Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HS-PT.

Ngày: 26/4/2024.

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hữu

Các Thẩm phán: Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng

Bà Tôn Thị Thanh Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lâm Dạ Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 32/2024/TLPT-HS ngày 12 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo Quách Sơn V, Nguyễn Phương B, Huỳnh Ngọc T, Phạm Thị Kim A, Nguyễn Thị Hồng H, Phù Chí T1, Phan Thị H1, Lê Thị M, Nguyễn Thị Thanh T2 do có kháng cáo của các bị cáo Quách Sơn V, Nguyễn Phương B, Phạm Thị Kim A, Huỳnh Ngọc T, Phù Chí T1, Phan Thị H1, Lê Thị M, Nguyễn Thị Thanh T2 và người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Thị Hồng H là bà Nguyễn Thị Hồng D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HS-ST ngày 01 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị cáo có kháng cáo:

  1. Quách Sơn V; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1972; tại: TP .; nơi thường trú: số G, đường Đ, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: kinh doanh bất động sản; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quách T3 (chết); con bà Bùi Thị K (chết); có vợ và 02 người con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 11/10/2023 cho đến nay. (có mặt)
  2. Nguyễn Phương B; sinh ngày 01 tháng 7 năm 1987; tại: Kiên Giang; nơi thường trú: tổ A, khu phố F, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc T4, sinh năm 1962; con bà Võ Thị C, sinh năm 1966; có vợ và 02 người con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/8/2023 cho đến nay. (có mặt)
  3. Huỳnh Ngọc T; tên gọi khác: Gái; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1979; tại: Sóc Trăng; nơi thường trú: số E, đường D, Khóm B, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: H (chết); con bà Ngô Thị T5, sinh năm 1955; có chồng và 02 người con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/8/2023 cho đến nay. (có mặt)
  4. Phạm Thị Kim A; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1981; tại: V, Bạc Liêu; nơi thường trú: số C, đường V, Khóm I, P, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; hiện tại số: 272, đường T, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C1, sinh năm 1957; con bà Trần Thị C2, sinh năm 1957; có chồng, chưa có con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/8/2023 cho đến nay. (có mặt)
  5. Phù Chí T1; sinh ngày 09 tháng 9 năm 1992; tại: Kiên Giang; nơi thường trú: khu phố D, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phù Quốc V1, sinh năm 1970; con bà Phan Thị Hoàng Y, sinh năm 1972; có vợ, có 03 người con; tiền án, tiền sự: không; về nhân thân: vào ngày 30/12/2011 bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang tuyên phạt 09 tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”, đã xóa án tích; vào ngày 15/11/2016 bị Tòa án nhân tỉnh Kiên Giang tuyên phạt 03 năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích”, đã xóa án tích; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/10/2022 cho đến nay. (có mặt)
  6. Phan Thị H1; sinh ngày 21 tháng 01 năm 1992; tại: L, Sóc Trăng; nơi thường trú: số G (số mới 68), ấp N, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn T6, sinh năm 1964; con bà Trần Thị T7, sinh năm 1965; có chồng; chưa có con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/10/2023 cho đến nay. (có mặt)
  7. Lê Thị M, tên gọi khác: Bạch Mai; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1969; tại: Sóc Trăng; nơi thường trú: số H LK9, đường số G, KĐT 5A, Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; nơi ở hiện tại: số D L, đường số F, KĐT 5A, Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: kinh doanh bất động sản; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn M1 (chết); con bà Hà Thị T8 (chết); có chồng và 02 người con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 11/01/2024 cho đến nay. (có mặt)
  8. Nguyễn Thị Thanh T2; sinh ngày 01 tháng 4 năm 1988; tại: thành phố S; nơi thường trú: số E, đường T, ấp C, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: mua bán; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Kiên G, sinh năm 1958; con bà Nguyễn Thị T9, sinh năm 1960; có chồng và 01 người con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/10/2023 cho đến nay. (có mặt)

- Bị cáo bị kháng cáo: Nguyễn Thị Hồng H; sinh ngày 31 tháng 5 năm 1982; tại: An Giang; nơi thường trú: số A, đường N, Khóm B, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; nơi ở hiện tại: số A, đường số B, KĐT 5A, Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh S (chết); con bà Lê Thị P, sinh năm 1954; có chồng và 02 người con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/8/2023 cho đến nay. (có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Ngọc T: Ông Võ Hoàng A1-Luật sư của văn phòng L Võ Hoàng A1, thuộc đoàn luật sư tỉnh S; Địa chỉ: Số 1, Quốc lộ A, Khóm C, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị M: Ông Huỳnh Hồng T10-Luật sư của Văn phòng L, thuộc Đoàng luật sư tỉnh S; Địa chỉ: Số A, đường T, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Hồng H: Ông Lê Minh T11-Luật sư của Văn phòng L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh S; Địa chỉ: Số: 901/13 Quốc lộ A, Khóm C, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh T2: Ông Nguyễn Hùng V2-Luật sư của Văn phòng luật sư Nguyễn Hùng V2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh S; Địa chỉ: Số A T, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Thị Hồng H: Bà Nguyễn Thị Hồng D: Sinh năm 1985; Nơi cư trú: Số A D, đường T, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Nguyễn Thanh N; Sinh ngày: 01/02/1980; Nơi cư trú: L, đường N, KĐT 5A, Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
  2. Ông Từ Phi H2; Sinh ngày 02/10/1987; Nơi cư trú: Số A, đường N, Khóm C, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở: Số G, Quốc lộ A, Khóm C, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt)
  3. Ông Nguyễn Quốc T12; Sinh ngày 06/9/1989; Nơi cư trú: Số H đường B, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; (vắng mặt)

- Những người dưới đây không liên quan đến kháng cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập gồm: các bị cáo Trần Văn Đ, Nguyễn Minh T13, Trương Thùy T14, Tiên Mỹ K1; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án gồm các ông/bà Nguyễn Minh C3, Huỳnh Thu T15, Thái Thu T16, Lưu Hoài Đ1, Ngô Thị T17.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

  1. Về hành vi của bị cáo Quách Sơn V
  2. Vào khoảng đầu năm 2021, sau khi được thầu số đề cấp trên tại Thành phố Hồ Chí Minh (chưa rõ nhân thân lai lịch) cấp cho tài khoản đánh bạc, gồm nhiều hình thức lô đề của nhiều đài xổ số kiến thiết thuộc ba miền B - T - N. trên trang Wed Loto666.com (gọi tắt là loto), thì QV cấp lại cho Nguyễn Thanh N với tài khoản HK202 mật khẩu (qqqq1111). Vũ hưởng 05% trên lợi nhuận thu được từ việc mua bán lô đề trên tài khoản được cấp. Tỷ lệ giá và tỷ lệ cá cược thắng thua do nhà cái cấp cài mặc định sẵn trên hệ thống.

    Hằng ngày, Nguyễn Thanh N gôm lô đề của cấp dưới rồi chuyển lên cho V bằng cách gửi lô đề lên loto thông qua tài khoản của N, căn cứ vào kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết của các đài trong nước, hệ thống loto sẽ tự tính ra kết quả thắng thua. Thứ hai hàng tuần Vũ sẽ thanh toán với N, chủ yếu là chuyển khoản, N giao Từ Phi H2 đứng ra chung chi, giao nhận tiền với V, khi chuyển khoản thành công sẽ thông báo cho nhau thông qua việc gởi thông báo chuyển khoản thành công trên ứng dụng Zalo.

    Tổng số tiền đánh bạc của bị cáo Quách Sơn V từ ngày 14/11/2021 đến ngày 26/11/2021 là 60.286.958.500 đồng, trong đó tổng tiền mua đề là 31.310.165.700 đồng, tổng tiền trúng thưởng là 28.976.792.800 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 2.333.372.900 đồng. Tuy nhiên, do ngày 26/11/2021 bị phát hiện, chưa kịp thanh toán (700.677.700 đồng) nên số tiền thu lợi bất chính V thực tế đã nhận là 1.632.695.200 đồng.

  3. Về hành vi của bị cáo Nguyễn Phương B
  4. Nguyễn Phương B là thầu tay em của Nguyễn Thanh N, từ khoảng tháng 9/2021, thời gian đầu Nguyễn Phương B nhận mua số đề của Nguyễn Thị Vân A2 rồi chuyển cho N thông qua T12 để hưởng tiền chênh lệch (hoa hồng) được khoảng 03 - 04 ngày, nhưng do thường xuyên bị sai sót, nhầm lẫn số tiền nên sau đó, Nguyễn Phương B để Nguyễn Thị Vân A2 chuyển lô đề trực tiếp cho N. Nguyễn Phương B chỉ theo dõi trên số liệu tổng, kết quả thắng thua và trực tiếp chung chi tiền lô đề với anh N và tay em thông qua tài khoản.

    Từ ngày 14/11/2021 đến ngày 26/11/2021, tổng số tiền đánh bạc của Nguyễn Phương B là 2.997.723.700 đồng, trong đó tổng số tiền mua đề 1.619.023.700 đồng, tổng số tiền trúng thưởng 1.378.700.000 đồng; tổng số tiền bị cáo thua 240.327.700 đồng; bị cáo thu lợi bất chính thông qua việc hưởng tiền hoa hồng số tiền 5.000.000 đồng.

  5. Hành vi của bị cáo Huỳnh Ngọc T
  6. Trong quá trình điều tra, Huỳnh Ngọc T không thừa nhận hành vi phạm tội. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, cụ thể: N hay đến quán của bị cáo uống cà phê; qua các lần trò chuyện với nhau Thùy biết N nhận số đề nên bị cáo T mới nhận ghi số đề của người mua rồi giao lại cho anh N để hưởng tiền chênh lệch. Anh N trực tiếp nhận lô đề của Huỳnh Ngọc T qua tài khoản Zalo "Thuy” có ảnh đại diện của T, với số điện thoại 0847.383.xxx, bằng hình thức gửi tin nhắn. Sau đó, N copy tin nhắn phơi đề chuyển cho Nguyễn Quốc T12 tổng hợp tính tiền thắng thua rồi báo kết quả về cho N. Sau khi có kết quả, N giao cho Từ Phi H2 đi chung chi tiền thắng thua lô đề với T.

    Từ ngày 14/11/2021 đến ngày 26/11/2021, tổng số tiền đánh bạc của Huỳnh Ngọc T là 2.284.249.400 đồng, trong đó tổng số tiền mua đề 1.137.449.400 đồng, tổng số tiền trúng thưởng 1.146.800.000 đồng; bị cáo thu lợi bất chính 9.350.600 đồng.

  7. Hành vi của bị cáo Phạm Thị Kim A
  8. Trong quá trình điều tra, bị cáo Kim A chưa thần khẩn thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; bị cáo trình bày việc gửi tin nhắnn mua số đề cho N là do bị cáo trực tiếp chơi và không thừa nhận số tiền đánh bạc theo như kết luận của cơ quan điều tra. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, là: hằng ngày, từ Thứ Hai đến C bị cáo nhận mua số đề của một số người chơi tại chợ P, thành phố S của các đài M, Miền B1 và Miền T18 rồi giao lại cho N để hưởng tiền chênh lệch; anh N là người trực tiếp nhận lô đề của bị cáo qua tin nhắn Zalo của Kim A. Sau đó, N chuyển giao cho Nguyễn Minh C3 tiếp tục dùng Zalo "Lee Nguyen” nhận lô đề của bị cáo. Khi nhận được tin nhắn của bị cáo Kim A thì N, C3 coppy tin nhắn chuyển cho Nguyễn Quốc T12 tổng hợp, tính tiền thắng thua hằng ngày. Sau khi có kết quả, N giao cho Từ Phi H2 đi chung chi tiền thắng thua lô đề với Kim A.

    Từ ngày 14/11/2021 đến ngày 26/11/2021, tổng số tiền đánh bạc của Phạm Thị Kim A là 1.820.289.800 đồng, trong đó tổng số tiền mua đề 1.004.159.800 đồng, tổng số tiền trúng thưởng 816.130.000 đồng; bị cáo thu lợi bất chính được 9.500.000 đồng.

  9. Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh T13
  10. Trong quá trình điều tra, bị cáo T13 cho rằng bị cáo là người trực tiếp mua số đề với anh N. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo cho rằng bị cáo gôm số đề của một số người chơi rồi giao lại cho anh N để hưởng tiền chênh lệch, cụ thể: khi có người gửi tin nhắn mua số đến điện thoại của bị cáo thì bị cáo coppy tin nhắn này gửi cho anh N thông qua tài khoản zalo của bị cáo để gửi cho anh N nhưng người nhận tin nhắn của bị cáo T13 là Nguyễn Quốc T12; mỗi ngày bị cáo thu được khoảng 300.000 đông đến 400.000 đồng tiền lời. Sau khi có kết quả thắng thua, thì anh N giao cho Từ Phi H2 đi chung chi tiền thắng thua số đề với T13.

    Từ ngày 14/11/2021 đến ngày 26/11/2021, tổng số tiền đánh bạc của Nguyễn Minh T13 là 472.736.100 đồng, trong đó tiền mua đề 255.866.100 đồng, tiền trúng thưởng 216.870.000 đồng; bị cáo thu lợi bất chính được 1.300.000 đồng.

  11. Hành vi của bị cáo Phù Chí T1
  12. Vào khoảng tháng 10/2021, Phù Chí T1 quen biết với Nguyễn Thanh N. Biết N là thầu số đề lai thấp nên T1 mới mua số đề hàng ngày với N. Hằng ngày, T1 dùng qua điện thoại và tài khoản Z “Dương Big” đăng ký bằng số điện thoại số 0704.526.xxx nhắn tin mua số đề các đài M, Miền B1 và Miền T18 từ Thứ Hai đến Chủ Nhật với các hình thức bán số đầu đuôi, lô 02 con, lô với N. Nhàn giao Nguyễn Quốc T12 là người nhận lô đề từ tài khoản Zalo của T1, sau khi có kết quả thắng thua hằng ngày, T12 báo kết quả về cho N, N giao cho Từ Phi H2 chung chi với T1 thông qua chuyển khoản ngân hàng.

    Từ ngày 14/11/2021 đến ngày 25/11/2021, tổng số tiền đánh bạc của Phù Chí T1 với N là 860.136.500 đồng, trong đó tổng số tiền mua đề 465.086.500 đồng, tổng số tiền trúng thưởng 395.050.000 đồng; tổng số tiền bị cáo thua 70.036.500 đồng.

  13. Hành vi của bị cáo Trần Văn Đ
  14. Trong quá trình điều tra, Trần Văn Đ chưa thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, cụ thể: nhà bị cáo Đ ở gần nhà của Nguyễn Thanh N, nên biết N nhận mua số đề nên bị cáo Đ mua số đề với Nhàn, bằng hình hai hình thức:

    - Một là, bị cáo Đ gửi tin nhắn cho N, sau đó N chuyển cho T12 để tổng hợp, căn cứ số liệu được trích xuất từ điện thoại của T12, được T12 và N giải trình xác định ngày 25/11/2021 tổng số tiền Đ mua số đề đài Tây Ninh, Binh T19 và An Giang là 75.531.000 đồng; đài H4 là 50.850.000 đồng; ngày 26/11/2021 tổng số tiền Đ mua đài M là 73.635.000 đồng.

    - Hai là, N có cấp cho Đ tài khoản T20 (total.aduc) để thực hiện việc mua số đề. Từ ngày 14/11/2021 đến ngày 26/11/2021 tổng số tiền đánh bạc của bị cáo Đ trên Loto666 là 7.341.616.800 đồng, trong đó tiền mua đề 3.771.336.800 đồng, tiền trúng thưởng 3.570.280.000 đồng, bị cáo Đ thua 201.065.800 đồng (trừ ngày 26/11/2021 chưa thanh toán thì bị cáo Đ còn thua 9.054.200 đồng).

  15. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Hồng H
  16. Bị cáo H không thừa nhận hành vi phạm tội nhưng căn cứ vào các lời khai nhận và kết quả giải trình tiền mua bán lô đề của Nguyễn Thanh N, Nguyễn Quốc T12, Từ Phi H2, Huỳnh Thu T15 và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Nhàn trực tiếp nhận lô đề của Nguyễn Thị Hồng H qua tài khoản Zalo “Tho” hình cánh buồm được H đăng ký bằng số 0974.024.011, bằng hình thức gửi tin nhắn. Sau đó, N chuyển giao lại cho Huỳnh Thu T15 nhận lô đề của H. Sau khi nhận được tin nhắn mua số đề của H thì N, T15 coppy tin nhắn chuyển cho Nguyễn Quốc T12 tổng hợp, tính tiền thắng thua hằng ngày rồi báo kết quả về cho N. Sau khi có kết quả, N giao cho Từ Phi H2 chung chi tiền thắng thua lô đề với H.

    Từ ngày 14/11/2021 đến ngày 26/11/2021, tổng số tiền đánh bạc của Nguyễn Thị Hồng H là 688.005.300 đồng, trong đó tổng số tiền mua đề 373.180.300 đồng, tổng số tiền trúng thưởng 314.825.000 đồng; bị cáo thua 58.355.300 đồng.

  17. Hành vi của bị cáo Lê Thị Mai
  18. Trong quá trình điều tra, bị cáo Lê Thị M chưa thừa nhận hành vi phạm tội. Tuy nhiên, căn cứ vào các lời khai nhận và kết quả giải trình tiền mua bán lô đề của Nguyễn Thanh N, Nguyễn Quốc T12, Từ Phi H2 và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định: Nhàn trực tiếp nhận lô đề của Lê Thị M qua tài khoản Zalo “Bạch Mai” có ảnh đại diện của M, được đăng ký bằng số 0949189284 và tài khoản Zalo, đăng ký bằng số 0906798696, bằng hình thức gửi tin nhắn. Sau đó, N coppy tin nhắn chuyển cho Nguyễn Quốc T12 tổng hợp, tính tiền thắng thua hằng ngày rồi báo lại cho N. Sau khi có kết quả, N giao cho Từ Phi H2 chung chi tiền thắng thua số đề với bị cáo M.

    Từ ngày 14/11/2021 đến ngày 26/11/2021, tổng số tiền đánh bạc của bị cáo Lê Thị M là 256.126.200 đồng, trong đó tổng số tiền mua đề 166.976.200 đồng, tổng số tiền trúng thưởng 89.150.000 đồng; bị cáo thua 77.826.200 đồng.

  19. Hành vi của bị cáo Phan Thị H1
  20. Phan Thị H1 mua bán lô đề, thắng thua trực tiếp với Lưu Hoài Đ1, cụ thể: từ ngày 06/11/2021 đến ngày 26/11/2021 hằng ngày (trừ ngày 17/11/2021) bị cáo H1 nhắn tin mua số đề của anh Đ1 bằng hình thức gửi tin nhắn từ tài khoản zalo của bị cáo H1 qua zalo của anh Đ1. Sau khi có kết quả thắng thua, H1 tiến hành chung chi với Đ1.

    Từ ngày 06/11/2021 đến ngày 25/11/2021, Phan Thị H1 tham gia mua số lô, số đề của Lưu Hoài Đ1 với tổng số tiền đánh bạc 977.915.000 đồng; trong đó, tiền tiền mua đề 642.430.000 đồng, tiền trúng thưởng 335.485.000 đồng; bị cáo thua 306.945.000 đồng.

  21. Hành vi của bị cáo Trương Thùy T14
  22. Bị cáo Trương Thùy T14 trực tiếp mua số đề Lưu Hoài Đ1, cụ thể: hằng ngày bị cáo T14 dùng tài khoản Zalo tên “D2” được đăng ký bằng số điện thoại 0374.018.xxx để nhắn tin mua lô đề của Lưu Hoài Đ1. Sau khi có kết quả thắng thua thì T14 tiến hành chung chi tiền thắng thua với Đ1.

    Từ ngày 06/11/2021 đến ngày 26/11/2021, bị cáo Trương Thùy T14 mua số đề của Lưu Hoài Đ1 với tổng số tiền đánh bạc 382.818.000 đồng; trong đó, tiền tiền mua đề 200.707.700 đồng, tiền trúng thưởng 182.110.300 đồng; bị cáo thua 18.597.400 đồng.

  23. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Thanh T2
  24. Hằng ngày, bị cáo Nguyễn Thị Thanh T2 dùng tài khoản Zalo của bị cáo tên “Tt” được đăng ký bằng số điện thoại 0945.007.xxx để nhắn tin mua số đề của Lưu Hoài Đ1. Sau khi có kết quả thắng thua thì bị cáo Nguyễn Thị Thanh T2 tiến hành chung chi tiền thắng thua với Đ1.

    Từ ngày 06/11/2021 đến ngày 26/11/2021, Nguyễn Thị Thanh T2 mua số đề của Lưu Hoài Đ1 với tổng số tiền đánh bạc 706.444.700 đồng; trong đó, tiền mua đề 361.414.700 đồng, tiền trúng thưởng 345.030.000 đồng; bị cáo thua 16.384.700 đồng.

  25. Hành vi của bị cáo Tiêu Mỹ K2
  26. Bị cáo Tiêu Mỹ K2 bắt đầu mua số đề của T, trong 04 ngày (ngày 12, 17, 23, 24/11/2021), cụ thể: bị cáo K2 gọi điện thoại cho Thái Thu T16 rồi bị cáo Kiểu đọc số đề cùng với số tiền từng số đề mà bị cáo muốn mua. Sau đó T16 ghi chú lại và ghi âm trực tiếp trên điện thoại của T16. Khi có kết quả xổ số, T16 liên hệ gặp trực tiếp K2 để chung chi tiền đánh bạc. Trong 04 ngày tổng số tiền bị cáo đánh bạc của bị cáo T22 Mỹ Kiều với Thái Thu T16 24.690.000 đồng, trong đó tổng tiền mua đề 4.540.000 đồng, tiền trúng thưởng 20.150.000 đồng, bị cáo thu lợi bất chính 15.610.000 đồng.

* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng quyết định:

Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 322; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Quách Sơn V.

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Phương B, Phạm Thị Kim A và Huỳnh Ngọc T.

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Minh T13.

Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phan Thị H1, Phù Chí T1 và Trần Văn Đ.

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Thị M.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trương Thùy T14 và Nguyễn Thị Thanh T2.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Tiêu Mỹ K2.

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106, Điều 292 và Điều 298 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

  1. Tuyên bố:
  2. các bị cáo Quách Sơn V, Nguyễn Phương B, Phạm Thị Kim A, Huỳnh Ngọc T và Nguyễn Minh T13 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Phan Thị H1, Phù Chí T1, Trần Văn Đ, Lê Thị M, Trương Thùy T14, Nguyễn Thị Thanh T2, Tiêu M và Nguyễn Thị Hồng H phạm tội “Đánh bạc".

  3. Xử phạt các bị cáo:
  4. 2.1 Xử phạt bị cáo Quách Sơn V 07 (bảy) năm tù. Thời hạn thi hành án hình phạt tù tính từ ngày 11 tháng 10 năm 2023.

    Hình phạt bổ sung: 90.000.000 đồng (chín mươi triệu đồng)

    2.2 Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương B 04 (bốn) năm tù. Thời hạn thi hành án hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo chấp hành án.

    Hình phạt bổ sung: 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng)

    2.3 Xử phạt bị cáo Phù Chí T1 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn thi hành án hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo chấp hành án.

    Hình phạt bổ sung: 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng)

    2.4 Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc T 02 năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành án hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo chấp hành án.

    Hình phạt bổ sung: 30.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng)

    2.5 Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 04 (bốn) năm tù. Thời hạn thi hành án hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo chấp hành án.

    Hình phạt bổ sung: 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng)

    2.6 Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng H 03 (ba) năm tù. Thời hạn thi hành án hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo chấp hành án.

    Hình phạt bổ sung: 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng)

    2.7 Xử phạt bị cáo Phạm Thị Kim A 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn thi hành án hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo chấp hành án.

    Hình phạt bổ sung: 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng)

    2.8 Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T13 01 (một) năm tù. Thời hạn thi hành án hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo chấp hành án.

    Hình phạt bổ sung: 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng)

    2.9 Xử phạt bị cáo Lê Thị M 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn thi hành án hình phạt tù tính từ ngày 11 tháng 01 năm 2024.

    Hình phạt bổ sung: 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng)

    2.10 Xử phạt bị cáo Phan Thị H1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành án hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo chấp hành án.

    Hình phạt bổ sung: 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng)

    2.11 Xử phạt bị cáo Trương Thùy T14 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn thi hành án hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo chấp hành án.

    Hình phạt bổ sung: 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng)

    2.12 Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T2 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn thi hành án hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo chấp hành án.

    Hình phạt bổ sung: 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng)

    2.13 Xử phạt bị cáo T22 Mỹ Kiều 20.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo của các bị cáo và người tham gia tố tụng theo quy định.

* Ngày 03/02/2024, các bị cáo Phù Chí T1, Nguyễn Phương B kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo; Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Thị Hồng H là bà Nguyễn Thị Hồng D kháng cáo xin giảm nhẹ cho bị cáo và cho bị cáo H được hưởng án treo

* Ngày 05/02/2024 bị cáo Nguyễn Thị Thanh T2 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; Bị cáo Lê Thị M kháng cáo kêu oan

* Ngày 07/02/2024, bị cáo Huỳnh Ngọc T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; Bị cáo Phạm Thị Kim A kháng cáo xin giảm hình phạt tù hoặc thay đổi hình phạt tù thành hình phạt cải tạo không giam giữ, xử phạt với hình thức phạt tiền hoặc xin được hưởng án treo.

* Ngày 15/02/2024, bị cáo Quách Sơn V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; Bị cáo Phan Thị H1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo; Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T2 bổ sung đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Quách Sơn V, giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt.

- Bị cáo Huỳnh Ngọc T giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt và bổ sung thêm kháng cáo xin hưởng án treo.

- Các bị cáo Phù Chí T1, Nguyễn Phương B, Phan Thị H1 và Nguyễn Thị Thanh T2 giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt và xin được hưởng án treo;

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Thị Hồng H là bà Nguyễn Thị Hồng D thay đổi nội dung kháng cáo thành kêu oan.

- Bị cáo Phạm Thị Kim A giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt tù hoặc thay đổi hình phạt tù thành hình phạt cải tạo không giam giữ, xử phạt với hình thức phạt tiền hoặc xin được hưởng án treo.

- Bị cáo Lê Thị M thay đổi kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt;

- Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Ngọc T23 trình bày: Về tội danh và khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ thống nhất với cấp sơ thẩm không đặt ra tranh luận. Tuy nhiên, đối với bị cáo T23 mới bị bắt lần đầu, bị cáo tự thú; sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã đóng tiền phạt bổ sung, đóng tiền thu lợi bất chính và tiền án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị M trình bày: Tội danh, khung hình phạt thống nhất với cấp sơ thẩm; đối với bị cáo do hiều biết pháp luật còn hạn chế nên bị cáo không nhận tội tại cấp sơ thẩm; tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn nhận tội đây là tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, bị cáo không có tiền án tiền sự; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo có 02 con còn phụ thuộc kinh tế vào bị cáo, số tiền bị cáo dùng vào việc phạm tội không lớn. Đề nghị HĐXX chấp kháng cáo xin giảm án của bị cáo M xử phạt bị cáo 06 tháng tù cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Hồng H trình bày: Các tài liệu mà cơ quan điều tra thu thập được chưa đủ căn cứ buộc tội bị cáo H đề nghị chấp nhận kháng cáo kêu oan của đại diện bị cáo H

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh T2 trình bày: Về tội danh và khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ thống nhất với cấp sơ thẩm không đặt ra tranh luận. Tuy nhiên, đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm r, i khoản 1 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự chấp nhận kháng cáo cho bị bị cào Thùy được hưởng án treo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 357 chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Thị M giảm cho bị cáo M 03 tháng tù; căn cứ Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo còn lại và người đại diện hợp pháp của bị cáo H là bà D. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng đối với các bị cáo này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét Đơn kháng cáo của các bị cáo Phù Chí T1, Nguyễn Phương B và kháng cáo của bà D là đại diện hợp pháp của bị cáo H lập và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm ngày 03/02/2024 thông qua dịch vụ bưu chính; Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thanh T2 lập và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm vào ngày 05 và ngày 15/02/2024; Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Thị M được Nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Sóc Trăng xác nhận vào ngày 05/02/2024; Đơn kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Ngọc T, Phạm Thị Kim A lập và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm vào ngày 07/02/2024; Đơn kháng cáo của bị cáo Phan Thị H1 lập và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm vào ngày 15/02/2024; Đơn khang cáo của bị cáo Quách Sơn V được Nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Sóc Trăng xác nhận vào ngày 15/02/2024 là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021); Căn cứ vào Điều 345 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ xem xét nội dung kháng cáo của các bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Thanh N, ông Từ Phi H2, ông Nguyễn Quốc T12 vắng mặt, tuy nhiên những người này đã có lời khai trong qua trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm và việc vắng mặt không gây cản trở cho việc xét xử vụ án. Nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 293, 299 và 352 của Bộ luật Tố tụng hình sự Quyết định xét xử vắng mặt những người nêu trên.

[3] Về hành vi phạm tội của các bị cáo như sau: Đối với bị cáo Quách Sơn V: sau khi được thầu đề cấp trên tại Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho tài khoản đánh bạc trên trang Wed Loto666.com thì Quách S1 Vũ cấp lại tài khoản cho Nguyễn Thanh N với tài khoản HK202 mật khẩu (qqqq1111) để bị cáo Vũ hưởng 05% trên lợi nhuận thu được từ việc mua bán lô đề trên tài khoản được cấp. Từ ngày 14/11/2021 đến ngày 26/11/2021 tổng số tiền đánh bạc của Quách Sơn V là 60.286.958.500 đồng, trong đó tổng tiền mua đề là 31.310.165.700 đồng, tổng tiền trúng thưởng là 28.976.792.800 đồng; bị cáo thu lợi bất chính được 1.632.695.200 đồng.

Đối với bị cáo Nguyễn Phương B: nhận lô đề của các chủ đề cấp dưới, người mua đề rồi giao cho Nguyễn Thanh N, để hưởng hoa hồng. Từ ngày 14/11/2021 đến ngày 26/11/2021, tổng số tiền đánh bạc của Nguyễn Phương B là 2.997.723.700 đồng, trong đó tổng số tiền mua đề 1.619.023.700 đồng, tổng số tiền trúng thưởng 1.378.700.000 đồng; bị cáo thu lợi bất chính 5.000.000 đồng. T

Đối với bị cáo Phạm Thị Kim A: bị cáo nhận mua số đề của những người chơi rồi giao lại cho anh N để hưởng tiền chênh lệch. Từ ngày 14/11/2021 đến ngày 26/11/2021, tổng số tiền đánh bạc của bị cáo với N 1.820.289.800 đồng, trong đó tổng tiền mua đề 1.004.159.800 đồng, tiền trúng thưởng 816.130.000 đồng.

Đối với bị cáo Huỳnh Ngọc T: bị cáo T là đại lý cấp 1 của anh N và giao số cho anh N để hưởng tiền chênh lệch như các bị cáo khác. Từ ngày 14/11/2021 đến ngày 26/11/2021 tổng số tiền đánh bạc của bị cáo 2.284.249.400 đồng, trong đó tổng tiền mua đề 1.137.449.400 đồng, tiền trúng thưởng 1.146.800.000 đồng, bị cáo thu lợi bất chính 5.000.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo Quách Sơn V, Nguyễn Phương B, Phạm Thị Kim A và Ngọc T đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc theo Điều 322 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo về tội danh trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định.

Đối với bị cáo Phù Chí T1: có hành vi hàng ngày gửi tin nhắn mua số đề, nhằm thắng thua trực tiếp với Nguyễn Thanh N. Từ ngày 14/11/2021 đến ngày 25/11/2021, tổng số tiền bị cáo đánh bạc với nhóm của N 860.136.500 đồng, trong đó tổng tiền mua đề 465.086.500 đồng, tiền trúng thưởng 395.050.000 đồng. Tiền đánh bạc của Phù Chí T1 trong cùng 01 lần trên 50.000.000 đồng

Đối với bị cáo Nguyễn Thị Hồng H: bị cáo H từ ngày 14/11/2021 đến ngày 26/11/2021 có tham gia đánh bạc với anh N với tổng số tiền đánh bạc là 688.005.300 đồng, trong đó tổng số tiền mua đề 373.180.300 đồng, tổng số tiền trúng thưởng 314.825.000 đồng; bị cáo thua 58.355.300 đồng. Tiền đánh bạc của bị cáo H trong cùng 01 lần trên 50.000.000 đồng.

Đối với bị cáo Phan Thị H1: có hành vi mua số đề, nhằm thẳng thua trực tiếp với anh Lưu Hoài Đ1. Từ ngày Từ ngày 06/11/2021 đến ngày 25/11/2021, tổng số tiền đánh bạc của bị cáo 977.915.000 đồng, trong đó tiền mua đề 642.430.000 đồng, tiền trúng thưởng 335.485.000 đồng. Tiền đánh bạc của bị cáo H1 trong cùng 01 lần trên 50.000.000 đồng.

Đối với bị cáo Lê Thị M: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo mai thừa nhận hành vi phạm tội là bị cáo có gửi tin nhắn mua số đề với anh N; lời thừa nhận của tội của bị cáo phù hợp với lời khai của khai nhận của anh N, anh T12, anh H2, Chị T15 trong vụ án trước mà tòa án đã xét xử và phù hợp với các tài liệu mà cơ quan điều tra thu thập được. Do đó, có đủ cơ sở xác định bị cáo M từ ngày 14/11/2021 đến ngày 26/11/2021, bị cáo có hành vi mua số đề, để ăn thua với N, với tổng số tiền đánh bạc 256.126.200 đồng, trong đó tổng tiền mua đề 166.976.200 đồng, tiền trúng thưởng 89.150.000 đồng, bị cáo thua 77.826.200 đồng. Tiền đánh bạc của bị cáo M trong cùng 01 lần trên 5.000.000 đồng và dưới 50.000.000 đồng

Đối với bị cáo Nguyễn Thị Thanh T2: đã thừa nhận có hành vi mua bán lô đề, thẳng thua trực tiếp với Lưu Hoài Đ1. Từ ngày 06/11/2021 đến ngày 26/11/2021, tổng số tiền bị cáo đánh bạc với Lưu Hoài Đ1 706.444.700 đồng, trong đó tổng tiền mua đề 361.414.700 đồng, tiền trúng thưởng 345.030.000 đồng, bị cáo thua 16.384.700 đồng. Số tiền đánh bạc của bị cáo T2 trong cùng 01 lần trên 5.000.000 đồng và dưới 50.000.000 đồng,

Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận các bị cáo Phù Chí T1, Phan Thị H1, Nguyễn Thị Hồng H, Lê Thị M, Nguyễn Thị Thanh T2 phạm tội “Đánh bạc” theo Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Quách Sơn V: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo V có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự và xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như bị cáo thành khẩn khai báo, không có tiền sự, tiền án, là dân tộc H3, tự nguyện nộp lại một phần tiền thu lợi bất chính đây. Xét Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đồng thời, Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo 07 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng. Trong quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo đã cung cấp biên lai thu tiền số 0001024 ngày 12/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng là nộp tiền phạt bổ sung và án phí dân sự sơ thẩm là 90.200.000 đồng, việc bị cáo đã nộp phạt bổ sung và án phí sơ thẩm trong trường hợp này là nghĩa vụ của bị cáo nên không được xác định là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo không được chấp nhận.

[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Phương B: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo Nguyễn Phương B có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 điều 52 của Bộ luật Hình sự và xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như bị cáo thành khẩn khai báo, không có tiền án, tiền sự, có thái độ ăn năn, hối cải tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính; Xét Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm điểm s của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đồng thời, Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo 04 bốn năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng tại phiên tòa bị cáo không cung cấp tình tiết giảm nhẹ nào mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho các bị cáo. Do đó, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo không được chấp nhận. Xét Bị cáo B bị xử phạt tù ở mức 04 năm nên không đủ điều kiện để được xem xét cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Huỳnh Ngọc T: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo Huỳnh Ngọc T có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự và xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là bị cáo thành khẩn khai báo, không có tiền án, tiền sự, trình độ học vấn thấp. Xét Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đồng thời, Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo có cung cấp biên lai số 0000944, số 0000943 cùng ngày 07/02/2024 và biên lai số 0000950 ngày 22/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng với số tiền 35.200.000 đồng tiền thu lợi bất chính, tiền phạt bổ sung, tiền án phí. Tuy nhiên, trong vụ án này đây là nghĩa vụ của bị cáo. Do đó, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo không được chấp nhận.

Xét kháng cáo của bị cáo Huỳnh Ngọc T về việc xin hưởng án treo: Xét bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và tại khoản 2 tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 (sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 23/3/2022) của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo thì bị cáo không đủ điều kiện hưởng án treo. Do đó kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo chưa đủ cơ sở chấp nhận.

[6] Xét kháng cáo của Phạm Thị Kim A về việc xin giảm nhẹ hình phạt tù: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo Phạm Thị Kim A có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự và xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; không có tiền án, tiền sự; có trình độ học vấn thấp. Xét Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đồng thời, Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm 03 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo có cung cấp biên lai số 0000948, số 0000949 cùng ngày 19/02/2024 và biên lai số 0001003 ngày 28/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng với số tiền 39.700.000 đồng tiền thu lợi bất chính, tiền phạt bổ sung, tiền án phí. Tuy nhiên, trong vụ án này đây là nghĩa vụ của bị cáo. Đối với đơn xin giảm nhẹ hình phạt của ông Biện Công D1, các Bằng khen của ông Biện Công D1, huy hiệu 40 năm tuổi Đảng của ông D1, đây không phải là tình tiết giảm nhẹ. Do đó, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo không được chấp nhận.

Xét kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Kim A về việc xin hưởng án treo: Xét bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và tại khoản 2 tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 (sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 23/3/2022) của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo thì bị cáo không đủ điều kiện hưởng án treo. Do đó kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo chưa đủ cơ sở chấp nhận.

Xét kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Kim A về việc xin phạt cải tạo không giam giữ. Xét thấy, bị cáo Phạm Thị Kim A bị cấp sơ thẩm xác định phạm tội tổ chức đánh bạc theo khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự và theo quy định tại khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự không có quy định hình phạt cải tạo không giam giữ nên việc kháng cáo xin áp được phát cải tạo không giam giữ của bị cáo không có căn cứ để Hội đồng phúc thẩm xét xử không chấp nhận.

Xét kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Kim A về việc xin phạt tiền. Xét tình hình tội phạm về đánh bạc trên địa bàn tỉnh Sóc trăng diễn ra khá phức tạp, việc không áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo không đủ răn đe sẽ ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo

[7] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Phù Chí T1: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo Phù Chí T1 có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 điều 52 của Bộ luật Hình sự và xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như bị cáo thành khẩn khai báo, không có tiền án, tiền sự, có thái độ ăn năn, hối cải tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính; Xét Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm điểm s của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đồng thời, Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo 03 năm 03 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng tại phiên tòa bị cáo không cung cấp tình tiết giảm nhẹ nào mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho các bị cáo. Do đó, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo không được chấp nhận. Xét Bị cáo T1 bị xử phạt tù ở mức 03 năm 03 tháng tù nên không đủ điều kiện để được xem xét cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[8] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hồng D về việc kháng cáo kêu oan cho bị cáo H: Thấy rằng, anh Nguyễn Thanh N trình bày trong vụ án trước cũng như lời trình bày của anh trong vụ án này đều khai nhận bị cáo Nguyễn Thị Hồng H là người giao số đề cho anh; còn anh Nguyễn Quốc T12 cũng thừa nhận trong quá trình tổng hợp tiền đánh bạc của những người giao số cho anh N thì trong đó có bị cáo Nguyễn Thị Hồng H; anh Từ Phi H2 cũng xác nhận rằng trong quá trình đi thu tiền số đề cho anh N thì anh có thu tiền và chung chi tiền trúng thưởng số đề cho bị cáo H trực tiếp 01 hoặc 02 lần, những lần còn lại thì anh chuyển khoản cho bị cáo H; lời trình bày của anh H2 phù hợp với sao kê tài khoản ngân hàng của bị cáo H tại Ngân hàng A3 chi nhánh tỉnh S và phù hợp với các file ảnh giao dịch chuyển tiền qua lại trên điện thoại của anh H2 với bị cáo H mà cơ quan điều tra đã trích xuất từ điện thoại của anh H2; chị Huỳnh Thu T15 là người mà anh N giao nhận tin nhắn giao số đề của bị cáo H cũng xác nhận bị cáo H có gửi tin nhắn mua số đề cho anh N, chị là người nhận tin nhắn của bị cáo H qua zalo; lời trình bày của chị T15 phù hợp với các tài liệu chứng cứ từ bút lụt số 2528 đến bút lục số 2622; bút lục từ số 2464 đến số 2468 và phù hợp với văn bản số 1121/2023/CV-VNG về việc cung cấp thông tin của Công ty cổ phần V3 xác nhận số điện thoại 0974.024.xxx là tài khoản "Honghanh", khởi tạo tài khoản zalo từ ngày 18/04/2018. Căn cứ vào các lời khai của anh N, anh T12, chị T15 và các chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập như vừa nêu trên thì có đủ căn cứ bị cáo H từ ngày 14/11/2021 đến ngày 26/11/2021 có tham gia đánh bạc với anh N với tổng số tiền đánh bạc là 688.005.300 đồng, trong đó tổng số tiền mua đề 373.180.300 đồng, tổng số tiền trúng thưởng 314.825.000 đồng; bị cáo thua 58.355.300 đồng. Tiền đánh bạc của bị cáo H trong cùng 01 lần trên 50.000.000 đồng. Do đó, cấp sơ thẩm xác định bị cáo H phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật không oan cho bị cáo. Nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của của bà Nguyễn Thị Hồng D về việc kháng cáo kêu oan cho bị cáo H.

Về hình phạt khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo H có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 điều 52 của Bộ luật Hình sự và xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như Bị cáo hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; không có tiền án, tiền sự; Xét Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm điểm q của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đồng thời, Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo 03 ba năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng.

[9] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Phan Thị H1: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo Phan Thị H1 có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 điều 52 của Bộ luật Hình sự và xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như bị cáo đã thành khẩn khai báo; không có tiền án, tiền sự, tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính; Xét Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm điểm s của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đồng thời, Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo 03 năm 06 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng tại phiên tòa bị cáo không cung cấp tình tiết giảm nhẹ nào mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho các bị cáo. Do đó, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo không được chấp nhận. Xét Bị cáo bị xử phạt tù ở mức 03 năm 06 tháng nên không đủ điều kiện để được xem xét cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[10] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị Thanh T2: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo Phan Thị H1 có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 điều 52 của Bộ luật Hình sự và xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như bị cáo đã thành khẩn khai báo; không có tiền án, tiền sự, tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính; Xét Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm điểm s của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đồng thời, Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 năm 09 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng tại phiên tòa bị cáo không cung cấp tình tiết giảm nhẹ nào mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho các bị cáo. Do đó, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo không được chấp nhận. Xét bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và tại khoản 2 tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 (sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 23/3/2022) của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo thì bị cáo không đủ điều kiện hưởng án treo. Do đó kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo chưa đủ cơ sở chấp nhận.

[11] Xét kháng cáo của bị cáo Lê Thị M về việc xin giảm nhẹ hình phạt: Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng bổ sung cho bị cáo. Tuy nhiên, mức hình phạt 1 năm 3 tháng tháng tù sơ thẩm đã xử phạt bị cáo là tương tương xứng mới mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo M.

[12] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát giảm cho bị cáo M 03 tháng tù là chưa đủ căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận; Đồng thời Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận đề nghị của người bào chữa của các bị Cáo T23, Bị cáo M, bị cáo T2 và bị cáo H;

[13] Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021); Điều 12, Điều 14, điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do kháng cáo không được chấp nhận các bị cáo và bà D phải chịu án phí hình sự phúc thẩm mỗi người là 200.000 đồng.

[14] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ vào Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Quách Sơn V về xin giảm hình phạt.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Ngọc T, Phù Chí T1, Nguyễn Phương B, Phan Thị H1 và Nguyễn Thị Thanh T2 về việc xin giảm hình phạt và xin được hưởng án treo;

Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Thị Hồng H là bà Nguyễn Thị Hồng D về việc kêu oan cho bị cáo H.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Kim A về việc xin giảm hình phạt tù hoặc thay đổi hình phạt tù thành hình phạt cải tạo không giam giữ, xử phạt với hình thức phạt tiền hoặc xin được hưởng án treo.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị M về việc xin giảm hình phạt;

Giữ phần quyết định về hình phạt đối với các bị cáo của Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng;

*Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 322; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Quách Sơn V.

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Phương B, Phạm Thị Kim A và Huỳnh Ngọc T.

Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phan Thị H1, Phù Chí T1.

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s 1; khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Thị M.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Thanh T2.

*Tuyên xử:

  1. Xử phạt bị cáo Quách Sơn V 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn thi hành án hình phạt tù tính từ ngày 11 tháng 10 năm 2023.
  2. Hình phạt bổ sung: 90.000.000 đồng (chín mươi triệu đồng)

  3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương B 04 (bốn) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn thi hành án hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo chấp hành án.
  4. Hình phạt bổ sung: 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng)

  5. Xử phạt bị cáo Phù Chí T1 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn thi hành án hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo chấp hành án.
  6. Hình phạt bổ sung: 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng)

  7. Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc T 02 năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn thi hành án hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo chấp hành án.
  8. Hình phạt bổ sung: 30.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng)

  9. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng H 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn thi hành án hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo chấp hành án.
  10. Hình phạt bổ sung: 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng)

  11. Xử phạt bị cáo Phạm Thị Kim A 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn thi hành án hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo chấp hành án.
  12. Hình phạt bổ sung: 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng)

  13. Xử phạt bị cáo Lê Thị M 01 năm 03 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn thi hành án hình phạt tù tính từ ngày 11 tháng 01 năm 2024.
  14. Hình phạt bổ sung: 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng)

  15. Xử phạt bị cáo Phan Thị H1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn thi hành án hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo chấp hành án.
  16. Hình phạt bổ sung: 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng)

  17. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T2 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn thi hành án hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo chấp hành án.
  18. Hình phạt bổ sung: 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng)

* Về án phí hình sự phúc thẩm:

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

- Buộc các bị cáo bị cáo Quách Sơn V, Nguyễn Phương B, Phạm Thị Kim A, Huỳnh Ngọc T, Phù Chí T1, Phan Thị H1, Lê Thị M, Nguyễn Thị Thanh T2 và người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Thị Hồng H là bà Nguyễn Thị Hồng D mỗi người phải chịu 200.000 đồng.

* Các phần Quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

* Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng (01)
  • - TAND thành phố Sóc Trăng (09);
  • - VKSND thành phố Sóc Trăng (01);
  • - CQĐT - Công an thành phố Sóc Trăng (01);
  • - CQTHAHS-Công an thành phố Sóc Trăng (01);
  • - Chi cục THADS thành phố Sóc Trăng (01);
  • - Các bị cáo, Người bào chữa (11);
  • - PKTNV-THA-TAND tỉnh Sóc Trăng (01);
  • - CQTHAHS- Công an tỉnh Sóc Trăng (01);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng (01);
  • - Lưu hs, THS (04);

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Hữu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-PT ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự phúc thẩm về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 42/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Quách Sơn V +ĐP
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger