Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/DS-ST
Ngày: 23, 26/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Liên

Ông Nguyễn Phúc Tuấn

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 27/TLST-DS, ngày 27 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/QÐST- DS ngày 26/3/2024 giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S, trụ sở: 2 N, phường V, quận C, TP Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trịnh Sơn K -Trưởng Phòng G - Chi nhánh T2. Ông Trịnh Sơn K ủy quyền cho bà Hoàng Thị Minh T - Chuyên viên.

(Có mặt tại phiên tòa).

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng T1, sinh năm 1983, địa chỉ: Căn hộ F CT4A - Khu nhà ở X, phường P, quận H, TP Hà Nội.

(Có mặt tại phiên tòa ngày 23/4/2024, vắng mặt tại phiên tòa ngày 26/4/2024).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, Nguyên đơn - Ngân hàng TMCP S trình bày:

Ngày 08/01/2020, Ngân hàng TMCP S và chị Nguyễn Thị Hồng T1 đã ký kết hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Bao gồm: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng). Theo đó, Ngân hàng TMCP S đồng ý cấp thẻ tín dụng VS Paywave Cre Classic 472074-8460 với hạn mức 50.000.000đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Quá trình sử dụng thẻ, hạn mức thẻ được nâng lên 70.000.000đồng (tại tờ trình cấp thẻ tín dụng cá nhân 06/5/2022). Theo bảng kê gốc, lãi ghi ngày 11/01/2024, tính đến ngày 22/12/2023, tổng số tiền nợ gốc chị T1 chưa thanh toán cho Ngân hàng là 67.066.594 đồng, nợ lãi từ 23/12/2023 tính đến 26/3/2024 là 6.746.674 đồng (mức lãi suất quá hạn theo biểu phí từng thời kỳ là 3,72% (lãi suất trong hạn) x150%. Tổng cộng nợ gốc, lãi tính đến 26/3/2024 là 73.813.268 đồng.

Ngân hàng TMCP S xác định hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng chỉ ký kết giữa Ngân hàng và cá nhân chị Nguyễn Thị Hồng T1. Tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tại trang thứ 2 ghi thông tin bố/mẹ: Nguyễn Hữu Q và tại trang thứ 3 ghi thông tin người hôn phối: Trần Lâm chỉ để xác định thông tin gia đình chị T1 để liên lạc trong trường hợp Ngân hàng không liên lạc được với chị Nguyễn Thị Hồng T1.

Tại bản tự khai ngày 21/3/2024 và bản tự khai ngày 15/4/2024, chị Nguyễn Thị Hồng T1 xác nhận chị và Ngân hàng TMCP S đã ký kết hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Bao gồm: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng). Theo đó, Ngân hàng TMCP S đồng ý cấp thẻ tín dụng VS Paywave Cre Classic 472074-8460 với hạn mức 50.000.000đồng cho chị, mục đích tiêu dùng cá nhân. Quá trình sử dụng thẻ, hạn mức thẻ được nâng hạn mức lên 70.000.000đồng. Chị T1 đã sử dụng thẻ để chi tiêu cá nhân. Chị T1 xác nhận số tiền nợ gốc 67.066.594 đồng, đề nghị được trả góp 1.000.000 đồng/tháng, về nợ lãi quá hạn phát sinh: chị T1 đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện giảm lãi cho chị mức thấp nhất để chị có điều kiện trả nợ.

Chị Nguyễn Thị Hồng T1 xác định việc ký kết hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng chỉ có cá nhân chị ký kết với ngân hàng, mục đích để chi tiêu cá nhân. Đây là nợ riêng của chị.

Tại phiên tòa:

-Chị T1 xác nhận khoản vay tại hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng là khoản vay riêng của cá nhân chị, tại trang 2 và trang 3 giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng có ghi tên người hôn phối: Trần L và bố mẹ: Nguyễn Hữu Q là Ngân hàng tự ghi vào. Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng cũng thừa nhận Ngân hàng ghi tên người hôn phối: Trần L và bố mẹ: Nguyễn Hữu Q mục đích để tham chiếu, liên lạc khi chị T1 không trả nợ. Hợp đồng cũng chỉ có Ngân hàng và chị T1 ký kết, không có ai khác. Cả hai bên đương sự xác định đây là khoản vay riêng của cá nhân chị T1.

-Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S xuất trình thêm các tài liệu chứng cứ:

  • +Tóm tắt sao kê thẻ tín dụng ghi ngày 23/4/2024 thẻ hiện khoản nợ thẻ tín dụng của chị T1 trên hệ thống ngân hàng;
  • + Quyết định số 2399/2019/QĐ-TTT ngày 6/8/2-19 về ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ S1 phát hành tại Việt Nam.
  • + Biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ tín dụng S2 có hiệu lực từ ngày 15/8/2019.

-Ngân hàng sửa đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện, cụ thể:

Ngân hàng yêu cầu chị T1 thanh toán nợ gốc: 68.996.981 đồng, số tiền nợ lãi quá hạn phát sinh từ ngày 22/01/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm là 6.880.410 đồng. Tổng cộng nợ gốc, lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 75.877.031 đồng, yêu cầu chị T1 tiếp tục thanh toán lãi quá hạn trên số nợ gốc theo thỏa thuận trong hợp đồng kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả hết khoản nợ gốc. Lý do của sự sửa đổi khoản tiền gốc, lãi vì:theo tóm tắt sao kê thẻ tín dụng mới nhất đối với khoản nợ của chị Nguyễn Thị Hồng T1 tính đến ngày 23/4/2024 thì số tiền nợ gốc của chị T1 là 68.996.981 đồng, số tiền nợ lãi quá hạn phát sinh đến ngày 23/4/2024 là 6.880.410 đồng. Tổng nợ gốc, lãi tính đến ngày 23/4/2024 là 75.877.000 đồng. Lãi quá hạn được tính theo mức: lãi suất trong hạn 26,6%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, được áp dụng đối với khoản vay sử dụng thẻ tín dụng, không có tài sản đảm bảo. Trong đó căn cứ tính lại nợ gốc từ 67.066.594 đồng lên 68.996.981, phần chênh lệch nhiều hơn 1.930.384 đồng do hệ thống Ngân hàng cộng số tiền phạt, phí, lãi quá hạn phát sinh do vi phạm thanh toán vào nợ gốc, tuy nhiên Ngân hàng lùi thời điểm tính lãi quá hạn từ tháng 12/2023 lùi đến 22/1/2024, vì vậy tiền lãi quá hạn là 6.880.140 đồng tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm là tính có lợi cho chị T1.

- Chị T1 cũng nhất trí yêu cầu sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện của ngân hàng, nhất trí cách tính của Ngân hàng nợ gốc là 68.996.981, lùi thời điểm tính lãi quá hạn từ tháng 12/2023 lùi đến 22/1/2024, tiền lãi quá hạn là 6.880.140 đồng tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm, vì cách tính này có lợi cho chị T1.

-Tuy nhiên, chị T1 thay đổi một phần lời khai: chị cho rằng chị sử dụng thẻ tín dụng với hạn mức 50.000.000 đồng, còn việc Ngân hàng tự nâng hạn mức lên 70.000.000đồng, chị không biết và không có thỏa thuận gì với Ngân hàng. Vì chị có một khoản tiền mười mấy triệu đồng đã chuyển trả vào thẻ tín dụng cộng với 50 triệu đồng hạn mức thẻ nên chị mới rút ra chi tiêu được số tiền 67.066.594. Khoản tiền chuyển trả vào thẻ tín dụng mười mấy triệu đồng này là do quá trình chị thanh toán khoản vay khác (mua nhà, mua xe) với Ngân hàng, chị có thừa mười mấy triệu đồng nên chị đề nghị Nhân viên ngân hàng chuyển khoản tiền này vào thẻ tín dụng để chị trả vào dư nợ gốc thẻ tín dụng, nhưng chị không thấy ngân hàng thông báo cho chị có chuyển số tiền này vào thẻ tín dụng của chị hay không.

Ngân hàng có ý kiến việc sử dụng thẻ tín dụng, rút tiền, trả tiền vào thẻ tín dụng đều có sao kê từng tháng cụ thể gửi đến khách hàng và lưu trữ trên hệ thống ngân hàng. Nếu chị T1 cho rằng có khoản tiền mười mấy triệu nêu trên trả vào nợ gốc thẻ tín dụng thì yêu cầu chị T1 xuất trình chứng cứ để làm rõ chị T1 nộp bao nhiêu tiền, nộp thời gian nào vào thẻ tín dụng, còn trên hệ thống ngân hàng không ghi nhận có khoản tiền nào mười mấy triệu đồng trả vào nợ gốc thẻ tín dụng như chị T1 khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Quá trình Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán và thư ký đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã được thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng TMCP S và chị Nguyễn Thị Hồng T1 là hợp pháp, xác định đây là khoản nợ riêng của chị T1. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ, lời khai của các bên đương sự thì chị T1 còn nợ ngân hàng số nợ gốc và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 75.877.031 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1].Về thẩm quyền: Ngân hàng TMCP S có đơn khởi kiện chị Nguyễn Thị Hồng T1 về việc tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, chị Nguyễn Thị Hồng T1 là cá nhân không có đăng ký kinh doanh, sử dụng thẻ với mục đích chi tiêu sinh hoạt nên đây là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại căn hộ F, tòa CT4A, khu nhà ở X, phường P, quận H, TP Hà Nội nên tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, TP Hà Nội.

[2].Về nội dung:

Căn cứ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng TMCP S và chị Nguyễn Thị Hồng T1 (Bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng), Quyết định về biểu phí, lãi suất kèm theo, Biểu phí sử dụng dịch vụ thẻ;

Căn cứ đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S.

Căn cứ lời khai của bị đơn là chị Nguyễn Thị Hồng T1 đã xác nhận thống nhất quá trình ký kết, sử dụng thẻ tín dụng như Ngân hàng TMCP S trình bày, đồng thời xác nhận khoản nợ theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng thì đủ căn cứ xác định:

Ngày 08/01/2020, Ngân hàng TMCP S và chị Nguyễn Thị Hồng T1 đã ký kết hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Bao gồm: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng). Theo đó, Ngân hàng TMCP S đồng ý cấp thẻ tín dụng VS Paywave Cre Classic 472074-8460 với hạn mức 50.000.000đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Quá trình sử dụng, thẻ được nâng hạn mức lên 70.000.000đồng. Tính đến ngày 22/12/2023, tổng số tiền nợ gốc chị T1 chưa thanh toán cho Ngân hàng là 67.066.594 đồng, nợ lãi quá hạn: 6.746.674 đồng. Tại phiên tòa, chị T1 nhất trí với cách tính lại nợ gốc và nợ lãi trên hệ thống Ngân hàng, theo đó, nợ gốc tính đến ngày xét xử sơ thẩm là: 68.996.981 đồng (do cộng số tiền phạt, phí, lãi quá hạn phát sinh do vi phạm thanh toán vào nợ gốc), đồng thời Ngân hàng lùi thời điểm tính lãi quá hạn từ tháng 12/2023 đến lui đến 22/1/2024, tiền lãi quá hạn là 6.880.140 đồng tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm là có lợi cho chị T1, vì vậy cần ghi nhận.

Đối với căn cứ tính lãi: Ngân hàng đã áp dụng mức lãi suất quá hạn kể từ ngày khoản nợ chuyển quá hạn là ngày 22/01/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức: lãi suất trong hạn 26,6%, lãi suất quá hạn 150%x lãi suất trong hạn =39,9%/năm là đúng quy định pháp luật. Vì:

Về áp dụng pháp luật đối với cách tính lãi suất của hợp đồng tín dụng;

-Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm có hiệu lực từ ngày 15/3/2019.

“Điều 7. Áp dụng pháp luật về lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng

1.Lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng do các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn Luật các tổ chức tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất.

2. Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng các quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn Luật các tổ chức tín dụng để giải quyết mà không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật dân sự năm 2005, Bộ luật dân sự năm 2015”.

Như vậy, mức lãi suất được áp dụng trong hợp đồng tín dụng là lãi suất theo thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng vay tại hợp đồng tín dụng, theo các quy định của Luật tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn thi hành, không phải là mức lãi suất quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015.

-Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.

“Khoản 1.Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.

Khoản 2. Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

-Căn cứ Thông tư số 01/2009/TT-NHNN ngày 23/01/2009 của Ngân hàng N về hướng dẫn lãi suất theo thỏa thuận của tổ chức tín dụng đối với nhu cầu vay vốn phục vụ đời sống thông qua sử dụng thẻ tín dụng;

-Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận.

-Thông tư số 14/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017 quy định phương pháp tính lãi suất trong hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng.

-Căn cứ biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ tín dụng của Ngân hàng S có hiệu lực từ ngày 15/8/2019 quy định mức lãi suất áp dụng đối với cho vay thông qua sử dụng thẻ tín dụng nội địa, quốc tế.

Xác định lãi suất đối với hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng giữa Ngân hàng TMCP S và chị Nguyễn Thị Hồng T1 khi khoản nợ bị chuyển nợ quá hạn là mức lãi suất quá hạn 39,9%/năm theo như thỏa thuận tại hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng), Quyết định về biểu phí, lãi suất kèm theo, Biểu phí sử dụng dịch vụ thẻ) là đúng theo quy định pháp luật.

Đối với thời điểm chị Nguyễn Thị Hồng T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán và khoản nợ bị chuyển thành nợ quá hạn

Tại bảng tóm tắt sao kê ngày 11/01/2024 thể hiện trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, chị Nguyễn Thị Hồng T1 đã nhiều lần vi phạm nghĩa vụ thanh toán vào các kỳ trả nợ tháng 8/2020, tháng 2/2021, tháng 11/2021, tháng 3/2022, tháng 3/2023, tháng 7/2023, tháng 10/2023, tháng 12/2023.

Do chị T1 nhiều lần vi phạm nghĩa vụ thanh toán, có hai lần gần kề tháng 10/2023 và tháng 12/2023 nên khoản nợ của chị T1 đã bị chuyển nợ quá hạn từ tháng 12/2023. Tuy nhiên Ngân hàng TMCP S bổ sung thay đổi yêu cầu khởi kiện tại phiên tòa, lùi thời điểm tính lãi quá hạn từ tháng 12/2023 lùi đến 22/1/2024 là có lợi cho chị T1 và phù hợp quy định của pháp luật, chị T1 cũng nhất trí cách tính này, nên cần ghi nhận.

Đối với vấn đề chị T1 không đồng ý với việc Ngân hàng tự động nâng hạn mức thẻ lên 70.000.000đồng, thấy rằng, tại thời điểm tháng 5/2022 khi thẻ được nâng hạn mức lên 70.000.000đồng, chị T1 không có khiếu nại gì gửi đến Ngân hàng, hơn nữa hạn mức thẻ không phải là số tiền Ngân hàng cho khách hàng vay, hạn mức thẻ là số tiền tối đa khách hàng có thể rút ra từ thẻ tín dụng. Số tiền thực tế khách hàng tự mình rút ra chi tiêu mới là số tiền vay. Vì vậy, việc Ngân hàng nâng hạn mức sử dụng thẻ không ảnh hưởng đến quyền lợi của chị T1. Thực tế chị T1 xác nhận đã rút chi tiêu số tiền gốc 67.066.594, và sau này hai bên đương sự đều nhất trí là 68.996.981 đồng nợ gốc, đây mới là khoản vay gốc của chị T1.

Đối với vấn đề chị T1 cho rằng quá trình thanh toán khoản vay khác (vay mua nhà, mua xe) cũng tại Ngân hàng TMCP S, chị có thừa khoảng mười mấy triệu đồng, chị có đề nghị nhân viên ngân hàng chuyển mười mấy triệu đồng này trả vào nợ gốc thẻ tín dụng cho chị để giảm bớt dư nợ gốc thẻ tín dụng nhưng không thấy ngân hàng thông báo cho chị có chuyển số tiền này vào thẻ tín dụng để giảm dư nợ hay không. Xét, trong quá trình giải quyết vụ án, chị T1 không nêu ra vấn đề này, tại phiên tòa ngày 15/4/2024, chị T1 cũng không nêu ra vấn đề này mà chỉ có yêu cầu đề nghị Ngân hàng cho trả góp khoản vay và đề nghị hoãn phiên tòa để hai bên thống nhất phương án trả nợ. Tại phiên tòa ngày 23/4/2024, chị T1 nêu ra vấn đề này nhưng không xuất trình được tài liệu chứng cứ chứng minh. Để đảm bảo quyền lợi cho chị T1, Tòa án đã tạm ngừng phiên tòa cho chị T1 có thời gian để cung cấp tài liệu chứng cứ. Tuy nhiên đến ngày mở lại phiên tòa, ngày 26/4/2024, chị T1 vắng mặt, không cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh cho khoản tiền nêu trên, vì vậy không có căn cứ chấp nhận.

Căn cứ vào các phân tích trên, nội dung khởi kiện của Ngân hàng TMCP S yêu cầu chị Nguyễn Thị Hồng T1 phải thanh toán số tiền còn nợ theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng bao gồm: nợ gốc 68.996.981 đồng, nợ lãi quá hạn phát sinh từ ngày 22/01/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm là 6.880.410 đồng, tổng nợ gốc, lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 75.877.031 đồng, tiếp tục thanh toán lãi quá hạn trên số nợ gốc theo thỏa thuận trong hợp đồng kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả hết khoản nợ là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

-Khoản 3 Điều 26, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 ; Điều 463 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết 326/2014/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.
  2. Xác định chị Nguyễn Thị Hồng T1 còn nợ Ngân hàng TMCP S theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng VS Paywave Cre Classic 472074-8460 số tiền nợ gốc: 68.996.981 đồng, nợ lãi quá hạn phát sinh từ ngày 22/01/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm là 6.880.410 đồng, tổng nợ gốc, lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 75.877.031 đồng.

    -Buộc chị Nguyễn Thị Hồng T1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ gốc: 68.996.981 đồng, nợ lãi quá hạn phát sinh từ ngày 22/01/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm là 6.880.410 đồng, tổng nợ gốc, lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 75.877.031 đồng.

  3. Kể từ ngày 27/4/2024, chị Nguyễn Thị Hồng T1 phải tiếp tục chịu lãi suất quá hạn đối với số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thì lãi suất khách hàng vay phải thanh toán cho ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng được điều chỉnh phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng.
  4. Về án phí: chị Nguyễn Thị Hồng T1 phải chịu án phí sơ thẩm là 3.793.852 đồng.

    Ngân hàng TMCP S được hoàn trả số tiền 3.500.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0014941 ngày 27/02/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông.

  5. Về quyền kháng cáo: án xử công khai sơ thẩm; có mặt nguyên đơn; bị đơn có mặt tại phiên tòa ngày 23/4/2024, vắng mặt tại phiên tòa ngày 26/4/2024. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự
  • -Tòa án NDTP Hà Nội;
  • - VKSND quận Hà Đông, TP Hà Nội;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • -Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, TP Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/DS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng

  • Số bản án: 42/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín-Nguyễn Thị Thương
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger