nhận: Vào chiều ngày 16/01/2024, tại nhà nghỉ M ở thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hoá Trịnh Đình G là nhân viên lễ tân kiêm trực tiếp quản lý nhà nghỉ, Trịnh Đình G có hành vi cho 02 khách thuê phòng để mua dâm và gọi 02 gái bán dâm đến nhà nghỉ để bán dâm cho 02 khách mua dâm, hưởng lợi số tiền 200.000đ. Khi khách mua dâm và gái bán dâm đang thực hiện hành vi mua, bán dâm tại các phòng nghỉ 203 và 205 thì bị Công an huyện Y quả tang.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, HĐXX xét thấy đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố bị cáo theo tội danh trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và quan hệ pháp luật xâm phạm: Tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục, đạo đức tốt đẹp của người Việt Nam. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố và bà nội là người có công với cách mạng, nên được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt:
Từ việc đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt nêu trên, HĐXX xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo ở ngoài cộng đồng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo để giáo dục mà chỉ cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ để răn đe, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 điện thoại Nokia 1280 màu đen thu giữ của bị cáo là công cụ phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Đối với 01 sim số thuê bao 0343.642.998 gắn bên trong điện thoại này thì tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với số tiền 1.400.000đ (gồm 02 tờ mệnh giá 500.000đ, 01 tờ mệnh giá 200.000đ và 02 tờ mệnh giá 100.000đ) thu giữ của bị cáo và thu giữ tại phòng 203, 205 là tiền liên quan đến tội phạm nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- - Đối với 02 vỏ bao cao su đã bị xé rách và 02 bao cao su đã qua sử dụng thì tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 máy tính bảng Huawei MediaPad T3 10 màu xám bên trong gắn số thuê bao 0383.234.260 thu giữ của bị cáo: Xét thấy đây không phải là công cụ, phương tiện phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- - Đối với 01 điện thoại OPPO F11 màu tím bên trong có gắn 02 sim số thuê bao 0368.441.877 và 0963.500.197 thu giữ của chị Bùi Như Q thấy đây không phải là công cụ, phương tiện phạm tội nên trả lại cho chị Q
- - Đối với 01 điện thoại Nokia 105 màu xanh bên trong gắn sim số thuê bao 0946.710.023 thu giữ của chị Nguyễn Phương A thấy đây không phải là công cụ, phương tiện phạm tội nên trả lại cho chị Nguyễn Phương A
[7] Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về các vấn đề khác có liên quan đến vụ án:
Đối với chị Đỗ Thị V A là chủ nhà nghỉ M1 vào tháng 8/2023 chị V A đã hợp đồng thuê bị cáo Trịnh Đình G lễ tân và trực tiếp quản lý nhà nghỉ trong thời gian G làm việc. Ngày 16/01/2024, chị V A không biết việc bị cáo G mại dâm tại nhà nghỉ nên không xử lý chị V A với vai trò đồng phạm với bị cáo G đúng quy định của pháp luật.
Hành vi mua, bán dâm của anh T Nguyễn Phương A bị Công an huyện Y quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Hành vi của chị Đỗ Thị V A đã được Công an huyện Y quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 327, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 và khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Trịnh Đình G phạm tội “Chứa mại dâm”.
- Xử phạt bị cáo Trịnh Đình G 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước các vật chứng gồm:
- + 01 điện thoại Nokia 1280.
- + Số tiền 1.400.000đ (gồm 02 tờ mệnh giá 500.000đ, 01 tờ mệnh giá 200.000đ và 02 tờ mệnh giá 100.000đ) được đựng trong 01 phong bì niêm phong, mặt sau có 05 hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh T và các chữ ký đứng tên Lê Quang M Trịnh T
- - Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:
- + 01 thẻ sim số thuê bao 0343.642.998 (gắn bên trong điện thoại Nokia 1280).
- + 02 vỏ bao cao su đã bị xé rách và 02 bao cao su đã qua sử dụng, được đựng trong 02 phong bì niêm phong, mặt trước có ghi “203”, “205”, mặt sau có các hình dấu tròn đỏ của Công an xã Đ các chữ ký niêm phong.
- - Tuyên trả lại cho bị cáo Trịnh Đình G máy tính bảng Huawei MediaPad T3 10 màu xám bên trong gắn số thuê bao 0383.234.260.
- - Tuyên trả lại cho chị Bùi N Q 01 điện thoại OPPO F11 màu tím bên trong có gắn 02 sim số thuê bao 0368.441.877 và 0963.500.197.
- - Tuyên trả lại cho chị Nguyễn P A 01 điện thoại Nokia 105 màu xanh bên trong gắn sim số thuê bao 0946.710.023.
- Về án phí: Buộc bị cáo Trịnh Đình G phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Các vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định, theo phiếu nhập kho số NK 45 ngày 17/4/2024.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Thanh Hoá;
- - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
- - VKSND huyện Yên Định;
- - Công an huyện Yên Định;
- - Chi cục THADS Yên Định;
- - Bị cáo;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- - Lưu hồ sơ.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Dung |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị D |
Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 27/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa về chứa mại dâm
- Số bản án: 42/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Chứa mại dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử Trịnh Đình G phạm tội chứa mại dâm
