Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 42/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26/7/2024

V/v Ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Lệ

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Thế Nam
  2. Ông Hoàng Thanh Tâm

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Bùi Minh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Bình – Kiểm sát viên.

Vào ngày 26/7/2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 138/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 77/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12/7/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Ngọc N, sinh năm 1980. Địa chỉ: số F, khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
  2. Bị đơn: Ông Phan Hữu H, sinh năm 1978. Địa chỉ: số A L, khu phố A, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

(Bà N và ông H vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 11/3/2024, các lời khai bổ sung nguyên đơn bà Huỳnh Thị Nhọc N trình bày: Bà và ông Phan Hữu H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1994, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn X vào ngày 28/5/2003, đây là hôn nhân lần đầu của cả hai. Ông, bà có 01 con chung là anh Phan Hữu Q, sinh ngày 26/12/1995.

Sau khi kết hôn ông, bà sống hạnh phúc đến năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông H là tài xế, thường đi làm xa nhà và chung sống có 02 người con với người phụ nữ khác. Việc này gia đình, bạn bè thân thiết đều biết và có lần chính người phụ nữ đó còn liên lạc và nói cho bà biết. Trước đây, bà và con trai đã cho ông H cơ hội nhưng ông vẫn không dứt khoát, dây dưa được khoảng vài năm thì quay lại chung sống với người phụ nữ đó. Năm 2022, bà nộp đơn yêu cầu ly hôn nhưng sau đó rút đơn để cho ông H thêm một cơ hội nhưng ông vẫn không thay đổi, đến nay bà nhận thấy không thể tiếp tục chung sống, tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với ông H.

Ông, bà không có tài sản chung và nợ chung, con chung đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.

Chứng cứ: tự khai, căn cước công dân, giấy đăng ký kết hôn, khai sinh, đơn đề nghị không hòa giải, đối thoại, đơn xin vắng mặt.

  • Bị đơn ông Phan Hữu H vắng mặt nên không có lời trình bày

Chứng cứ: không có.

  • Các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập: Không có.
  • Ý kiến của kiểm sát viên:
  • Về việc tuân theo pháp luật của Tòa án và đương sự trong việc giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Những người tham gia tố tụng cũng chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bà N có đơn xin vắng mặt, ông H được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nên Tòa án xét xử vắng mặt ông bà là đúng quy định.

  • Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N. Ông, bà không có tài sản chung và nợ chung, con chung đã đủ tuổi trưởng thành và có khả năng lao động nên không xem xét. Bà N chịu án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: bà Huỳnh Thị Ngọc N có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Phan Hữu H nên xác định bà N là nguyên đơn, ông H là bị đơn trong vụ án. Do bà N có đơn xin vắng mặt, ông H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nên Tòa án căn cứ điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông bà.

[2] Về quan hệ hôn nhân: bà Huỳnh Thị Ngọc N và ông Phan Hữu H có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Ông H vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án, tuy nhiên qua lời trình bày của bà N và lời khai của anh Q (con ruột của ông bà) thì thấy ông bà đã xảy ra mâu thuẫn từ lâu, bà N cho rằng ông H đã chung sống và có con với người phụ nữ khác, ông bà đã ly thân nhiều năm, không còn chung sống và quan tâm chăm sóc nhau.

Kết quả xác minh tại công an phường X cho thấy ông H làm tài xế xe chở hàng khu vực miền T, ông vẫn thường về và sinh sống tại số A L, khu phố A, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (nhà mẹ ruột). Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng qua đường bưu điện cho ông H (người nhận là chị T em ruột ông H), tuy nhiên ông không phản hồi, không đến Tòa án làm việc, điều này cho thấy ông không có mong muốn, thiện chí hòa giải.

Bà N nộp đơn ly hôn một lần vào năm 2022, sau đó rút đơn nhưng vợ chồng vẫn không hàn gắn được và tiếp tục sống ly thân cho đến nay. Từ đó cho thấy giữa ông, bà không có khả năng hoà giải, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn thật sự trầm trọng nên chấp nhận cho bà N ly hôn với ông H.

[3] Về con chung: đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên không xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự khai không có nên không xem xét.

[5] Về án phí: bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.

[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố L phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 28, 35, 147, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • Về quan hệ hôn nhân: bà Huỳnh Thị Ngọc N ly hôn ông Phan Hữu H.
  • Về con chung: Đã đủ tuổi trưởng thành và có khả năng lao động nên không xem xét.
  • Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự khai không có nên không xem xét.
  • Về án phí: Bà Huỳnh Thị Ngọc N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà N nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh theo biên lai thu số 0005055 ngày 11/3/2024 thành tiền án phí, bà N đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • Các đương sự;
  • VKSND TP. Long Khánh;
  • Lưu án văn;
  • Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Mỹ Lệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HNGĐ-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn

  • Số bản án: 42/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger