Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LA GI

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

----------

Bản án số: 42/2024/HS-ST.

Ngày: 25-4-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Biện Việt Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Võ Thanh Đức.

2. Ông Nguyễn Văn Quang.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Song Yến – Thư ký Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Nhật - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thị xã L, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai (Hình thức trực tuyến) vụ án hình sự thụ lý số 25/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN TRƯỜNG S1, sinh năm 1971 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Nơi ở hiện tại: Khu phố E, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Lao động biển; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L (Đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ (Đã chết); Có vợ Hoàng Thị Ngọc Á và 03 con chung; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 28/6/2005, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án số 109/2005/HSST. Ngày 03/02/2010, chấp hành xong hình phạt tù, hiện đã xóa án tích; Ngày 10/3/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xử phạt 11 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án số 13/2011/HSST. Ngày 07/11/2017, chấp hành xong hình phạt tù, hiện đã xóa án tích; Bị cáo bị tạm giữ ngày 12/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã L. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Phạm Ngọc L1, sinh năm: 1973; (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Khu phố A, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận;

* Người tham gia tố tụng khác: Ông Vũ Thọ L2 – Cán bộ Nhà tạm giữ thuộc Công an thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 11/01/2024, ông Phạm Ngọc L1, sinh năm: 1973, dựng 01 xe mô tô hiệu Angle màu xanh, BKS: 86K9-2589 tại phía sau cây dầu T thuộc khu phố A, phường P, thị xã L để đi làm, trong cốp xe có 01 ví da màu đen đã cũ rách, bên trong ví có 01 giấy đăng ký xe và số tiền 520.000 đồng, ngoài ra ở hộc bên dưới cốp xe còn có số tiền 2.350.000 đồng. Đến khoảng 10 giờ 20 phút cùng ngày, Nguyễn Trường S1, sinh năm: 1971, điều khiển xe mô tô BKS: 86K8-8214 đi đến phía sau cây dầu T thuộc khu phố A, phường P, thị xã L để xin đi biển thì thấy xe mô tô BKS: 86K9-2589 của ông Phạm Ngọc L1 đang dựng không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định này, S1 đi đến đút chìa khóa xe của S1 vào xe mô tô của ông L1 thì mở được khóa nên S1 điều khiển xe chạy về đường N thuộc phường T, thị xã L để tẩu thoát. Trên đường N, S1 dừng lại mở cốp xe kiểm tra thì thấy bên trong có 01 ví da chứa giấy đăng ký xe và số tiền 520.000 đồng, S1 không phát hiện số tiền 2.350.000 đồng bên dưới cốp xe. Sau đó, S1 mở ví lấy giấy đăng ký xe và số tiền 520.000 đồng, vứt ví da xuống đường rồi điều khiển xe đi đến khu vực ngã tư Q, thị xã L. Tại đây, S1 gọi cho 01 người thu mua phế liệu được lưu sẵn trong điện thoại của S1 là Vi Văn C, sinh năm: 1991, (Cư trú: khu phố E, phường P, thị xã L) đến ngã tư Q gặp và bán xe mô tô BKS: 86K9-2589 cho Chôồng với giá 1.200.000 đồng. Số tiền có được sau khi bán xe, S1 làm mất và tiêu xài cá nhân hết, chỉ còn lại 130.000 đồng. Sau khi mua xe BKS: 86K9-2589 từ S1, C bán xe này lại cho Nguyễn Văn P, sinh năm: 1975, (Cư trú: khu phố E, phường P, thị xã L) với giá 2.400.000 đồng, cả P và C đều không biết do mô tô BKS: 86K9-2589 là tài sản trộm cắp và không biết bên dưới cốp xe có số tiền 2.350.000 đồng.

Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, ông Phạm Ngọc L1 phát hiện xe mô tô BKS: 86K9-2589 bị mất nên trình báo đến chính quyền địa phương. Qua trích xuất camera an ninh, đến ngày 12/01/2024, Công an phường P làm việc với Nguyễn Trường S1 thì S1 thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân. Công an phường P thu giữ từ Nguyễn Trường S1 số tiền 130.000 đồng và 01 xe mô tô BKS: 86K8-8214, 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh, 01 áo sơ mi dài tay màu xanh, 01 quần tây màu đen là tài sản, trang phục của S1 khi thực hiện hành vi trộm cắp; đồng thời thu giữ từ Nguyễn Văn P 01 xe mô tô BKS: 86K9-2589, 01 giấy đăng ký xe và số tiền 2.350.000 đồng bên dưới cốp xe. Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an thị xã L ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Trường S1 để xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với 01 ví da màu đen, ngày 12/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã L đã tiến hành truy tìm tại đoạn đường N thuộc phường T, thị xã L nhưng không tìm thấy. Qua làm việc, ông Phạm Ngọc L1 xác định ví da này của ông mua về sử dụng đã lâu, không có hóa đơn chứng từ, hiện tại đã cũ, bong tróc, rách nát nhiều nơi, không còn giá trị sử dụng nên ông L1 không yêu cầu định giá cũng như bồi thường về ví da này.

Tại Kết luận định giá tài sản số 06/KL-ĐGTS ngày 16/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã L kết luận: 01 xe mô tô hiệu Angle, màu xanh, số máy VMVA1C-D005926, số khung GXB10AD4D005926, BKS: 86K9-2589, đăng ký lần đầu ngày 21/12/2004, đã qua sử dụng, còn hoạt động; Có giá trị là: 3.000.000 đồng.

Vật chứng đã xử lý tại quá trình điều tra:

- 01 xe mô tô BKS: 86K9-2589, 01 giấy đăng ký xe và số tiền 2.350.000 đồng đã trả lại cho bị hại Phạm Ngọc L1 vào ngày 25/01/2024.

- Số tiền 130.000 đồng đã trả lại cho ông Vi Văn C vào ngày 23/02/2024.

- Đối với 01 xe mô tô BKS: 86K8-8214 thu giữ từ Nguyễn Trường S1, xác minh qua BKS: 86K8-8214 thì xe có số khung: VDCDCG034UM004971, số máy: VUMDCYG150FMG4P104971, S1 khai nhận mua xe mô tô từ người khác nhưng không có giấy tờ mua bán, quá trình sử dụng do lốc máy bị hư nên S1 đã thay đổi lốc máy khác có số máy: VLF1P50FMG-3*30019452*. Qua điều tra xác định xe mô tô trên không có giấy tờ đăng ký, chưa rõ nguồn gốc nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã L đã nhập kho vật chứng và tiếp tục điều tra, làm rõ để xử lý sau.

- 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh, 01 áo sơ mi dài tay màu xanh, 01 quần tây màu đen hiện đang được Chi cục thi hành án dân sự thị xã La Gi quản lý.

Tại bản cáo trạng số 31/CT-VKSLG-HS ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân thị xã L đã truy tố bị cáo Nguyễn Trường S1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Trường S1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi giữ quyền công tố, tranh luận và phát biểu quan điểm xử lý vụ án như sau:

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trường S1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trường S1 từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bị trộm cắp, bị hại Phạm Ngọc L1 không có yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự; Ông Vi Văn C và ông Nguyễn Văn P đã tự thỏa thuận và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên đề nghị không xét

Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh, 01 áo sơ mi dài tay màu xanh, 01 quần tây màu đen là tài sản riêng của S1 và S1 có đề nghị nhận lại nên đề nghị trả lại cho bị cáo;

Đối với Vi Văn C và Nguyễn Văn P, quá trình điều tra xác định C và P không biết xe mô tô BKS: 86K9-2589 là do Nguyễn Trường S1 trộm cắp mà có, nên không xem xét xử lý.

Đối với 01 xe mô tô BKS: 86K8-8214 thu giữ từ Nguyễn Trường S1, xác minh qua BKS: 86K8-8214 thì xe có số khung: VDCDCG034UM004971, số máy: VUMDCYG150FMG4P104971, S1 khai nhận mua xe mô tô từ người khác nhưng không có giấy tờ mua bán, quá trình sử dụng do lốc máy bị hư nên S1 đã thay đổi lốc máy khác có số máy: VLF1P50FMG-3*30019452*. Qua điều tra xác định xe mô tô trên không có giấy tờ đăng ký, chưa rõ nguồn gốc nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã L đã nhập kho vật chứng và tiếp tục điều tra, làm rõ để xử lý sau.

Tại phiên tòa bị cáo S1 xác định cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là không sai và không tranh luận gì và đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tung: Cơ quan điều tra Công an thị xã L và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, theo hồ sơ đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không thắc mắc, khiếu nại về những hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa vắng mặt bị hại. Xét thấy bị hại vắng mặt nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị cáo bị truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt cao nhất đến 03 năm tù, thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự. Tội phạm được thực hiện tại địa bàn thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 268 và khoản 1 Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

[3] Về căn cứ buộc tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và qua tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 10 giờ 20 phút ngày 11/01/2024, tại phía sau cây dầu T thuộc khu phố A, phường P, thị xã L, Nguyễn Trường S1 có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô BKS: 86K9-2589 của ông Phạm Ngọc L1, trong cốp xe có số tiền 2.870.000 đồng. Qua định giá, xe mô tô BKS: 86K9-2589 có trị giá 3.000.000 đồng, tổng giá trị tài sản Nguyễn Trường S1 lén lút chiếm đoạt của ông Phạm Ngọc L1 là 5.870.000 đồng. Sau khi phát hiện bị mất tài sản, ông L1 trình báo đến chính quyền địa phương. Ngày 12/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã L bắt giữ S1 để xử lý theo quy định pháp luật. Hành vi nêu trên của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của người khác, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận đã truy tố đối với bị cáo S1 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người đã trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo ý thức được quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, thế nhưng vì muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài mà không phải bằng còn đường lao động chân chính nên bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản, thỏa mãn nhu cầu vật chất cá nhân, bất chấp pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.

Trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và mức hình phạt do đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần phải xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để trừng trị, giáo dục bị cáo biết ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, đồng thời giáo dục những người khác biết tôn trọng pháp luật, tích cực tham gia phòng, chống tội phạm.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bị trộm cắp, bị hại Phạm Ngọc L1 không có yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự; Ông Vi Văn C và ông Nguyễn Văn P đã tự thỏa thuận và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.

[7] Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh, 01 áo sơ mi dài tay màu xanh, 01 quần tây màu đen là tài sản riêng của S1 và S1 có đề nghị nhận lại nên trả lại cho bị cáo; Đối với 01 xe mô tô BKS: 86K8-8214 thu giữ từ Nguyễn Trường S1, xác minh qua BKS: 86K8-8214 thì xe có số khung: VDCDCG034UM004971, số máy: VUMDCYG150FMG4P104971, S1 khai nhận mua xe mô tô từ người khác nhưng không có giấy tờ mua bán, quá trình sử dụng do lốc máy bị hư nên S1 đã thay đổi lốc máy khác có số máy: VLF1P50FMG-3*30019452*. Qua điều tra xác định xe mô tô trên không có giấy tờ đăng ký, chưa rõ nguồn gốc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã L đã nhập kho vật chứng và tiếp tục điều tra, làm rõ để xử lý sau nên Hội đồng xét xử tiếp tục giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã L quản lý, xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Về các vấn đề khác: Đối với Vi Văn C và Nguyễn Văn P, quá trình điều tra xác định C và P không biết xe mô tô BKS: 86K9-2589 là do Nguyễn Trường S1 trộm cắp mà có, nên không xem xét xử lý nên Hội đồng xét xử không xét

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trường S1 phạm tội “Trộm cắp tài sản ”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trường S1 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày từ ngày bị tạm giữ là ngày 12/01/2024.

Về xử vật chứng:

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh, 01 áo sơ mi dài tay màu xanh, 01 quần tây màu đen cho bị cáo theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 02 tháng 02 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã L và Chi Cục thi hành án dân sự thị xã La Gi. Đối với 01 xe mô tô BKS: 86K8-8214 tiếp tục giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã L quản lý, xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Trường S1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Quyền kháng cáo bản án của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/4/2024); Của bị hại vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận;
  • - Công an thị xã La Gi;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục thi hành án dân sự thị xã La Gi;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Biện Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trường S phạm tội “Trộm cắp tài sản ”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trường S 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày từ ngày bị tạm giữ là ngày 12/01/2024. Về xử vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh, 01 áo sơ mi dài tay màu xanh, 01 quần tây màu đen cho bị cáo theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 02 tháng 02 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã La Gi và Chi Cục thi hành án dân sự thị xã La Gi. Đối với 01 xe mô tô BKS: 86K8-8214 tiếp tục giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã La Gi quản lý, xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger