|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2024/HS-ST
Ngày 25 tháng 4 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đức.
-
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Phương và ông Phạm Phước Cường.
-
- Thư ký phiên toà: Ông Đoàn Quốc Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc.
-
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lý Chí Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Quách Thị Kim L (N), sinh năm 1990; nơi sinh: thị xã T, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C, sinh năm 1964 và bà Quách Thị N1, sinh năm 1965; chồng là Lê Bạch L1, sinh năm 1994; anh chị em ruột: bị cáo là người thứ nhất.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 12/10/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Võ Văn N2, sinh năm 1953, nơi cư trú: tổ A, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
- Nguyễn Văn P, sinh năm 1990, nơi cư trú: ấp V, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang;
-
- Trần Ngọc V, sinh năm 1977, nơi cư trú: tổ D, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang;
-
- Tăng Tấn H, sinh năm 1981, nơi cư trú: khóm H, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang;
-
- Dương Thị H1, sinh năm 1977, nơi cư trú: tổ D, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang;
-
- Lê Đức A, sinh năm 1975, nơi cư trú: khóm H, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang;
-
- Quách Thị N1, sinh năm 1965, nơi cư trú: Ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang;
-
- Nguyễn Chí N3, sinh năm 1990, nơi cư trú: tổ G, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang;
-
- Trần Thị Thanh T, sinh năm 1972, nơi cư trú: khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang;
-
- Trần Hoàng L2, sinh năm 1980, nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang;
-
- Phan Ngọc Tường V1, sinh năm 2009, nơi cư trú: tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.
Người đại diện hợp pháp của Phan Ngọc Tường V2: Phan Văn C1, sinh năm 1962; nơi cư trú: tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.
Người làm chứng: Lê Đức A, sinh năm 1975; Nguyễn Thị Kim S, sinh năm 1988.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Quách Thị Kim L và Võ Văn N2 quen biết nhau và biết N2 có nhiều tài sản nên L nảy sinh ý định chiếm đoạt. Để thực hiện hành vi, L chuẩn bị 06 viên thuốc ngủ. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 08/10/2023, L mang theo số thuốc này đến nhà N2 pha 01 ly cà phê sửa đá, để vào một lượng thuốc ngủ (tương đương 1/3 viên) và lấy 01 chai sting mang ra, đưa N2 ly cà phê sửa đá, An chai sting, cả hai tiếp tục vừa uống vừa nói chuyện. Khoảng 30 phút sau, do tác dụng của thuốc Nghì ngủ mê, L liền vào phòng Nghì lục lấy được 01 dây chuyền vàng 18 kara, gắn mặt dây chuyền vàng 18 kara, tổng trọng lượng 03 chỉ. Xong, L lấy xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại SH MODE, màu bạc đen, biển số 67E1-466.85 của N2, có gắn sẵn chìa khóa và giấy chứng nhận đăng ký xe chạy đi, nhờ Nguyễn Văn P đem xe đến tiệm cầm đồ của Trần Ngọc V cầm 20.000.000 đồng; còn dây chuyền và mặt dây chuyền, L mang đến tiệm vàng “Khánh H 2” bán cho Nguyễn Chí N3 số tiền 12.000.000 đồng. Đến khoảng 16 giờ ngày 10/10/2023, L điều khiển xe mô tô chở Phan Ngọc Tường V2 đến tiệm của V chuộc lại xe mô tô của N2, đem đến tiệm mua bán xe “Tuấn Phát”, khóm G, phường C, thành phố C bán cho Tăng Tấn H được 51.000.000 đồng; L mua lại của H 01 xe mô tô hiệu Vario, màu đỏ, biển số 67L2-616.31, giá 36.000.000 đồng, trả nợ cho Trần Hoàng L2 4.000.000 đồng; tiêu xài 7.000.000 đồng; còn lại 4.000.000 đồng, L cất giữ.
Ngày 12/10/2023, L đầu thú, giao nộp xe đã mua và số tiền 4.000.000 đồng còn lại.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Vario, biển số 67L2-616.31, màu đỏ; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 67000778, tên Hồ Thái N4; 01 áo vải nữ, dài tay màu xanh; 01 quần vải nữ, màu xanh; 01 áo khoác nữ dài tay, màu tím, trước áo có sọc màu đen (Quách Thị Kim L giao nộp); 01 thẻ ngân hàng V3, tên Quách Thị Kim L (đã trao trả cho Quách Thị Kim L); 01 ống nhựa trong suốt, có nắp vận bằng kim loại màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng (đã hủy); 01 xe mô tô hiệu Honda, loại SH MODE, biển số 67E1-466.85; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 67002395, tên Huỳnh Thị Thu N5; 01 viên đá hình con Tỳ Hưu, màu đen (đã trao trả cho Võ Văn N2); tiền 15.000.000 đồng (do Quách Thị Kim L, Quách Thị N1, Trần Hoàng L2 giao nộp; bàn giao Cơ quan Thi hành án dân sự); 01 giấy bán xe mô tô, biển số 67E1-466.85; 01 giấy bán xe mô tô, biển số 67L2-616.31, người mua Quách Thị Kim L (Tăng Tấn H giao nộp); 01 hợp đồng cầm cố tài sản xe mô tô biển số 67E1-466.85 (Trần Ngọc V giao nộp); 01 đĩa DVD lưu trữ diễn biến vụ án (lưu hồ sơ vụ án).
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 734/KL-ĐG ngày 16/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, ghi nhận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH MODE màu bạc - đen, biển số 67E1-466.85, trị giá 51.000.000 đồng; 01 dây chuyền vàng 18 kara, kiểu móc xích, gắn mặt dây chuyền vàng 18 kara hình con Tùy Hưu, tổng trọng lượng 03 chỉ, trị giá 10.920.000 đồng. Tổng trị giá 61.920.000 đồng
Căn cứ Kết luận giám định chất độc số 1266/1528/23/KLGĐĐC-PYQG ngày 17/10/2023 của P1 tại thành phố Hồ Chí Minh – V4, ghi nhận: Chất bột màu trắng do Quách Thị Kim L giao nộp, có tìm thấy B.
Căn cứ Kết luận giám định chất độc số 1124/1338/23/KLGĐĐC-PYQG ngày 18/10/2023 của P1 tại thành phố Hồ Chí Minh – V4, ghi nhận: Trong máu của Võ Văn N2, có tìm thấy B.
Căn cứ công văn số 33 ngày 04/3/2024 của P1 tại thành phố Hồ Chí Minh – V4, ghi nhận: Bromazepam là thuốc an thần, gây ngủ thuộc nhóm Benzodiazepin
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam Quách Thị Kim L, để điều tra xử lý;
Cáo trạng số 20/CT-VKSCĐ-HS ngày 21 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát đã truy tố Quách Thị Kim L về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d, đ, e khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự,
Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận do cần tiền tiêu sài, nên đã thực hiện hành vi phạm tội, như nội dung vụ án.
Tại phiên tòa,
Bị cáo Kim L thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, khẳng định cáo trạng số 20/CT-VKSCĐ-HS ngày 21/3/2024 của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Quách Thị Lim L3 về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d, đ, e khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, nên giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt chính: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d, đ, e khoản 2 Điều 168, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Quách Thị Kim L từ 09 (chín) đến 10 (mười) năm tù về tội “Cướp tài sản”.
Về hình phạt bổ sung, do bị cáo không có nghề nghiệp nên đề nghị không áp dụng.
Về xử lý vật chứng:
-
- Trả cho ông H xe mô tô hiệu Honda, loại Vario, biển số 67L2-616.31, màu đỏ; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 67000778, tên Hồ Thái N4;
-
- 01 thẻ ngân hàng V3, tên Quách Thị Kim L; 01 xe mô tô hiệu Honda, loại SH MODE, biển số 67E1-466.85; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 67002395, tên Huỳnh Thị Thu N5; 01 viên đá hình con Tỳ Hưu, màu đen đã giao trả chủ sở hữu là phù hợp không đề cập xử lý;
-
- Đối với số tiền 15.000.000 đồng (do Quách Thị Kim L, Quách Thị N1, Trần Hoàng L2 giao nộp), xét cần giao trả H;
-
- Đối với 01 áo vải nữ, dài tay màu xanh; 01 quần vải nữ, màu xanh; 01 áo khoác nữ dài tay, màu tím, trước áo có sọc màu đen; 01 ống nhựa trong suốt, có nắp vận bằng kim loại màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;
-
- Đối với 01 giấy bán xe mô tô, biển số 67E1-466.85; 01 giấy bán xe mô tô, biển số 67L2-616.31, người mua Quách Thị Kim L (Tăng Tấn H giao nộp); 01 hợp đồng cầm cố tài sản xe mô tô biển số 67E1-466.85 và 01 đĩa DVD lưu trữ diễn biến vụ án, xét tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại đã nhận lại tài sản và tiền bồi thường, người liên quan Trần Ngọc V, Nguyễn Chí N3 không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền đã giao dịch nên không đề cập xem xét giải quyết.
Về các vấn đề khác:
-
- Đối với: Bị hại N2 bị đã nhận lại tài sản và tiền bồi thường, không yêu cầu gì thêm; Nghì không bị thương tích, sức khỏe vẫn bình thường, từ chối giám định, xin giảm nhẹ hình phạt cho L.
-
- Đối với: H yêu cầu nhận lại xe và khoản tiền giao dịch với L và tại phiên tòa bị cáo chấp nhận là phù hợp, xét chấp nhận.
-
- Đối với: Lê Đức A, Nguyễn Văn P, Phan Ngọc Tường V2 có hành vi chở và cùng Quách Thị Kim L đi cầm và bán xe; Trần Ngọc V, Nguyễn Tấn H2, Nguyễn Chí N3 có hành vi cầm cố và mua xe, vàng do L bán, không biết tài sản do phạm tội mà có, tuy không xử lý nhưng cần giáo dục công khai tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại, người làm chứng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa và đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định vẫn tiến hành xét xử.
Về nội dung:
[3] Tại phiên tòa,
Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, bị cáo L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố; bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng, xin giảm nhẹ hình phạt;
Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của bị hại, người tham gia tố tụng khác, vật chứng vụ án cùng các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra và thẩm tra công khai tại phiên tòa, có căn cứ xác định: Quách Thị Kim L đã có hành vi dùng thủ đoạn nguy hiểm cho Võ Văn N2 là người cao tuổi (trên 70 tuổi), già yếu uống thuốc ngủ, đã chiếm đoạt tài sản của N2, tổng trị giá 61.920.000 đồng;
Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi dùng thuốc ngủ, nếu liều lượng cao sẽ ảnh hưởng đến tính mạng của bị hại nhưng vẫn cố ý thực hiện và đã chiếm đoạt được tài sản của bị hại; hành vi của bị cáo đã xâm phạm đền quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại N2 là người cao tuổi (trên 70 tuổi). Do đó cáo trạng số 20/CT-VKSCĐ-HS ngày 21/3/2023 của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d, đ, e khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội phù hợp với quy định của pháp luật.
Quyền sở hữu của mỗi cá nhân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Trong lĩnh vực hình sự, những ai vì muốn xâm phạm quyền sở hữu của người khác, đáp ứng quy định của pháp luật sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất là hình phạt. Bị cáo là người đang ở tuổi lao động. Đáng lẽ, bị cáo phải tìm cho mình một công việc phù hợp để nuôi sống bản thân, giúp ích cho gia đình nhưng vì muốn có tiền tiêu xài, bị cáo đã dùng thuốc ngủ để bị hại không thể chống cực được nhằm chiếm đoạt tài sản. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu, an toàn về sức khỏe của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang cho những người dân sống xung quanh nơi xảy ra sự việc.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự, học lực thấp, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại; tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo trong khi lượng hình.
[5] Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và tiền bồi thường, người liên quan Trần Ngọc V, Nguyễn Chí N3 không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền đã giao dịch nên không đề cập xem xét giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng: Xét thấy, đề nghị của Kiểm sát viên, giữ quyền công tố tại phiên tòa là có cơ sở, nên được chấp nhận;
[8] Các vấn đề khác:
Đối với: Lê Đức A, Nguyễn Văn P, Phan Ngọc Tường V2 có hành vi chở và cùng Quách Thị Kim L đi cầm và bán xe; Trần Ngọc V, Nguyễn Tấn H2, Nguyễn Chí N3 có hành vi cầm cố và mua xe, vàng do L bán, không biết tài sản do phạm tội mà có, tuy không xử lý nhưng cần giáo dục công khai tại phiên tòa.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Quách Thị Kim L phạm tội “Cướp tài sản”
Căn cứ điểm d, đ, e khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Quách Thị Kim L 09 (chín) năm tù;
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt 12/10/2023 (ngày mười hai, tháng mười, năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015;
-
- Trả ông Tăng Tấn H 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, màu đỏ, loại xe Vario, biển số 67L2-616.31, số máy: JM51E1747485, số khung: MH1JM5113MK748551, đã qua sử dụng;
-
- Trả lại cho ông Tăng Tấn H 01 giấy chứng nhận đăng ký xe moto, xe gắn máy số: 67000778, tên chủ xe Hồ Thái N4, biển số đăng ký 67L2-616.31, đã qua sử dụng;
-
- Ông Tăng Tấn H được nhận số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) theo Giấy nộp tiền số 25096937 ngày 08/5/2024;
-
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 áo vải nữ, dài tay màu xanh, đã qua sử dụng; 01 quần vải nữ, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 áo khoác nữ dài tay, màu tím, trước áo có sọc màu đen đã qua sử dụng.
-
(Theo biên bản giao vật chứng ngày 18/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).
-
- Tiếp tục lưu giữ hồ sơ vụ án 01 hợp đồng cầm cố tài sản xe mô tô biển số 67E1-466.85 và 01 đĩa DVD lưu trữ diễn biến vụ án.
3. Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Quách Thị Kim L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại Nghì có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Trần Văn Đức |
Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về cướp tài sản
- Số bản án: 42/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp tài sản
