Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN IA GRAI

TỈNH GIA LAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 42/2024/DS-ST

Ngày 25-9-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Vũ;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Mý;
  2. Ông Nguyễn Khắc Hùng;

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh Hạ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 52/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H; địa chỉ: Số B B, đường N, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Tạ Công N – Chuyên viên QHKH cá nhân; địa chỉ: K tại A P, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Cao Ngọc T và bà Cao Thị H; địa chỉ: Đ, công ty G, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 0425/18/HĐ TDHM-CN170 ngày 28/6/2018; Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 0425/18/HĐTDHM-CN/170/KUNN03 ngày 19/6/2020, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng) đã cho ông Cao Ngọc T và bà Cao Thị H vay số tiền 150.000.000 đồng; mục đích vay bổ sung vốn trồng trọt, chăn nuôi; thời hạn vay là 12 tháng; lãi suất trong hạn là 12,5%/năm và có thay đổi theo từng thời kỳ, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn; lãi chậm trả là 10%/năm. Trả nợ gốc 01 kỳ vào ngày 19/6/2021; Phương thức trả nợ lãi 06 tháng/lần, vào ngày 19 của tháng cuối cùng.

Để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng tín dụng nêu trên, giữa Ngân hàng và ông Cao Ngọc T, bà Cao Thị H có giao kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số số 0425/18/HĐBĐ – 170 ngày 28/6/2018. Tài sản thế chấp bao gồm quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất số 66 tờ bản đồ số 87 được UBND huyện I cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 602074 ngày 25/8/2014 cho cho ông Phạm Văn D và bà Nguyễn Thị Kim T1, chuyển nhượng cho ông Cao Ngọc T và bà Cao Thị H theo hồ sơ số 00837.CN.024.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Cao Ngọc T và bà Cao Thị H chỉ trả được số tiền nợ gốc là 06 đồng, nợ lãi trong hạn là 107.276 đồng. Vì ông T, bà H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi theo thỏa thuận nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn. Nay Ngân hàng yêu cầu ông Cao Ngọc T và bà Cao Thị H phải tiếp tục trả số tiền còn nợ của khoản vay trên, cụ thể như sau: Tiền nợ gốc là 149.999.994 đồng. Tiền lãi quá hạn và lãi chậm trả là 80.753.212 đồng. Tổng số tiền Ngân hàng yêu cầu ông Cao Ngọc T và bà Cao Thị H phải trả tính đến ngày xét xử là 238.611.547 đồng.

Trường hợp ông Cao Ngọc T và bà Cao Thị H không trả được nợ thì Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp nêu trên để thu hồi nợ. Ngân hàng không yêu cầu ông T, bà H phải chịu lãi chậm trả đối với số tiền xem xét, thẩm định tại chỗ khi hoàn trả lại cho Ngân hàng.

2. Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không trình bày ý kiến, yêu cầu và không cung cáp tài liệu, chứng cứ.

3. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên bị đơn chưa chấp hành các quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Tòa án tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

- Về giải quyết nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành Phố H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản với bị đơn là ông Cao Ngọc T và bà Cao Thị H nên quan hệ pháp luật có tranh chấp thuộc “Tranh chấp hợp đồng dân sự” quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn cư trú tại: Xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai nên Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa nhưng đã vắng mặt lần thứ 2, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sựđồng xét xử giải quyết vụ án vắng mặt bị đơn

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Căn cứ lời trình bày của nguyên đơn; các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định:

Theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 0425/18/HĐTDHM-CN/170 ngày 28/6/2018; Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 0425/18/HĐTDHM-CN/170/KUNN03 ngày 19/6/2020, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H đã cho ông T, bà H vay số tiền 150.000.000 đồng, giải ngân tiền vay vào ngày

19/6/2020. Các bên thỏa thuận thời hạn cho vay là 12 tháng. Lãi suất vay theo thỏa thuận lãi trong hạn là 12,5%/năm cố định 03 tháng đầu, được điều chỉnh 3 tháng/lần; lãi quá hạn 150% lãi trong hạn; lãi chậm trả 10%/năm. Phương thức trả nợ: Trả nợ gốc khi đến hạn là ngày 19/6/2021; trả tiền lãi 06 tháng/lần vào ngày 19 của tháng sau cùng.

[3] Khi ký kết hợp đồng, các bên đều đủ điều kiện về chủ thể tham gia hợp đồng, ý chí hoàn toàn tự nguyện, hợp đồng được lập bằng văn bản có công chứng theo quy định của pháp luật nên có hiệu lực, các bên phải có trách nhiệm thực hiện quyền và nghĩa vụ đã cam kết tại hợp đồng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông T và bà H đã không thực hiện được việc trả tiền gốc và lãi cho Ngân hàng nên ông T và bà H đã vi phạm cam kết thỏa thuận về nghĩa vụ trả tiền vay trong hợp đồng. Tại Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ, tài sản bảo đảm tiền vay theo hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm và quy định của pháp luật. Việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, mua bán nợ của tổ chức tín dụng thực hiện theo quy định của Ngân hàng N1”. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán tiền vay là có căn cứ để chấp nhận.

[4] Tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm, ông T và bà H còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là 149.999.994 đồng; lãi trong hạn là là 7.858.341 đồng; lãi quá hạn và lãi chậm trả là 80.753.212 đồng. Do đó, ông T và bà H phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành Phố H tổng số ti ền là 238.611.547 đồng.

Ngoài ra, Căn cứ Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sở thẩm thì bị đơn còn phải tiếp tục trả lãi chậm trả cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

[5] Về xử lý tài sản thế chấp:

Tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0425/18/HĐBĐ-170 ngày 28/6/2018, bị đơn đã thế chấp cho nguyên đơn tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của Thửa đất số 66, tờ bản đồ số 87 tại xã I, huyện I, tỉnh Gia

Lai, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 602074 ngày 25/8/2014.

Xét hợp đồng thế chấp được các bên lập bằng văn bản, được công chứng theo quy định của pháp luật; chủ thể ký kết hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; ý chí đều tự nguyện, không bị ép buộc; mục đích và nội dung của hợp đồng thế chấp nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên vay tiền tại hợp đồng tín dụng; việc thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Cơ quan có thẩm quyền nên hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật. Bên thế chấp cam kết toàn bộ tài sản thế chấp thuộc quyền quản lý, sử dụng của bên thế chấp. Khi Tòa án tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ, mặc dù bị đơn đã được Tòa án tống đạt quyết định, thông báo nhưng bị đơn không có mặt để tham gia, không phản đối yêu cầu của nguyên đơn về xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Do đó, trường hợp bị đơn không trả được nợ thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản đã nhận thế chấp để thu hồi nợ là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 299, khoản 1 Điều 319, khoản 7 Điều 323 Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên căn cứ Điều 157 và Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 6.000.000 đồng.

[7] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm là 11.930.577 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26; Điều 35; Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 147; Điều 157 và Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 275, 280, 292, 293, 295, 298, 299, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 351, 463, 465, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Điều

26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành Phố H.

- Về nghĩa vụ thanh toán: Buộc ông Cao Ngọc T và bà Cao Thị H phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành Phố H số tiền 238.611.547 đồng. Bao gồm: Nợ gốc là 149.999.994 đồng; lãi trong hạn 7.858.341 đồng; lãi quá hạn và lãi chậm trả là 80.753.212 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

- Về xử lý tài sản bảo đảm: Trường hợp ông Cao Ngọc T và bà Cao Thị H không thanh toán được các khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành Phố H có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ, bao gồm:

Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của Thửa đất số 66, tờ bản đồ số 87 tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 602074 ngày 25/8/2014.

2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Cao Ngọc T và bà Cao Thị H phải liên đới trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 6.000.000 đồng.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Cao Ngọc T và bà Cao Thị H phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là 11.930.577 đồng.

Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành Phố H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.750.015 đồng. Theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0009588, ngày 04/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

5. Về thi hành án: Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND huyện Ia Grai;
  • - Chi cục THADS huyện Ia Grai;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 42/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Ngân hàng HD Bank - Thái, Hằng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger